Tổng quan luận án

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý hô hấp thường gặp và có xu hướng gia tăng do sự già hóa dân số cùng sự gia tăng của các yếu tố nguy cơ môi trường và hành vi. Theo các số liệu thống kê được tác giả trích dẫn, năm 1990 tử vong do BPTNMT đứng hàng thứ 6 và được dự báo đến năm 2020 sẽ vươn lên vị trí thứ 3 trong các nguyên nhân tử vong toàn cầu. Ước tính năm 2016 trên thế giới có khoảng 251 triệu người mắc BPTNMT và năm 2015 có 3,17 triệu ca tử vong, trong đó 90% số ca tử vong tập trung ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Bệnh thường khởi phát sau tuổi 40, diễn biến âm thầm, triệu chứng lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh lý hô hấp khác dẫn đến tỷ lệ mắc chưa được chẩn đoán tại cộng đồng còn ở mức cao.

Tại Việt Nam, phần lớn các can thiệp về BPTNMT trước đây chủ yếu thực hiện trong môi trường bệnh viện. Kiến thức, thái độ của người dân cũng như thực hành kiểm soát bệnh tại cộng đồng nông thôn còn rất hạn chế. Đặc biệt, thành phố Hải Phòng có các vùng nông thôn trồng thuốc lào truyền thống với tỷ lệ phơi nhiễm khói thuốc cao. Do đó, luận án tiến hành nghiên cứu thực trạng dịch tễ học và triển khai mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) nhằm giải quyết khoảng trống trong phát hiện sớm và nâng cao năng lực tự quản lý bệnh tại tuyến y tế cơ sở.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 3 nội dung:

  1. Xác định tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng và xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015.
  2. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ của người dân và thực hành của người bệnh về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại xã Kiến Thiết và Kiền Bái từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 4 năm 2015.
  3. Đánh giá hiệu quả của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng sau một năm can thiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Người dân từ 40 tuổi trở lên sinh sống trên 5 năm tại địa bàn nghiên cứu, có đủ năng lực hành vi và đồng ý tham gia. Đối với can thiệp chuyên sâu, đối tượng là người bệnh được chẩn đoán xác định mắc BPTNMT.
  • Phạm vi không gian: Xã Kiến Thiết (huyện Tiên Lãng – địa bàn có tập quán canh tác, chế biến và sử dụng thuốc lào lâu đời) và xã Kiền Bái (huyện Thủy Nguyên – địa bàn thuần nông, chuyên canh lúa nước, không trồng cây thuốc lào), thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 12 năm 2016 (giai đoạn điều tra cắt ngang từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2015; giai đoạn can thiệp cộng đồng từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống các nghiên cứu dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh, gánh nặng bệnh tật và các can thiệp y tế công cộng về BPTNMT:

Về tình hình dịch tễ và gánh nặng bệnh tật trên thế giới:

  • R. Halbert (2006) tổng hợp 37 nghiên cứu tại 28 quốc gia (1990–2004) cho thấy tỷ lệ mắc BPTNMT dao động từ 2,1% đến 26,4% (trung bình 8,9%).
  • Davis Wilson (2005) khảo sát 2.501 người từ 18 tuổi trở lên tại Nam Úc ghi nhận tỷ lệ mắc dao động theo tiêu chuẩn: ATS (5,4%), BTS (3,5%), ERS (5,0%), GOLD (5,4%).
  • Sarah H. Landis phân tích tại 12 quốc gia ghi nhận tỷ lệ hiện mắc dao động từ 7% đến 12%. Kokuvi Atsou tổng hợp 65 công trình tại 21 nước châu Âu cho thấy tỷ lệ mắc từ 2,1% đến 26,1%.
  • Nghiên cứu của Elena Adreeva (2015) tại Nga, Badway (2016) tại Ai Cập (6,6%), Adeloye D. (2015) tại châu Phi (13,4% ở nhóm có đo hô hấp ký), Frederik Van Gemert (2015) tại Uganda (16,2%), nghiên cứu tại 7 tỉnh/thành của Trung Quốc ghi nhận 8,2% người từ 40 tuổi trở lên mắc bệnh.
  • Về gánh nặng chi phí và tử vong: Anthony J. Guarasico (2013) tại Mỹ ước tính chi phí năm 2010 là 50 tỷ USD; Kim J. (2015) tại Hàn Quốc ước tính chi phí xã hội năm 2013 là 439,9 triệu USD; Xiaocong Fang (2011) tại Trung Quốc và Ford (2015) tại Mỹ ghi nhận sự gia tăng tỷ lệ tử vong, đặc biệt ở nữ giới.

