Đặt vấn đề Cây ớt là một trong các loại rau gia vị có giá trị kinh tế cao được sử dụng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Ớt được trồng rộng rãi từ 550 vĩ độ bắc đến 550 vĩ độ nam, đặc biệt ở các nước châu Mỹ và một số nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam, Malaysia [7]. Hiện nay có khoảng 50 giống ớt khác nhau có tên gọi rất khác nhau tuỳ hình dạng hay đặc tính, như ớt sừng trâu, ớt cựa gà, ớt cà, ớt Chỉ thiên, ớt hiểm, ớt ngọt. Các nghiên cứu y học cho thấy: trong ớt có chứa nhiều loại vitamin: C, B1, B2, và các acid amin cần thiết cho cơ thể.
Mỗi 100 g ớt cay tươi chứa tới 144 mg vitamin C, đứng đầu trong các loại rau tươi. Lượng vitamin C phong phú có khả năng khống chế bệnh tim mạch, xơ cứng động mạch và giảm cholesterol. Hoạt chất Capsaicin tạo nên vị cay nóng trong quả ớt có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất Endorphin, giúp giảm đau khớp và dây thần kinh, tiêu diệt các tế bào ung thư. Còn theo Đông y vị cay, tính nóng của quả ớt có tác dụng ôn trung tán hàn, kiện vị tiêu thực - chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, chỉ thống (giảm đau), kháng nham (chữa ung thư.
Rễ ớt giúp hoạt huyết, tán thũng. Lá ớt vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, sát trùng, lợi tiểu. Ở Thái Lan, ớt còn được dùng làm thuốc long đờm, trị giun gián cho trẻ em và làm thuốc hạ nhiệt [11] Trong cơ cấu các chủng loại rau trồng chủ lực ở nước ta hiện nay, ớt cay thuộc nhóm cây phổ biến nhất. Sản phẩm ớt được sử dụng đa dạng: ăn tươi, chế biến dưới dạng bột, tương (past), muối chua đóng lọ nguyên quả, muối mặn… với đặc điểm này cây ớt khắc phục được tính rủi ro của thị trường, giữ giá cả ổn định, đảm bảo được lợi ích cho người sản xuất.
Do giá trị to lớn mà cây ớt mang lại, hiện nay diện tích trồng ớt không những ở phía n 2 Nam mà đã được mở rộng ra các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc. Theo Tổng cục Thống kê, diện tích ớt cay trồng trên đất nông nghiệp cả nước năm 2000 là 4783 hecta, năm 2010 đã đạt xấp xỉ 9600 ha, với mức tăng 5%/ năm. Năm 2012 Việt Nam xuất khẩu khoảng 78.500 tấn ớt khô với giá trị 233 triệu USD, nằm trong top 20 mặt hàng nông sản xuất khẩu chính [11]. Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay phân bón lá được nông dân sử dụng khá phổ biến nhất là ở các vùng chuyên canh rau màu, trồng hoa cây cảnh, cây ăn quả và trên một số cây lương thực thực phẩm.
Phân bón lá có tác dụng kích thích sinh trưởng, tăng khả năng đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu quả, tăng năng suất chất lượng nông sản, kéo dài thời gian bảo quản…Nếu so với phân bón gốc thì phân bón lá có giá thành rẻ hơn rất nhiều, sản phẩm lại đa dạng về chủng loại, khi cần phun ở giai đoạn sinh trưởng nào của cây trồng cũng có thể mua được. Với mục đích nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho giống ớt cay lai GL1-1 mà hạn chế được lượng phân bón dư thừa trong đất, được sự đồng ý của Bộ môn, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Minh Tuấn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại chế phẩm phân bón lá đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của giống ớt lai GL1-1 vụ Xuân-Hè năm 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Xác định được loại chế phẩm phân bón lá phù hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cho giống ớt lai GL1-1. Yêu cầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến khả năng sinh trưởng phát triển của giống ớt lai GL1-1 n 3 - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại của giống ớt lai GL1-1 - Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá đến năng suất và yếu tố cấu thành năng suất của giống ớt cay GL1-1 -Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc, phân bố cây ớt và phân loại ớt 2.1 Nguồn gốc, phân loại Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì cây ớt được con người biết đến từ xa xưa, người ta đã tìm thấy quả ớt khô trong ngôi mộ cổ ở Peru hàng ngàn năm trước đây. Nhiều tác giả khẳng định, cây ớt có nguồn gốc từ nhiệt đới của Châu Mỹ và được trồng trọt lâu đời ở Peru, Mêhico.
Trung tâm khởi nguồn của ớt có thể là Mêhico và trung tâm thứ hai là Guatemla. Cây ớt được phần bổ rộng rãi khắp Châu Mỹ kể cả dạng hoang dại và dạng trồng trọt. Ở Châu Âu mãi đến thế kỷ XVI cây ớt mới được biết tới nhờ Churixtop Côlông đưa vào Tây Ban Nha. Từ đây, cây ớt được phát tán rộng ra đến các vùng Địa Trung Hải đến nước Anh, Trung Âu trong những năm cuối thế kỷ XVI.
Sau đó những người Bồ Đào Nha mang ớt từ Braxin đến Ấn Độ vào năm 1885. Khu vực Châu Á, cuối thế kỷ XIV cây ớt đã được trồng ở Trung Quốc và lan rộng qua Nhật Bản, Triều Tiên vào đầu thế kỷ XV. Các giống ớt trồng ở các vùng này thuộc nhóm cay hoặc hơi cay. Ở Đông nam Á như Inđônêxia, cây ớt được trồng sớm hơn ở Châu Âu và hiện nay đã bao phủ toàn bộ khu vực với dạng ớt cay là chủ yếu.
