Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử và định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Một số tài liệu sớm nhất miêu tả khí phế thũng là sự căng phồng của phổi (Bonet 1679, Morgagni 1769). Badham (1814) đã sử dụng từ bệnh nhiều đờm (Catarrh) để chỉ cho ho mạn tính và đờm nhầy là những triệu chứng chính. Laenec (1821) đã mô tả mối liên quan giữa khí phế thũng và viêm phế quản mạn tính.
John Hutchinson đã phát minh ra máy hô hấp ký, là chìa khoá để chẩn đoán BPTNMT, tuy nhiên hồi đó còn ít được sử dụng, phải 100 năm sau Tiffeneau thêm khái niệm đo luồng khí thở theo thời gian và máy hô hấp ký mới là dụng cụ để chẩn đoán. Gaensler đưa ra khái niệm về FEV1 và FEV1/FVC phần trăm (Gaensler 1950, 1951). Barach và Bickerman (1956) đã biên soạn cuốn sách đầu tiên về bệnh khí phế thũng và mô tả biện pháp điều trị thời bấy giờ. Hai cuộc họp quan trọng: Hội nghị chuyên đề CIBA (1959) và ATS (1962) đã thống nhất đưa ra định nghĩa viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng.
William Briscoe được cho là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "COPD" tại hội nghị khí phế thũng Aspen lần thứ 9 [169]. - Viêm phế quản mạn tính được định nghĩa là tình trạng ho khạc đờm kéo dài liên tục ít nhất 3 tháng trong 1 năm và ít nhất trong hai năm liên tiếp. - Khí phế thũng (Emphysema) là tình trạng căng giãn bất thường và vĩnh viễn của các khoảng chứa khí tận cùng của các tiểu phế quản tận, kèm theo sự phá hủy các vách phế nang. Viện Huyết học, Tim mạch, Hô hấp Hoa Kỳ (National Heart, Lung and Blood Institute - NHLBI) phối hợp với WHO đề ra chương trình khởi động toàn cầu về phòng chống BPTNMT viết tắt là GOLD.
Định nghĩa của GOLD 2001: BPTNMT là một tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự giảm lưu lượng 4 thở không hồi phục. Sự giảm lưu lượng thở này thường tiến triển và đi kèm đáp ứng viêm bất thường của phổi với các chất và khí độc hại [126]. Từ đó GOLD thường xuyên cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị BPTNMT. GOLD 2014 định nghĩa BPTNMT là bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở, tiến triển nặng dần, liên quan tới phản ứng viêm bất thường ở đường hô hấp bởi các phần tử và khí độc hại [70].
GOLD 2017 định nghĩa BPTNMT là một bệnh thường gặp, dự phòng và điều trị được, có đặc điểm là triệu chứng hô hấp và giới hạn luồng khí dai dẳng do bất thường ở đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tử hoặc khí độc [72]. Dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Dịch tễ học là nghiên cứu sự phân bố và các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe hoặc những sự kiện trong những quần thể riêng biệt nhằm phòng và kiểm soát những vấn đề sức khỏe. Dịch tễ học không chỉ quan tâm đến tình trạng chết, bệnh tật, tàn phế mà còn quan tâm nhiều hơn tới những khía cạnh tốt của sức khỏe và các biện pháp để nâng cao sức khỏe [146]. Nghiên cứu dịch tễ học BPTNMT thường là nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn để thu thập thông tin về các triệu chứng hô hấp và tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ.
Các bảng câu hỏi thường mô tả các triệu chứng hô hấp đặc trưng của BPTNMT như: ho, khạc đờm, khó thở và tiền sử mắc các bệnh hô hấp, tiền sử hút thuốc. Các bảng câu hỏi dần được chuẩn hoá để sử dụng trong điều tra dịch tễ học về các bệnh hô hấp, gồm có bảng câu hỏi về các triệu chứng hô hấp ở người trưởng thành của Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (1978); bảng câu hỏi về các triệu chứng hô hấp của Cộng đồng Than - Thép Châu Âu (European Community for Coal and Steel - ECSC) và bảng câu hỏi về các bệnh hô hấp của WHO - 1986. Bảng câu hỏi gần đây nhất 5 của ECSC được sửa đổi năm 1987 [26]. Số liệu thu được từ các nghiên cứu về dịch tễ học BPTNMT thường thấp hơn so với thực tế vì các nghiên cứu có thể bỏ sót những người mắc bệnh ở giai đoạn sớm do họ chưa biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt.