Về nghiên cứu dịch tễ tại Việt Nam:

  • Lê Thị Tuyết Lan (2003) và Hội Hô hấp Châu Á Thái Bình Dương xác định tỷ lệ mắc BPTNMT trung bình và nặng ở người trên 35 tuổi là 6,7%.
  • Ngô Quý Châu (2005, 2006) ghi nhận tỷ lệ mắc tại Hà Nội là 1,53% đến 3,2%; tại Hải Phòng ở người trên 40 tuổi là 5,65% (nam 7,91%, nữ 3,63%).
  • Phạm Huy Quyến khảo sát tại Tiên Lãng, Hải Phòng ghi nhận tỷ lệ mắc chung ở người từ 40 tuổi trở lên là 6,1% (nam 7,34%, nữ 4,91%).
  • Nguyễn Thị Xuyên (2010) báo cáo tỷ lệ mắc chung toàn quốc ở người từ 15 tuổi trở lên là 2,2% và ở nhóm từ 40 tuổi trở lên là 4,2% (khu vực miền Bắc là 5,7%).
  • Nhung Nguyen Viet (2015) nghiên cứu trên đối tượng không hút thuốc ghi nhận tỷ lệ mắc tại Việt Nam là 8,1%. Các nghiên cứu khác của Phan Thu Phương (Bắc Giang - 3,85%), Chu Thị Hạnh (công nhân Hà Nội - 3,0%), Hoàng Thị Lâm (Ba Vì, Hoàn Kiếm - 7,1%), Phùng Chí Lĩnh (Hưng Yên - 3,4% đến 3,6%).

Về kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) và can thiệp giáo dục sức khỏe:

  • Đinh Ngọc Sỹ ghi nhận 95,7% người dân chưa từng nghe tên bệnh BPTNMT. Peian Lou (2012) tại Trung Quốc ghi nhận 96,4% người bệnh chưa từng nghe nói về BPTNMT; Menezes A.M. (2015), Jae Yong Seo (2015) chỉ ra nhận thức của người hút thuốc về BPTNMT rất thấp.
  • Các can thiệp của Masaharu Asai (2013) tại Nhật Bản, Francisca Leiva-Fernández về hướng dẫn sử dụng dụng cụ hít, Manbinder S. Sidhu (2015) tại Anh, Trần Thị Thanh Thủy (2014) tại Hải Phòng đều chứng minh việc giáo dục trực tiếp và gián tiếp giúp cải thiện rõ rệt KAP và giảm tỷ lệ nhập viện.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Đa phần các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở mô tả cắt ngang tỷ lệ mắc hoặc can thiệp điều trị cục bộ trong bệnh viện. Luận án này giải quyết khoảng trống thực tiễn bằng việc so sánh dịch tễ giữa vùng canh tác thuốc lào và vùng thuần nông, đồng thời thiết kế và đánh giá mô hình can thiệp TTGDSK toàn diện kết hợp Câu lạc bộ BPTNMT trực tiếp tại cộng đồng xã nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán: Sử dụng định nghĩa và hướng dẫn của Chiến lược toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (GOLD 2001, GOLD 2003, GOLD 2014, GOLD 2017).
  • Tiêu chuẩn thăm dò chức năng thông khí (CNTK): Chẩn đoán xác định BPTNMT dựa trên đo chức năng hô hấp bằng máy hô hấp ký (Spirometry). Tiêu chuẩn xác định: chỉ số Gaensler ($FEV_1/FVC$) < 70% sau test hồi phục phế quản âm tính (chỉ số $FEV_1$ lần 2 tăng so với lần 1 dưới 200 ml và/hoặc tăng dưới 12%, hoặc không tăng).
  • Đánh giá giai đoạn và mức độ tắc nghẽn: Phân loại tắc nghẽn đường thở từ GOLD 1 đến GOLD 4 dựa trên tỷ lệ phần trăm $FEV_1$ so với trị số lý thuyết; phân nhóm A, B, C, D dựa trên phối hợp mức độ tắc nghẽn, thang điểm đánh giá khó thở mMRC (Modified British Medical Research Council), bảng câu hỏi lượng giá CAT (COPD Assessment Test) và tiền sử đợt cấp trong năm.
  • Khung lý thuyết truyền thông giáo dục sức khỏe: Áp dụng mô hình nâng cao Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) kết hợp các kênh truyền thông đại chúng (loa truyền thanh, tờ rơi, áp phích) và truyền thông trực tiếp (tư vấn nhóm, sinh hoạt Câu lạc bộ BPTNMT, hướng dẫn kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp tại nhà).