Trong khu vực này có nhiều giống ớt địa phương được hình thành để phục vụ cho từng mục đích sử dụng khác nhau. Nước ta cây ớt do người Pháp đưa sang, chưa có nhiều nghiên cứu đầy đủ về lịch sử trồng trọt cây ớt cay ở nước ta, nhưng căn cứ vào sự đa dạng của các giống địa phương đã khẳng định ớt được trồng từ rất lâu đời.2 Phân loại Ta có thể dựa vào hệ thống phân loại thực vật, vào số lượng nhiễm sắc thể, hoặc nguồn gốc xuất xứ, bộ phận sử dụng, mùa vụ. Có thiều quan điểm khác nhau nhưng theo bảng phân loại mới nhất thì ớt thuộc họ cà, có 5 loại n 5 được trồng chính trong số 30 Nguồn gen thực vật rất phong phú về số lượng và đa dạng về chủng loại. Để phân biệt chúng loài.
Bao gồm loài Capsicum annuum L, loại C.chinense Jacquin; loài Willdenon var pendulum L và loài C.pubescens Ruiz and Pavon. Mêhicô là trung tâm khởi nguồn của C.annuum và Guatêmana là trung tâm thứ hai và loài C. annuum l thông dụng nhất thế giới. Các loại ớt trồng trọt của chi Capsicum thường được phân biệt qua đặc điểm hoa và quả.
Theo Heiser và Smith (1953) C.annuum là cây trồng hàng năm, mỗi đốt có 1 quả, còn C. frutescens là cây nhiều năm. annuum L gồm 2 nhóm phổ biến là ớt cay (quả to, dài) và ớt ngọt (Sweet pepper). Đặc điểm thực vật học của cây ớt.
Ớt thuộc chi Capsicum, họ cà Solanaceae với gần 100 loài khác nhau. Có rất nhiều giống khác nhau dựa vào hình dạng, màu sắc, độ cay và vị trí của qủa. Bailey (1949) đã chia ớt thành 5 nhóm chính dựa vào hình dạng quả: Cerasiforme: Là những giống ớt có dạng quả nhỏ, rất cay. Conoides: Quả ớt cay, có dạng hình nón hoặc dạng hình thuôn.
Fasciculatum: Quả mọc thành chùm, khi chín có màu đỏ và đặc biệt rất cay. Longum: Quả ớt dài, rũ xuống, cay. Grossum: Quả to, có dạng hình chuông hay còn gọi là ớt ngọt quả rỗng, thường có màu đỏ hoặc vàng, thích hợp cho việc chế biến các món ăn. Đặc điểm thực vật học của cây ớt có thể được tóm tắt như sau: - Rễ: Rễ ớt ăn nông và kém chịu úng.
Rễ tập trung chủ yếu ở tầng đất 0 – 30 cm. Rễ ớt có khả năng phát triển rễ phụ đặc biệt khi cấy chuyển. - Thân: Thân ớt phát triển ở dạng thân bụi. Khi non thân mềm, khi già thân hoá gỗ.
Trên thân phân nhiều cành nhánh. Chiều cao cây từ 50 – 150 cm. - Lá: Ớt có dạng là đơn, mặt lá nhẵn, kích thước thay đổi phụ thuộc vào giống. Lá ớt có dạng oval hoặc hơi dài, không có răng cưa, không có lông, mỏng, kích thước trung bình 1,5 – 12 cm x 0,5 – 7,5 cm.
n 6 - Hoa: Hoa ớt thường mọc đơn, có 5 – 6 cánh màu trắng, số lượng hoa từ 92 – 350 hoa/cây. Hoa ớt thường mọc đơn và sinh ra sau nách lá ở cành thứ cấp. Đài hoa có 5 – 6 cành màu trắng, tràng hoa có màu trắng, hoặc có màu tím nhạt, nhị hoa gắn vào tràng hoa và xoè ra, bao phấn thường mở, vòi nhuỵ thường dài hơn nhị hoa. Bầu nhuỵ thường có 3 ngăn.
Cuống hoa dài 1 – 1,5 cm, ớt có tập tính nở hoa và đậu quả sớm hơn trong điều kiện ngày ngắn. - Quả: Quả ớt thuộc dạng quả mọng có cuống ngắn và to. Dạng quả rất khác nhau từ dạng quả tròn tới dạng quả thon dài và thon đầu bóp nhọn lại, kích thước quả cũng rất khác từ rất nhỏ đến quả có kích thước lớn như quả ớt ngọt. Quả mọc xuôi (chỉ địa) hoặc thẳng đứng (chỉ thiên), quả đơn.
Ớt có màu sắc, hình dạng và kích thước quả rất khác nhau. Khi quả xanh có màu xanh hoặc tím, khi chín có màu vàng da cam hoặc đỏ. - Hạt: Hạt ớt có trong quả chín cũng như trong quả xanh. Hạt thường tập trung dày đặc dọc theo ruột quả.
Hạt ớt có dạng tròn det, mặt không nhẵn, màu vàng sáng hoặc vàng đậm. Trung bình 1 quả có khoảng 30 – 80 hạt. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới: Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng, hiệu quả kinh tế, cây ớt đã giữ một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp hàng hoá, đặc biệt là các nước có điều kiện khí hậu, đất trồng thích hợp.
Cây ớt được xem là một trong số những cây trồng quan trọng ở các vùng Nhiệt đới. Diện tích và sản lượng ớt trên thế giới ngày càng tăng. Theo FAO, năm 1994 diện tích trồng ớt toàn thế giới là 1,25 triệu ha, thì đến năm 2001 diện tích này đã tăng lên là 1,45 triệu ha và tăng lên đến 1,914 triệu ha vào năm 2012 với năng suất trung bình 16.