MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây ớt cay (Capsicum annuum L.) là loại rau gia vị có lịch sử trồng trọt từ rất lâu đời, rất đƣợc ƣa chuộng sử dụng tại nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt ở những vùng Nhiệt Đới. Trong quả ớt có chứa nhiều vitamin A, B, C đặc biệt là vitamin C (163mg/100g) cao nhất so với các loại rau. Bên cạnh giá trị dinh dƣỡng, ớt có giá trị dƣợc lý rất quan trọng, có tác dụng chữa một số bệnh nhƣ nôn mửa, sốt cao… Bên cạnh đó ớt cay còn chứa lƣợng Capsicin là một loại Alcaloid không màu dạng tinh thể có vị cay.
Gần đây ngƣời ta còn chứng minh đƣợc vai trò của quả ớt trong việc ngăn ngừa các chất gây ung thƣ. Cây ớt đƣợc trồng nhiều tại các nƣớc châu Mỹ và châu Á nhƣ: Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia và Việt Nam. Ở nƣớc ta, cây ớt có thể trồng vào hai thời vụ chính (Đông - Xuân và Hè - Thu), sản phẩm có thể tiêu thụ nội địa cũng nhƣ xuất khẩu. Theo Tổng công ty Rau quả Việt Nam, giai đoạn trƣớc những năm 1990 sản phẩm ớt đã đƣợc tiêu thụ với số lƣợng rất lớn ở Liên Xô (cũ) và các nƣớc Đông Âu (4.
Ớt có thể chế biến ở nhiều dạng sản phẩm, ví dụ: ớt bột, ớt khô, tƣơng ớt, ớt muối và ớt đông lạnh. Những năm gần đây, nhu cầu ớt đông lạnh phục vụ xuất khẩu là rất lớn, đặc biệt thị trƣờng Hàn Quốc với số lƣợng sản phẩm dự kiến 5. Tuy nhiên, Hàn Quốc là thị trƣờng đòi hỏi rất khắt khe về chất lƣợng sản phẩm (tỷ lệ thịt quả, độ cay, hình dạng quả, vết lỗi trên quả…(Trần Khắc Thi, 2004). Là cây trồng có sản lƣợng tiêu thụ lớn nhất trong các loại gia vị.
Diện tích trồng ớt bình quân tăng hằng năm trong 10 năm trở lại đây ở nƣớc ta là 4,5%. Theo FAO (2014), năm 2013 diện tích trồng ớt tƣơi trên thế giới là 2.038 ha và sản lƣợng ớt tƣơi 27. 857 tấn, diện tích ớt khô, ớt bột 1.061 ha và sản lƣợng ớt khô ớt bột 2. Châu Á đứng đầu thế giới về năng suất và sản lƣợng,với 60,5% diện tích và 64,8% sản lƣợng của toàn thế giới.
Diện tích trồng ớt nƣớc ta năm 2013 là 25.360 ha, tăng 1114 ha so với năm 2010. Sản lƣợng cao nhất đạt 330. 1 Diện tích ớt tăng là do nhu cầu trong nƣớc và xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng ớt đã gặp phải một số khó khăn ảnh hƣởng đến cả diện tích và năng suất cũng nhƣ chất lƣợng ớt.
Do trƣớc đây ớt chủ yếu đƣợc trồng nhỏ lẻ ở các hộ gia đình, không đầu tƣ thâm canh nên khi trồng ớt xuất khẩu nông dân còn gặp khá nhiều khó khăn trong kỹ thuật canh tác. Nói riêng, ở huyện Hoằng Hóa, có diện tích trồng ớt bình quân tăng theo hằng năm là khá cao. Tuy có mức tăng trƣởng liên tục, song hiệu quả sản xuất ớt mang lại cho ngƣời dân không cao. Nguyên nhân cơ bản của hạn chế nêu trên là do vấn đề giống và kỹ thuật trồng ớt.