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp 2 thiết kế nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích: Điều tra dịch tễ học lâm sàng, đo CNTK và khảo sát KAP trên toàn bộ 5.220 người dân từ 40 tuổi trở lên tại 2 xã Kiến Thiết (2.540 người) và Kiền Bái (2.680 người) từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2015.
  2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng đánh giá trước – sau: Thực hiện can thiệp TTGDSK cho 2.206 người dân và 139 người bệnh BPTNMT tại xã Kiến Thiết từ tháng 12/2015 đến tháng 12/2016.
Nội dung phương pháp Chi tiết triển khai trong luận án
Cỡ mẫu điều tra cắt ngang 5.220 đối tượng ≥ 40 tuổi (Kiến Thiết: 2.540; Kiền Bái: 2.680).
Cỡ mẫu can thiệp 2.206 người dân và 139 người mắc BPTNMT tại xã Kiến Thiết.
Công cụ thu thập dữ liệu Máy đo chức năng thông khí Spirometry; Bộ câu hỏi dịch tễ ECSC/ATS/WHO chuẩn hóa; Bộ câu hỏi KAP; Thang điểm CAT; Thang khó thở mMRC; Bảng kiểm thực hành phục hồi chức năng hô hấp và dùng thuốc dạng hít.
Phương pháp can thiệp - Truyền thông gián tiếp: Hệ thống đài truyền thanh xã (phát bài truyền thông định kỳ), tờ rơi, áp phích, sổ tay hướng dẫn.
- Truyền thông trực tiếp: Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, tư vấn trực tiếp tại trạm y tế và hộ gia đình; thành lập Câu lạc bộ BPTNMT xã Kiến Thiết; hướng dẫn thực hành tập thở chúm môi, thở cơ hoành, ho có kiểm soát, vỗ rung lồng ngực và kỹ thuật sử dụng bình xịt/hít định liều (MDI, Turbuhaler, Accuhaler, Spiriva, khí dung).
Xử lý số liệu Phân tích thống kê y học; tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình; kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), t-test; phân tích hồi quy logistic đa biến xác định yếu tố nguy cơ; tính chỉ số hiệu quả (CSHQ).
Đạo đức nghiên cứu Đề tài thông qua hội đồng đạo đức Trường Đại học Y Dược Hải Phòng; có sự đồng thuận của chính quyền địa phương và giấy xác nhận tự nguyện tham gia của đối tượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu BPTNMT từ các mô tả ban đầu của Bonet (1679), Morgagni (1769), Badham (1814), Laennec (1821), phát minh hô hấp ký của John Hutchinson và hoàn thiện bởi Tiffeneau, Gaensler, Briscoe. Phân tích các định nghĩa BPTNMT theo các phiên bản của GOLD từ năm 2001 đến 2017.

Nội dung chương tổng quan chi tiết các khía cạnh:

