Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa trên đất phù sa sông thái bình và lúa ngô trên đất xám bạc màu

Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng trên cây lúa và ngô tại Thái Bình và đất xám bạc màu, phân tích tác động đến năng suất và chất lượng đất.

Chuyên ngành

Khoa học đất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ nông nghiệp

2017

205
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Hiệu lực trực tiếp và tồn dư phân bón

Nghiên cứu tập trung vào hiệu lực trực tiếptồn dư phân bón của phân vô cơ đa lượng trên cây lúangô tại Thái Bìnhđất xám bạc màu. Kết quả cho thấy, hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng. Tồn dư phân bón cũng được đánh giá, đặc biệt là lân và kali, có tác động lâu dài đến đất và cây trồng. Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa việc sử dụng phân bón, giảm thiểu lãng phí và tăng hiệu quả kinh tế.

1.1. Hiệu lực trực tiếp của phân bón

Hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali được đánh giá qua khả năng tăng năng suất cây trồng. Kết quả cho thấy, phân đạm có tác động mạnh nhất đến năng suất lúa và ngô, tiếp theo là lân và kali. Việc bón phân cân đối giúp tăng hiệu suất sử dụng phân bón, giảm thiểu tổn thất dinh dưỡng do rửa trôi và bốc hơi.

1.2. Tồn dư phân bón trong đất

Tồn dư phân bón, đặc biệt là lân và kali, được tích lũy trong đất sau mỗi vụ canh tác. Nghiên cứu chỉ ra rằng, lượng tồn dư này có thể được tận dụng trong các vụ tiếp theo, giảm nhu cầu bón phân mới. Tuy nhiên, việc tích lũy quá mức có thể gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước.

II. Phân vô cơ đa lượng và cây trồng

Nghiên cứu đánh giá tác động của phân vô cơ đa lượng đến cây lúacây ngô trên hai loại đất chính: đất phù sa sông Thái Bìnhđất xám bạc màu. Kết quả cho thấy, việc sử dụng phân bón hợp lý giúp tăng năng suất và chất lượng cây trồng. Đặc biệt, trên đất xám bạc màu, việc bón phân cân đối giúp cải thiện độ phì nhiêu đất và tăng hiệu quả canh tác.

2.1. Tác động đến cây lúa

Cây lúa trên đất phù sa sông Thái Bình cho thấy phản ứng tích cực với phân bón, đặc biệt là phân đạm. Năng suất lúa tăng đáng kể khi bón phân cân đối. Trên đất xám bạc màu, việc bón phân cần được điều chỉnh để phù hợp với đặc tính đất, giúp tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng.

2.2. Tác động đến cây ngô

Cây ngô trên đất xám bạc màu cũng cho thấy sự cải thiện năng suất khi sử dụng phân bón hợp lý. Phân kali có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất và chất lượng ngô. Nghiên cứu đề xuất lượng bón phân cụ thể để tối ưu hóa hiệu quả canh tác.

III. Quản lý phân bón và năng suất cây trồng

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý phân bón hiệu quả để tăng năng suất cây trồng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Việc bón phân cân đối, dựa trên đặc điểm đất và nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng, giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón và giảm chi phí sản xuất.

3.1. Đề xuất lượng bón phân

Nghiên cứu đề xuất lượng bón phân cụ thể cho cây lúacây ngô trên hai loại đất. Trên đất phù sa sông Thái Bình, lượng bón phân được điều chỉnh để phù hợp với đặc tính đất và nhu cầu dinh dưỡng của cây. Trên đất xám bạc màu, việc bón phân cần được tăng cường để cải thiện độ phì nhiêu đất.

3.2. Hiệu quả kinh tế và môi trường

Việc áp dụng các giải pháp quản lý phân bón hợp lý giúp tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng phân bón bền vững để đảm bảo sản xuất nông nghiệp lâu dài.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nông nghiệp nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa trên đất phù sa sông thái bình và lúa ngô trên đất xám bạc màu

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Lúa và ngô là hai cây lƣơng thực quan trọng trên thế giới và ở nƣớc ta. Theo thống kê năm 2015, ƣớc tính diện tích gieo trồng lúa ở nƣớc ta khoảng 7,83 triệu ha, diện tích ngô 1,18 triệu ha, năng suất lúa 5,77 tấn/ha, ngô 4,41 tấn/ha, sản lƣợng lúa 44,97 triệu tấn, ngô 5,20 triệu tấn (Tổng cục Thống kê năm 2016). Phần lớn diện tích trồng lúa ở nƣớc ta phân bố chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, khoảng 4,2 triệu ha và ở đồng bằng sông Hồng hơn 1 triệu ha, số diện tích còn lại phân bố ở ven biển miền Trung và ở vùng Trung du….