Bản hướng dẫn của GOLD (2003) đề nghị lấy tiêu chuẩn chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) sau test hồi phục phế quản < 70% để chẩn đoán xác định và dựa vào mức độ của chỉ số FEV1% để phân loại giai đoạn BPTNMT. Năm 2004 ERS và ATS cũng đã chấp nhận tiêu chuẩn này [36]. Hiện nay chẩn đoán BPTNMT chủ yếu vẫn dựa trên tiêu chuẩn của GOLD, chỉ số FEV1% dùng để phân loại mức độ tắc nghẽn, tuy nhiên phân chia theo giai đoạn ABCD của BPTNMT được thay đổi mới nhất theo GOLD 2017 để khắc phục những hạn chế của các bản phân chia giai đoạn trước đó [72]. Nghiên cứu dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới R.
Halbert (2006) đã tiến hành tổng hợp các nghiên cứu về dịch tễ học BPTNMT dựa trên những bài báo đã được đăng tải trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2004 gồm có 37 nghiên cứu về tỷ lệ mắc BPTNMT tại 28 quốc gia trên thế giới. Qua phân tích, tác giả đã nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT khác nhau theo địa dư, phương pháp sử dụng để chẩn đoán, nhìn chung tỷ lệ mắc là 8,9% (2,1% - 26,4%) [149]. Nghiên cứu về gánh nặng của BPTNMT trong 11 nước gồm Úc, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.838 bài báo trong đó có 299 bài báo toàn văn, các dữ liệu được trích từ 133 bài viết. Tỷ lệ hiện mắc BPTNMT dao động từ 0,2% đến 37%; tỷ lệ mắc rất khác nhau giữa các nước và khu dân cư tùy thuộc vào phương pháp chẩn đoán và phân loại.
Tỷ lệ tử vong đã tăng lên trong 30 đến 40 năm qua. Gần đây tỷ lệ tử vong ở một số nước có xu hướng nam giới giảm, nữ giới ổn định hoặc tăng [42]. Graciane Laender Moreira nghiên cứu trong 9 năm tại São Paulo – Brazil, gồm có 613 người tham gia thấy tỷ lệ BPTNMT mới mắc từ 1,4% đến 4% tùy theo các tiêu chí chẩn đoán. Sự phù hợp giữa các têu chí dao động từ 35 - 60% [74].
Davis Wilson (2005) nghiên cứu thuần tập trên 2.501 người từ 18 tuổi trở lên có tiền sử hút thuốc ở Miền Nam Châu Úc nhận thấy tỷ lệ mắc BPTNMT thay đổi tùy thuộc và tiêu chuẩn chẩn đoán: ATS (5,4%); BTS (3,5%); ERS (5,0%); GOLD (5,4%) [49]. Sarah H Landis ước tính tỷ lệ hiện mắc và gánh nặng BPTNMT của 12 nước trên thế giới được xác thực qua sự sàng lọc một cách có hệ thống theo mẫu dân số. Tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 7 đến 12%; hầu hết tỷ lệ mắc ở các nước dao động trong khoảng từ 7% đến 9% [157]. Kokuvi Atsou thống kê 65 bài báo ở 21 quốc gia Châu Âu cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 2,1% đến 26,1% tùy theo từng nước [93].
Gershon nghiên cứu thuần tập ở Ontario–Canada thấy tổng số mắc BPTNMT từ 1996 đến 2007 tăng tới 64,8% [30]. Green thu thập số liệu qua mạng tại Canada của 444 bác sĩ trong 8 tỉnh cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 18 tuổi trở lên là 4% [113]. Ở New Brunswick – Canada, trong năm 2013-2014 có 4.450 trường hợp 35 tuổi trở lên mới mắc BPTNMT, cách đó một thập kỷ (2003-2004) có 4.320 ca mắc mới. Do tuổi thọ tăng nên tổng số ca mắc BPTNMT tiếp tục tăng, hiện nay ở đây có khoảng 57.340 trường hợp 35 tuổi trở lên mắc BPTNMT, tăng 45% so với thập kỷ trước [125].