  • Dịch tễ học và gánh nặng bệnh tật: Trình bày số liệu hiện mắc, mới mắc và tỷ lệ tử vong tại các châu lục và tại Việt Nam; phân tích gánh nặng qua chỉ số DALYs và chi phí y tế trực tiếp/gián tiếp.
  • Các yếu tố liên quan: Phân tích nhóm yếu tố ngoại sinh gồm khói thuốc (thuốc lá, thuốc lào, bao-năm), ô nhiễm không khí trong nhà (chất đốt sinh khối, than, củi), ô nhiễm không khí ngoài trời, khói bụi nghề nghiệp, nhiễm khuẩn hô hấp thời kỳ niên thiếu, khí hậu (nhiệt độ lạnh làm tăng đợt cấp) và điều kiện kinh tế - xã hội. Nhóm yếu tố nội sinh gồm thiếu hụt men $\alpha_1$-antitrypsin, tăng đáp ứng đường thở/hen phế quản, tuổi và giới tính.
  • Lâm sàng và chẩn đoán: Mô tả các triệu chứng cơ năng (ho, khạc đờm mạn tính, khó thở), thăm dò CNTK với các chỉ số $FEV_1, FVC, FEV_1/FVC, RV$, đường cong lưu lượng - thể tích; hướng dẫn sử dụng thang điểm CAT, mMRC và phân loại giai đoạn bệnh ABCD theo GOLD.
  • Cơ sở của can thiệp TTGDSK: Phân tích thực trạng thiếu hụt kiến thức BPTNMT trong cộng đồng và nhân viên y tế; tổng kết các mô hình truyền thông trực tiếp, gián tiếp, kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp và quản lý sử dụng thuốc giãn phế quản đường hít.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu tại 2 địa bàn huyện Tiên Lãng và Thủy Nguyên:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ được quy định nghiêm ngặt; quy trình khám sàng lọc lâm sàng và chỉ định đo CNTK bằng máy Spirometry được chuẩn hóa.
  • Thiết kế nghiên cứu dịch tễ cắt ngang trên 5.220 người dân và nghiên cứu can thiệp đánh giá trước – sau trên 2.206 người dân cùng 139 người bệnh BPTNMT tại xã Kiến Thiết.
  • Xây dựng công cụ: Bộ câu hỏi điều tra dịch tễ học, bộ câu hỏi đánh giá kiến thức và thái độ cho người dân, bộ câu hỏi phỏng vấn sâu và bảng kiểm thực hành kỹ thuật cho người bệnh BPTNMT (đánh giá kỹ thuật hít thuốc, kỹ thuật tập thở cơ hoành, thở chúm môi, kỹ thuật làm sạch đường thở).
  • Quy trình can thiệp: Phối hợp giữa Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Hải Phòng, Trung tâm Y tế và Trạm Y tế xã. Ban hành quyết định thành lập Câu lạc bộ BPTNMT tại xã Kiến Thiết, duy trì sinh hoạt định kỳ, phát thanh truyền thông qua hệ thống loa xã và tổ chức thăm khám, hướng dẫn tại nhà.
  • Các biện pháp khống chế sai số, phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê và các quy chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu phát hiện từ nghiên cứu thực địa:

  1. Tỷ lệ mắc và các yếu tố liên quan:
  • Tỷ lệ mắc BPTNMT chung tại 2 xã ở nhóm $\ge 40$ tuổi là 5,94% (310/5.220).
  • Xã Kiến Thiết (trồng thuốc lào) có tỷ lệ mắc là 6,97% (177/2.540), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với xã Kiền Bái (thuần nông) là 4,96% (133/2.680).
  • Tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn nữ giới; tỷ lệ mắc tăng dần theo nhóm tuổi (nhóm tuổi cao có tỷ lệ mắc cao nhất).
  • Phân tích hồi quy đa biến ghi nhận các yếu tố liên quan độc lập đến BPTNMT: tuổi cao, giới tính nam, tiền sử hút thuốc lá/thuốc lào (đặc biệt nhóm có số bao-năm cao), tiền sử mắc bệnh hô hấp, tình trạng tiếp xúc với khói bếp/chất đốt sinh khối và chỉ số khối cơ thể (BMI thấp).
  1. Thực trạng Kiến thức, Thái độ và Thực hành trước can thiệp:
  • Kiến thức của người dân về tên bệnh, nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng ngừa BPTNMT trước can thiệp còn rất thấp (đa số không nhận biết chính xác triệu chứng điển hình và chưa hiểu rõ tính chất không hồi phục hoàn toàn của tắc nghẽn đường thở).
  • Tỷ lệ người dân có thái độ đúng đắn khi bản thân hoặc người thân mắc bệnh hoặc khi tiếp xúc với khói thuốc còn hạn chế.
  • Ở nhóm người bệnh BPTNMT: Đa số chưa từng được chẩn đoán trước đó; thực hành sử dụng các dụng cụ hít/xịt giãn phế quản sai quy trình kỹ thuật; chưa nắm vững các bài tập phục hồi chức năng hô hấp cơ bản (thở chúm môi, thở hoành).
  1. Hiệu quả sau 1 năm can thiệp TTGDSK tại xã Kiến Thiết:
  • Cải thiện kiến thức và thái độ: Tỷ lệ người dân có kiến thức đúng về nguyên nhân, triệu chứng, diễn biến bệnh, biện pháp phòng chống và thuốc điều trị tăng lên rõ rệt so với trước can thiệp; thái độ đối với việc phát hiện sớm và phòng chống tác hại thuốc lá/thuốc lào có sự chuyển biến tích cực.
  • Cải thiện thực hành của người bệnh: Tỷ lệ người bệnh thực hành đúng kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít, tuân thủ dùng thuốc, thực hành đúng các bài tập thở chúm môi, thở hoành và các kỹ thuật tống đờm tăng cao so với trước can thiệp.
  • Cải thiện chỉ số lâm sàng và chức năng: Điểm đánh giá khó thở mMRC trung bình giảm, điểm lượng giá CAT trung bình giảm, số đợt cấp trung bình trong năm của người bệnh giảm rõ rệt. Các chỉ số chức năng thông khí ($FEV_1$, $FVC$) của người bệnh được duy trì ổn định, hạn chế tốc độ suy giảm chức năng hô hấp.
Nhóm chỉ số theo dõi Trước can thiệp Sau 1 năm can thiệp Chiều hướng thay đổi
Kiến thức đúng của người dân về BPTNMT Tỷ lệ đạt thấp ở các nội dung triệu chứng, nguyên nhân, phòng bệnh Tăng rõ rệt ở toàn bộ các nội dung điều tra Cải thiện có ý nghĩa
Thái độ đúng của người dân Tỷ lệ nhận thức đúng về tác hại khói thuốc và tuân thủ khám còn hạn chế Tăng tỷ lệ đồng thuận cai thuốc và chủ động đi khám khi có triệu chứng Chuyển biến tích cực
Thực hành dùng thuốc dạng xịt/hít Đa số người bệnh mắc ít nhất một lỗi kỹ thuật Tỷ lệ thực hành đúng các bước chuẩn kỹ thuật tăng cao Cải thiện kỹ năng rõ rệt
Thực hành phục hồi chức năng hô hấp Rất ít người bệnh biết tập thở hoành, thở chúm môi Đa số người bệnh duy trì tự tập luyện tại nhà Nâng cao năng lực tự quản lý
Tình trạng lâm sàng (Điểm CAT, mMRC) Điểm CAT và điểm mMRC ở mức cao Điểm CAT giảm, điểm khó thở mMRC giảm Giảm triệu chứng cơ năng
Số đợt cấp BPTNMT trong năm Tần suất xuất hiện đợt cấp cao Số đợt cấp trung bình trong năm giảm Giảm nguy cơ đợt cấp
Chức năng thông khí ($FEV_1, FVC$) Suy giảm tắc nghẽn theo các mức độ GOLD 1–4 Các chỉ số được bảo tồn, ngăn chặn suy giảm nhanh Ổn định chức năng thông khí

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các kết quả nghiên cứu với các y văn trong nước và quốc tế:

  • Luận giải sự khác biệt về tỷ lệ mắc BPTNMT giữa xã Kiến Thiết (6,97%) và Kiền Bái (4,96%), khẳng định vai trò của nghề nghiệp trồng, chế biến và thói quen hút thuốc lào tại địa phương Tiên Lãng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.
  • Đối chiếu tỷ lệ mắc với các nghiên cứu của Ngô Quý Châu, Phạm Huy Quyến, Nguyễn Thị Xuyên, Phan Thu Phương và các tác giả quốc tế để chứng minh tính tương đồng và tính đặc thù của quần thể nghiên cứu nông thôn miền Bắc Việt Nam.
  • Bàn luận sâu về mối liên quan giữa BPTNMT với các yếu tố phơi nhiễm thuốc lào, thuốc lá, khói bếp than/củi và tình trạng dinh dưỡng (BMI).
  • Phân tích cơ chế tác động của can thiệp TTGDSK: Việc kết hợp đa kênh (loa phát thanh xã, tư vấn trực tiếp và mô hình Câu lạc bộ BPTNMT) giúp thay đổi nhận thức dẫn đến chuyển biến thái độ và nâng cao kỹ năng thực hành tự chăm sóc của người bệnh.
  • Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp phục hồi chức năng hô hấp tại nhà (không đòi hỏi trang thiết bị phức tạp, phù hợp điều kiện kinh tế nông thôn).
  • Phân tích những thành công đạt được và các yếu tố hạn chế trong quá trình triển khai can thiệp cộng đồng kéo dài 1 năm.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học quy mô lớn (5.220 đối tượng $\ge 40$ tuổi) về tỷ lệ mắc BPTNMT tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, phản ánh sự khác biệt dịch tễ rõ nét giữa vùng có nghề trồng thuốc lào truyền thống (xã Kiến Thiết: 6,97%) và vùng thuần nông nghiệp lúa nước (xã Kiền Bái: 4,96%).
  2. Xác định các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến BPTNMT tại cộng đồng nông thôn thông qua mô hình hồi quy đa biến, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thói quen hút thuốc lào, phơi nhiễm khói bếp sinh khối và chỉ số khối cơ thể (BMI).
  3. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng khoảng trống chẩn đoán trong cộng đồng và mức độ thiếu hụt nghiêm trọng về kiến thức, thái độ, thực hành đối với BPTNMT ở người dân nông thôn trước khi có can thiệp y tế công cộng.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xây dựng, triển khai và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp TTGDSK lồng ghép thành lập Câu lạc bộ BPTNMT tuyến xã. Mô hình này giúp nâng cao rõ rệt kiến thức, thái độ của cộng đồng và hoàn thiện kỹ năng thực hành dùng thuốc dạng hít, tập phục hồi chức năng hô hấp của người bệnh tại nhà.
  2. Chứng minh hiệu quả lâm sàng của mô hình can thiệp: Giúp giảm điểm lượng giá triệu chứng CAT, giảm mức độ khó thở mMRC, giảm số đợt cấp BPTNMT trong năm và duy trì ổn định chức năng thông khí phổi cho người bệnh tại tuyến cơ sở.
  3. Cung cấp bộ tài liệu truyền thông chuẩn hóa, bài phát thanh truyền thông và bảng kiểm hướng dẫn thực hành phục hồi chức năng hô hấp phù hợp áp dụng cho mạng lưới y tế xã/phường.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với ngành y tế và chính quyền địa phương: Cần duy trì và nhân rộng mô hình Câu lạc bộ BPTNMT và các chương trình TTGDSK tại các xã nông thôn, đặc biệt là các vùng có tập quán trồng và sử dụng thuốc lào.
  • Đối với tuyến y tế cơ sở: Tăng cường trang bị máy đo chức năng thông khí và đào tạo kỹ thuật đo Spirometry cho cán bộ y tế tuyến huyện/xã để chủ động sàng lọc, phát hiện sớm BPTNMT ở đối tượng từ 40 tuổi trở lên có yếu tố nguy cơ hoặc có triệu chứng hô hấp mạn tính.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng chống tác hại của thuốc lá, thuốc lào và hướng dẫn các biện pháp thông gió, giảm thiểu ô nhiễm khói bếp sinh khối tại các hộ gia đình nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn 2 xã thuộc thành phố Hải Phòng, do đó việc khái quát hóa số liệu cho các vùng địa lý khác (miền núi, đô thị lớn) cần có thêm dữ liệu bổ sung.
  • Thời gian theo dõi đánh giá hiệu quả can thiệp là 1 năm; chưa đánh giá được biến thiên dài hạn về tỷ lệ tử vong và tiến triển suy giảm $FEV_1$ qua nhiều năm tiếp theo.
  • Việc thu thập thông tin về tiền sử tiếp xúc các yếu tố nguy cơ và tiền sử đợt cấp dựa trên phương pháp hồi cứu qua phỏng vấn có thể chịu ảnh hưởng nhất định của sai số nhớ lại.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi dọc đoàn hệ người bệnh BPTNMT trong Câu lạc bộ tại xã Kiến Thiết trong thời gian dài hơn (3–5 năm) để đánh giá tính bền vững của hành vi sức khỏe và tác động dài hạn lên tỷ lệ nhập viện, tử vong.
  • Mở rộng nghiên cứu thử nghiệm các mô hình can thiệp hỗ trợ cai nghiện thuốc lào chuyên biệt cho cư dân tại các làng nghề canh tác thuốc lào truyền thống.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng: Luận án là tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết kế và triển khai nghiên cứu kết hợp mô tả cắt ngang có phân tích với can thiệp cộng đồng đánh giá trước – sau; phương pháp chuẩn hóa bộ câu hỏi KAP và xây dựng bảng kiểm thực hành kỹ thuật y tế.
  • Đối với bác sĩ, cán bộ y tế chuyên ngành Hô hấp và Cán bộ y tế cơ sở: Cung cấp quy trình sàng lọc BPTNMT bằng máy hô hấp ký ngoài cộng đồng; hướng dẫn chi tiết các bài tập phục hồi chức năng hô hấp (thở chúm môi, thở hoành, kỹ thuật ho tống đờm) và kỹ thuật sử dụng các dụng cụ hít giãn phế quản (MDI, Turbuhaler, Accuhaler, Spiriva) để tư vấn cho người bệnh ngoại trú.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng chính sách quản lý bệnh mạn tính không lây nhiễm tại tuyến y tế cơ sở, chứng minh tính khả thi và hiệu quả kinh tế của mô hình Câu lạc bộ BPTNMT xã.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tỷ lệ mắc BPTNMT tại 2 xã nghiên cứu là bao nhiêu và có sự khác biệt như thế nào?
    Tỷ lệ mắc BPTNMT chung ở người từ 40 tuổi trở lên tại 2 xã là 5,94% (310/5.220). Tỷ lệ mắc tại xã Kiến Thiết (xã có nghề trồng thuốc lào) là 6,97% (177/2.540), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với xã Kiền Bái (xã thuần nông, không trồng thuốc lào) là 4,96% (133/2.680).