Nông dân chƣa áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sinh thái của địa phƣơng nhƣ canh tác liên tục, ít bón phân chuồng, chủ yếu bón phân hóa học, lƣợng dinh dƣỡng mà cây trồng lấy đi trong đất không đƣợc trả lại, đất canh tác ngày càng trai cứng, cạn kiệt dinh dƣỡng, các vi sinh vật trong đất hoạt động kém hoặc bị chết do nhiễm thuốc bảo vệ thực vật vì vậy độ phì nhiêu của đất giảm dần, ảnh hƣởng lớn tới sinh trƣởng, phát triển, năng suất và hiệu quả sản xuất. Trên thị trƣờng phân bón hiện nay, đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều các loại phân bón sinh học có tác dụng cải thiện độ phì nhiêu đất, thúc đẩy sinh trƣởng, tăng năng suất, chất lƣợng sản phẩm cây trồng. Trong đó chế phẩm AGN và HumiK do Công ty TNHH Thƣơng mại Minh Hoàng nhập khẩu từ Mỹ, đƣợc đánh giá là là một trong những dòng sản phẩm phân bón sinh học có triển vọng đối với nhiều loại cây trồng. Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, thành phần AGN bao gồm các vi sinh vật ở dạng ngủ, đậm đặc.
Các vi sinh vật này khi hòa vào nƣớc sẽ bắt đầu quá trình hoạt động. Khi tƣới vào đất, các vi sinh vật này sẽ bắt đầu quá trình hoạt động của mình là sẽ phân giải các chất hữu cơ trong đất. Các vi sinh vật bao gồm vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật phân giải cellulose, vi sinh vật có lợi. Hoạt động của vi sinh vật có lợi là tạo một quần thể bao quanh rễ cây ngăn các vi sinh vật có hại xâm nhập.
Các vi sinh vật trong AGN là ở dạng bào tử, không hoạt động, chịu đƣợc nhiệt độ cao và môi trƣờng 2 khắc nghiệt, hoạt động trong môi trƣờng pH từ 4.2 đến 10 nên phù hợp với tất cả các loại đất, hoàn toàn yên tâm về chất lƣợng sản phẩm. Chất thẩm thấu giúp nƣớc ngấm vào đất tốt hơn, không bị rửa trôi. Hoạt động của AGN là bắt chƣớc các quá trình hoạt động của đất trong tự nhiên. Sản phẩm AGN còn có chứa chất thẩm thấu, là chất phá vỡ tính đàn hồi của nƣớc, giúp cho nƣớc thấm vào đất tốt hơn.
Sử dụng AGN sẽ giảm đƣợc lƣợng phân bón vô cơ và hữu cơ, giúp giảm đƣợc lƣợng thuốc hóa học. Nguồn gốc của các vi sinh vật trong AGN đƣợc phân lập từ những chủng trùng quế có khả năng phân giải đất với hiệu quả tốt nhất và các vi sinh vật đƣợc phân lập từ đất tự nhiên ở những vùng đất tơi xốp nhất, nên đã chọn ra đƣợc những chủng Vi sinh vật tốt nhất cho hoạt động của đất, cải tạo và làm trẻ hóa đất một cách tự nhiên. Dùng AGN làm xốp đất đã khô cứng, giúp chống lại khô hạn, tạo ra dƣỡng chất đầy đủ, ổn định cho cây trồng. Bộ rễ phát triển nhanh, cây trồng hấp thu đƣợc nhiều chất dinh dƣỡng và tăng khả năng hấp thụ các loại phân khác, chống chịu tốt với thời thiết và ngoại cảnh.
Dùng AGN còn làm giảm tỷ lệ rụng trái, chắc quả, tăng năng suất và chất lƣợng cây trồng. Chế phẩm sinh học Humik có tác dụng phát triển bộ rễ cây trồng, tăng sức đề kháng cho cây đối với nhiều loại bệnh nhƣ: bệnh nghẹt rễ, lở cổ rễ, đốm lá, sƣơng mai cho cây trồng cạn và các bệnh đạo ôn, khô vằn, vàng lá cho lúa, tăng khả năng chống chịu của cây đối với các thời tiết bất lợi nhƣ: nóng, rét, hạn, úng, chua phèn; cung cấp các chất vi lƣợng; tăng độ phì nhiêu cho đất; cải thiện kết cấu đất, tăng khả năng giữ ẩm cho đất; tăng cƣờng quá trình hấp thu dinh dƣỡng của cây, nâng cao hiệu lực phân khoáng. Để có cơ sở phổ biến khuyến cáo vận dụng trong sản xuất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lƣợng, hiệu quả sản xuất cây trồng, đồng thời cải thiện, nâng cao độ phì nhiêu đất đảm bảo cho phát triển bền vững, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiệu lực bón chế phẩm sinh học AGN và HumiK cho giống ớt lai F1 số 20, vụ Đông xuân 2017-2018 ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa”. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1.