Đất phù sa sông Thái Bình đƣợc hình thành do quá trình bồi lắng phù sa của hệ thống sông Thái Bình, phân bố trên các tỉnh thành Bắc Ninh, Hải Dƣơng, Hải Phòng, Thái Bình. Xét về độ phì nhiêu, đất phù sa sông Thái Bình chỉ đứng sau đất phù sa sông Hồng và đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long. Cho đến nay lúa vẫn là một cây quan trọng trong cơ cấu cây trồng của vùng đất này. Chỉ tính riêng trên địa bàn Hải Dƣơng trong những năm gần đây, diện tích lúa hai vụ đạt khoảng 125 ngàn ha.

Với năng suất lúa khá cao, gần 60 tạ/ha, nên mặc dù với diện tích không lớn, nhƣng sản lƣợng thóc của Hải Dƣơng cũng đạt trên dƣới 740 ngàn tấn (Cục Thống kê tỉnh Hải Dƣơng, 2014). Đất bạc màu Miền Bắc chủ yếu đƣợc hình thành trên nền phù sa cổ , nằm ở vùng chuyển tiếp giữa ĐBSH và miền núi, tại địa hình bằng, dốc thoải và gò, đồi, (Vũ Năng Dũng và nnk, 2009) đƣợc phân bố ở một số tỉnh thành nhƣ Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dƣơng.Đất này có độ phì nhiêu thấp hơn so với đất phù sa sông Thái Bình. Chỉ tính riêng Bắc Giang, diện tích lúa hàng năm đạt gần 112 ngàn ha, năng suất khá, trung bình khoảng 55- 56 tạ, sản lƣợng lúa của tỉnh cũng đạt khoảng 620 ngàn tấn; ngoài ra diện tích cây ngô đông của tỉnh cũng đạt gần 11 ngàn ha, với sản lƣợng trên 42 ngàn tấn ( Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang, 2016). 1 Cho đến nay, việc sử dụng phân bón cho cây trồng nói chung và cây lúa, ngô nói riêng còn kém hiệu quả.

Đã có nhiều nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón đƣợc tiến hành, tuy nhiên, những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ảnh hƣởng trực tiếp của các dinh dƣỡng đến cây lúa ngắn hạn với mục đích đạt đƣợc năng suất cao mà không chú ý đến ảnh hƣởng tồn dƣ của chúng, vì thế, lƣợng phân khuyến cáo và lƣợng phân bón thực tế của ngƣời nông dân thƣờng cao hơn so với nhu cầu tối ƣu của cây. Mặc dù các nguyên tố dinh dƣỡng N, P, K dƣ thừa đã bị mất đi do các quá trình bốc hơi, rửa trôi và xói mòn, gây ra phú dƣỡng nguồn nƣớc, một lƣợng không nhỏ N, đặc biệt là P và K dƣ thừa đƣợc tích lũy trong đất. Hậu quả là, gây ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng nƣớc do bị phú dƣỡng, hàm lƣợng P và K ở nhiều loại đất tăng gấp nhiều lần so với bản chất của đất, dẫn đến hiệu quả kinh tế trong sản suất lúa, ngô giảm, đặc biệt trong trƣờng hợp giá phân bón tăng nhanh hơn so với giá lúa. Trong tổng số trên 10 triệu tấn phân bón các loại dùng trong ngành trồng trọt trung bình trong những năm gần đây, lƣợng phân bón dùng cho cây lúa chiếm khoảng 7 triệu tấn, ngô gần 1 triệu tấn (năm 2014 ) vì thế, nếu tiết kiệm đƣợc khoảng 10- 20 % thì lƣợng phân cần bón cho lúa sẽ giảm từ 0,7 – 1,4 triệu tấn/năm và hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa sẽ tăng đáng kể (dẫn theo Đoàn Minh Tin, 2015).