7 Natalie Terzikhan (2016) nghiên cứu thuần tập tương lai tại Hà Lan với 14.619 đối tượng từ 45 tuổi trở lên tham gia vào nghiên cứu cho thấy có 1.993 người mắc BPTNMT trong đó có 689 trường hợp đã được chẩn đoán và 1.304 người mới được chẩn đoán, tỷ lệ mới mắc khoảng 8,9/1. Vanfleteren LE nghiên cứu ở người 40 tuổi trở lên tại Maastricht, Hà Lan cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT chiếm 24%; nam 28,5%; nữ 19,5% [98]. Elena Adreeva (2015) nghiên cứu về tỷ lệ mắc BPTNMT ở Tây Bắc Liên Bang Nga (Saint Petersburg và Arkhangelsk) trên 3.133 người từ 35 đến 70 tuổi, có 2.974 người được đo CNTK trong đó 2.388 người được làm test hồi phục phế quản đã phát hiện 162 người bị tắc nghẽn đường thở và 130 người mắc BPTNMT [60]. Ivan P Artyukhov nghiên cứu ở vùng Krasnoyarsk, Nga năm 2011 ở các đối tượng 18 tuổi trở lên, sau khi phân tích tác giả cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 10,6/1.
Luis Verde-Remeseiro nghiên cứu ở Tây Ban Nha bằng cách thu thập thông tin những người mắc BPTNMT đã được đo bằng máy hô hấp ký từ mỗi đơn vị chăm sóc ban đầu, số người trên 39 tuổi mắc BPTNMT là 8.444 người, chiếm tỷ lệ 2,6% [99]. Bruscas Alijarde nghiên cứu 1.185 người từ 40 đến 75 tuổi ở Tây Ban Nha cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 10,4% (nam 16,9%; nữ 5,7%) trong đó có 78,9% trường hợp mắc BPTNMT chưa được chẩn đoán trước đó [40]. Bárbara nghiên cứu 710 người 40 tuổi trở lên ở Bồ Đào Nha cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 14,2%; tỷ lệ BPTNMT ở người hút thuốc trên 20 bao - năm (B-N) chiếm 27,4%; trong số người mắc bệnh có tới 86,8% chưa được chẩn đoán trước đó [41]. Cardoso khảo sát 17/18 tỉnh ở Bồ Đào Nha, tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên là 8,96% (năm 1995-1997); ở người 35-69 tuổi là 5,34% [81].
8 Danielsson P nghiên cứu 548 người 40 tuổi trở lên ở Uppsala, Thụy Điển thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 16,2% trong đó có 29% người bệnh đã được chẩn đoán trước đó [135]. Mirna Waked nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn lãnh thổ Lebanon cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT ở người 40 tuổi trở lên chiếm 9,7% [115]. Peder Fabricius (2011) nghiên cứu 5.299 người 35 tuổi trở lên ở Copenhagen - Đan Mạch, tỷ lệ mắc BPTNMT chiếm 17,4%; tỷ lệ gia tăng theo lứa tuổi và nam giới [139]. Badway (2016) nghiên cứu ở vùng Qena Governorate - Ai Cập trên 2.400 đối tượng 40 tuổi trở lên thấy tỷ lệ mắc BPTNMT là 6,6% [100].
Adeloye D (2015) nghiên cứu từ 243 đề tài ở Châu Phi trong đó có 13 nghiên cứu đạt tiêu chuẩn lựa chọn và chỉ có 5 nghiên cứu sử dụng máy đo hô hấp ký cho biết, tỷ lệ trung bình của người 40 tuổi trở lên mắc BPTNMT có đo hô hấp ký là 13,4%; không sử dụng hô hấp ký là 4%.