Mục đích Xác định hiệu lực tăng năng suất, phẩm chất và hiệu quả kinh tế bón chế phẩm sinh học AGN và HumiK cho giống ớt lai F1 số 20, vụ Đông xuân 2017- 2018, tạo cơ sở để phổ biến vận dụng trong sản xuất. Yêu cầu - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của bón chế phẩm AGN và HumiK đến sinh trƣởng, phát triển, năng suất và phẩm chất giống ớt lai F1 số 20, vụ Đông xuân 2017-2018 ở huyện Hoằng Hóa. - Xác định đƣợc hiệu quả kinh tế bón chế phẩm AGN và HumiK cho giống ớt lai F1 số 20, vụ Đông xuân 2017-2018 ở huyện Hoằng Hóa. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu góp phần phục vụ sản xuất ớt vụ Đông - Xuân tại Thanh Hóa. -Góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc sử dụng phân bón AGN và Humik trong giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lƣợng ớt tại Thanh Hóa. Ý nghĩa thực tiễn Làm cơ sở cho việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cây ớt tại Thanh Hóa. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU-CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 2.
Nguồn gốc, phân bố cây ớt và phân loại ớt 2. Nguồn gốc, phân bố Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì cây ớt đƣợc con ngƣời biết đến từ xa xƣa, ngƣời ta đã tìm thấy quả ớt khô trong ngôi mộ cổ ở Peru hàng ngàn năm trƣớc đây. Nhiều tác giả khẳng định, cây ớt có nguồn gốc từ nhiệt đới của Châu Mỹ và đƣợc trồng trọt lâu đời ở Peru, Mêhico. Trung tâm khởi nguồn của ớt có thể là Mêhico và trung tâm thứ hai là Guatemla.
Cây ớt đƣợc phần bổ rộng rãi khắp Châu Mỹ kể cả dạng hoang dại và dạng trồng trọt. Ở Châu Âu mãi đến thế kỷ XVI cây ớt mới đƣợc biết tới nhờ Churixtop Côlông đƣa vào Tây Ban Nha. Từ đây, cây ớt đƣợc phát tán rộng ra đến các vùng Địa Trung Hải đến nƣớc Anh, Trung Âu trong những năm cuối thế kỷ XVI. Sau đó những ngƣời Bồ Đào Nha mang ớt từ Braxin đến Ấn Độ vào năm 1885.
Khu vực Châu Á, cuối thế kỷ XIV cây ớt đã đƣợc trồng ở Trung Quốc và lan rộng qua Nhật Bản, Triều Tiên vào đầu thế kỷ XV. Các giống ớt trồng ở các vùng này thuộc nhóm cay hoặc hơi cay. Ở Đông nam Á nhƣ Inđônêxia, cây ớt đƣợc trồng sớm hơn ở Châu Âu và hiện nay đã bao phủ toàn bộ khu vực với dạng ớt cay là chủ yếu. Trong khu vực này có nhiều giống ớt địa phƣơng đƣợc hình thành để phục vụ cho từng mục đích sử dụng khác nhau.
Nƣớc ta cây ớt do ngƣời Pháp đƣa sang, chƣa có nhiều nghiên cứu đầy đủ về lịch sử trồng trọt cây ớt cay ở nƣớc ta, nhƣng căn cứ vào sự đa dạng của các giống địa phƣơng đã khẳng định ớt đƣợc trồng từ rất lâu đời. Phân loại Ta có thể dựa vào hệ thống phân loại thực vật, vào số lƣợng nhiễm sắc thể, hoặc nguồn gốc xuất xứ, bộ phận sử dụng, mùa vụ. Có thiều quan điểm khác nhau nhƣng theo bảng phân loại mới nhất thì ớt thuộc họ cà, có 5 loại đƣợc trồng chính trong số 30 Nguồn gen thực vật rất phong phú về số lƣợng và đa dạng về chủng loại.