Với những lý do trên, vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, ngô dƣới góc độ phân bón là việc làm cấp bách. Để đạt đƣợc điều này cần thiết phải nghiên cứu biện pháp bón phân hợp lý, cân đối dựa trên mối quan hệ mật thiết trực tiếp và lâu dài giữa đất- phân bón- cây trồng. Vì thế, việc tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng đối với cây lúa trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa, ngô trên đất xám bạc màu” là cần thiết. Mục tiêu của luận án Mục tiêu tổng quát Xác định đƣợc cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón đạm, lân và kali cho lúa thuần trên đất phù sa sông Thái 2 Bình trong cơ cấu lúa xuân- lúa mùa và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu ở Bắc Giang trong cơ cấu lúa xuân- lúa mùa- ngô đông.

Mục tiêu cụ thể Xác định đƣợc hiệu lực trực tiếp của các nguyên tố đạm, lân, kali, hiệu lực tồn dƣ và cộng dồn của phân lân và kali làm cơ sở xác định lƣợng bón phân vô cơ đa lƣợng thích hợp cho cây lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình tại Hải Dƣơng và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu ở Bắc Giang. Phạm vi và giới hạn của đ tài Đề tài tiến hành nghiên cứu với cây lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình trong cơ cấu lúa xuân- lúa mùa và lúa thuần ngô đông trên đất xám bạc màu trong cơ cấu lúa xuân- lúa mùa- ngô đông. Đóng góp mới của luận án Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống đầu tiên xác định đƣợc hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali và hiệu lực tồn dƣ và cộng dồn của lân, kali làm cơ sở cho việc nâng cao hơn nữa hiệu quả phân bón đối với lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu ở Bắc Giang. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học Đề tài góp phần bổ sung lý luận về cơ sở khoa học trong việc xác định hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali hiệu lực tồn dƣ và cộng dồn của phân lân và kali đối với lúa trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa, ngô đất xám bạc màu Bắc Giang trên cơ sở đánh giá lƣợng dinh dƣỡng cây hút, diễn biến dinh dƣỡng lân, kali trong đất và năng suất cây trồng.

Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở xác định đƣợc hiệu lực trực tiếp của phân đạm, lân, kali hiệu lực tồn dƣ và cộng dồn của phân lân và kali đối với lúa thuần trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu Bắc Giang, đề tài đã đề xuất đƣợc lƣợng bón phân đạm, lân, kali tiết kiệm, hợp lý đối với lúa 3 thuần trên đất phù sa sông Thái Bình và lúa thuần, ngô lai trên đất xám bạc màu Bắc Giang, cụ thể lƣợng N,P,K bón cho 1 ha nhƣ sau: Trên đất PSSTB : Lúa xuân bón 90N, 30P2O5, 45 K2O; Lúa mùa bón 90N, 30P2O5, 45 K2O. Trên đất XBM : Lúa xuân bón 90N, 30P2O5, 90K2O; Lúa mùa bón 80N, 23P2O5, 80K2O; Ngô đông bón 200N, 90P2O5, 150K2O. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Diễn biến khí hậu vùng nghiên cứu, đặc điểm đất PSSTB và đất XBM 1.

Diễn biến khí hậu vùng nghiên cứu 1. Diễn biến khí hậu tại Gia Lộc - Hải Dương * Độ ẩm không khí Độ ẩm trung bình năm ở giai đoạn 2011- 2015 cao hơn so với độ ẩm trung bình năm ở giai đoạn 2000- 2010 (0,6%), đặc biệt vào giai đoạn mùa khô (tháng 10- 11) tăng từ 1,2% đến 8%. Đây là giai đoạn phát triển cây vụ đông, nên độ ẩm cao cũng ảnh hƣởng đáng kể đến cây trồng, đặc biệt là vấn đề sâu bệnh hại (hình 1. Nguồn: Website: https://power.