  2. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định BPTNMT được tác giả áp dụng trong nghiên cứu là gì?
    Tác giả áp dụng tiêu chuẩn của GOLD: Người bệnh được đo chức năng thông khí bằng máy Spirometry và làm test hồi phục phế quản. Chẩn đoán xác định khi chỉ số Gaensler ($FEV_1/FVC$) < 70% sau test hồi phục phế quản âm tính ($FEV_1$ lần 2 tăng so với lần 1 dưới 200 ml và/hoặc dưới 12%, hoặc không tăng).

  3. Mô hình can thiệp TTGDSK tại xã Kiến Thiết bao gồm các hoạt động cụ thể nào?
    Can thiệp kết hợp truyền thông gián tiếp (phát bài truyền thông định kỳ qua hệ thống đài truyền thanh xã, phát tờ rơi, áp phích) và truyền thông trực tiếp (tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, tư vấn tại trạm y tế và hộ gia đình; thành lập và duy trì Câu lạc bộ BPTNMT; hướng dẫn thực hành tập thở chúm môi, thở hoành, ho có kiểm soát và kỹ thuật sử dụng đúng các loại dụng cụ hít giãn phế quản).

  4. Những yếu tố nguy cơ chính nào liên quan đến mắc BPTNMT được xác định qua phân tích đa biến?
    Các yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê gồm: Tuổi cao, giới tính nam, tiền sử hút thuốc lào, thuốc lá (đặc biệt là nhóm có chỉ số bao-năm cao), tiền sử mắc các bệnh lý đường hô hấp, tình trạng tiếp xúc thường xuyên với khói bếp sinh khối và chỉ số khối cơ thể (BMI thấp).

  5. Hiệu quả lâm sàng và chức năng thông khí ở người bệnh BPTNMT sau 1 năm can thiệp thay đổi ra sao?
    Sau 1 năm can thiệp, người bệnh có kỹ năng sử dụng thuốc dạng hít và tập thở đúng quy trình; điểm đánh giá triệu chứng CAT trung bình giảm, điểm khó thở mMRC trung bình giảm, số đợt cấp trung bình trong năm giảm rõ rệt và các chỉ số chức năng thông khí ($FEV_1$, $FVC$) được bảo tồn, ngăn chặn sự suy giảm nhanh.

Kết luận

Luận án của NCS. Nguyễn Đức Thọ đã xác định tỷ lệ mắc BPTNMT ở người từ 40 tuổi trở lên tại xã Kiến Thiết là 6,97% và xã Kiền Bái là 4,96%, chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh với yếu tố phơi nhiễm thuốc lào, khói bếp và tuổi cao. Đề tài đã xây dựng và chứng minh tính hiệu quả của mô hình can thiệp TTGDSK kết hợp sinh hoạt Câu lạc bộ BPTNMT tại tuyến xã trong việc nâng cao kiến thức, thái độ của người dân, hoàn thiện kỹ năng thực hành dùng thuốc và tập phục hồi chức năng của người bệnh. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cao phục vụ công tác dự phòng, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại y tế cơ sở.