Đồ thị độ ẩm không khí tại Gia Lộc, Hải Dƣơng * Nhiệt độ không khí Từ kết quả hình 1.2 cho thấy: nhiệt độ trung bình năm ở giai đoạn 2011- 2015 cao hơn so với nhiệt độ trung bình năm ở giai đoạn 2000- 2010 khoảng 0,9 độ C, nhiệt độ trung bình các tháng ở giai đoạn 2011-2015 cao hơn giai đoạn trƣớc từ 0,1 đến 2 độ C, thấp hơn sự gia tăng nhiệt độ trên vùng đất Hiệp Hòa, Bắc Giang. Tƣơng tự, với sự gia tăng nhiệt độ tháng 10 đến tháng 3 có lợi 5 cho sinh trƣởng và phát triển của cây vụ đông và đầu vụ lúa xuân, tuy nhiên ở các tháng còn lại sự gia tăng nhiệt độ lại ảnh hƣởng không nhỏ đến sinh trƣởng và phát triển của cây trồng do gia tăng cƣờng độ hô hấp và tốc độ bốc thoát hơi nƣớc. Nguồn: Website: https://power. Đồ thị nhiệt độ không khí tại Gia Lộc, Hải Dƣơng * Lượng mưa Nguồn: Website: https://power.

Đồ thị lƣợng mƣa tại Gia Lộc, Hải Dƣơng Từ kết quả hình 1.3 cho thấy: tổng lƣợng mƣa năm trung bình ở giai đoạn 2011- 2014 cao hơn so với tổng lƣợng mƣa trung bình năm ở giai đoạn 2000- 2010 khoảng 242,1 mm, lƣợng mƣa giảm ở các tháng 1, 2, và 5 (từ 2,7- 17,1 mm), nhƣng tăng ở các tháng còn lại, lƣợng tăng cao nhất vào tháng 9 6 (tăng 94,3 ml), các tháng khác tăng từ 3,9 đến 56 mm. Có thể nói, việc gia tăng lƣợng mƣa vào giai đoạn 2011- 2015 tạo điều kiện cung cấp nƣớc tốt hơn cho canh tác lúa nƣớc và một số cây trồng khác. Diễn biến khí hậu tại Hiệp Hòa - Bắc Giang * Độ ẩm không khí Nguồn : Website : https://power. Đồ thị độ ẩm không khí tại Hiệp Hòa, Bắc Giang Độ ẩm trung bình năm ở giai đoạn 2011- 2015 cao hơn so với độ ẩm trung bình năm ở giai đoạn 2000- 2010 là 1,5 %.

Nói chung, độ ẩm không khí cao có tác dụng hạn chế bốc thoát hơi nƣớc, nhƣng lại tạo điều kiện cho sự phát triển của sâu bệnh. Sự chênh lệch độ ẩm từ táng 1 đến tháng 8 là rất ít giữa giai đoạn tiến hành thí nghiệm và giai đoạn 2000 - 2010, nên không ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và phát triển của cây lúa trong giai đoạn này. Tuy nhiên vào mùa khô (từ tháng 9- 12) là giai đoạn phát triển cây vụ đông, độ ẩm ở giai đoạn 2011- 2015 độ ẩm cao hơn hẳn so với giai đoạn trƣớc nên sẽ gây ảnh hƣởng đáng kể đến cây trồng, đặc biệt là vấn đề sâu bệnh hại ( hình1. * Nhiệt độ không khí Từ kết quả hình 1.5 cho thấy: nhiệt độ trung bình năm ở giai đoạn 2011- 2015 cao hơn so với nhiệt độ trung bình năm ở giai đoạn 2000- 2010 khoảng 2,4 độ C, nhiệt độ trung bình các tháng ở giai đoạn 2011-2015 cao hơn giai 7 đoạn trƣớc từ 1,7 đến 4 độ C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hiệu lực trực tiếp và tồn dư của phân vô cơ đa lượng trên cây lúa và ngô tại Thái Bình và đất xám bạc màu là một tài liệu chuyên sâu về việc đánh giá tác động của phân bón vô cơ đa lượng đối với cây lúa và ngô trong điều kiện đất xám bạc màu tại Thái Bình. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về hiệu quả sử dụng phân bón, giúp nông dân tối ưu hóa năng suất cây trồng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến nông nghiệp bền vững và quản lý đất đai hiệu quả.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối trên đất bazan tại Đắk Lắk, hoặc tìm hiểu thêm về quản lý bền vững qua Luận văn thạc sĩ nông nghiệp về biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu bền vững tại Đắk Lắk. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ về quyết định lựa chọn sản xuất chè theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt cũng là một tài liệu đáng đọc để hiểu rõ hơn về các tiêu chuẩn nông nghiệp hiện đại.