Tổng quan nghiên cứu

Hiện tượng đa hành văn tự, tức sự tồn tại đồng thời của hai hoặc ba loại văn tự trong cùng một văn bản để truyền tải một nội dung ý nghĩa, là một đặc điểm nổi bật trong kho sách Hán Nôm Việt Nam, đặc biệt trong các bản in Phật giáo miền Bắc giai đoạn 1924 – 1954. Trong giai đoạn này, chữ Quốc ngữ đã dần phổ biến và được sử dụng song song với chữ Hán và chữ Nôm nhằm phục vụ công cuộc chấn hưng Phật giáo. Nghiên cứu tập trung vào các văn bản in Phật giáo miền Bắc do các cơ quan chính thức như Hội Phật giáo Bắc Kỳ, nhà in Đuốc Tuệ, chùa Quán Sứ xuất bản, với tổng số khoảng 35 đầu sách, 55 số báo Đuốc Tuệ, cùng các bộ ván in và tờ bướm liên quan.

Mục tiêu nghiên cứu là tập hợp, nhận diện và phân loại các tư liệu đa hành văn tự trong phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc, làm rõ đặc điểm và vai trò của nhóm tư liệu này trong lịch sử ngữ văn Việt Nam, đồng thời góp phần làm sáng tỏ công cuộc phiên dịch và truyền bá Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam chuyển mình sang hiện đại. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 1924 – 1954 tại miền Bắc Việt Nam, tập trung vào các văn bản in ấn Phật giáo có hiện tượng đa hành văn tự Hán – Quốc ngữ, Nôm – Quốc ngữ.

Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ sự chuyển đổi ngôn ngữ – văn tự trong Phật giáo Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về phiên dịch học Phật giáo và văn hóa in ấn thời cận hiện đại. Các chỉ số như số lượng đầu sách, báo chí, và các bộ ván in được thống kê cụ thể cho thấy quy mô và tầm ảnh hưởng của hiện tượng đa hành văn tự trong giai đoạn này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và mô hình về đa hành văn tự (multi-scripts) trong văn bản ngữ văn cổ điển Việt Nam, được phát triển bởi các nhà nghiên cứu như Nguyễn Tuấn Cường và Nguyễn Đình Hưng. Khái niệm đa hành văn tự được định nghĩa là hiện tượng tồn tại đồng thời nhiều loại văn tự trong một văn bản và cùng biểu đạt một nội dung ý nghĩa, khác với hỗn nhập văn tự (mixed-scripts) – nơi các văn tự xen kẽ để tạo thành một nội dung hoàn chỉnh.

Phân loại đa hành văn tự được chia thành các loại chính: song hành văn tự (ví dụ Hán – Nôm, Hán – Quốc ngữ, Nôm – Quốc ngữ), tam hành văn tự (Hán – Nôm – Quốc ngữ), và các dạng dịch thuật như đối phiên (phiên âm Hán Việt bằng Quốc ngữ), dịch (dịch nghĩa từ Hán sang Quốc ngữ), phiên – dịch kết hợp. Ngoài ra, nghiên cứu còn vận dụng các khái niệm trong phiên dịch học (translation studies) để phân tích mối quan hệ giữa các văn tự và nội dung truyền tải.

Các khái niệm chuyên ngành như “song tồn văn tự”, “song hành văn tự”, “đối phiên”, “dịch”, “phiên – dịch” được sử dụng để phân tích hiện tượng đa hành văn tự trong các bản in Phật giáo. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận văn hóa in ấn (print culture) thời cận hiện đại, chú trọng sự chuyển đổi từ in ván khắc truyền thống sang in typo hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp ngữ văn học (philology) tập trung vào phân tích ngôn ngữ – văn tự, giải thích nội dung ngữ nghĩa trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố hình thức như chữ viết và phương thức định hình văn bản. Phương pháp này giúp nhận diện và phân loại các hiện tượng đa hành văn tự trong các bản in Phật giáo.

Nguồn dữ liệu bao gồm khoảng 35 đầu sách, 55 số báo Đuốc Tuệ, 4 bộ ván in sách, 1 tờ bướm, được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thư viện chùa Quán Sứ và các tủ sách chùa, cá nhân. Cỡ mẫu được lựa chọn dựa trên tính đại diện và khả năng tiếp cận tư liệu.

Phương pháp phân tích bao gồm so sánh, thống kê, phân loại, tổng hợp và diễn dịch. Việc phân loại hiện tượng đa hành văn tự được thực hiện dựa trên tiêu chí loại văn tự tham gia (Hán, Nôm, Quốc ngữ) và mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các văn tự (đối phiên, dịch, phiên – dịch). Timeline nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 1924 – 1954, gắn liền với phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Phân loại hiện tượng đa hành văn tự Phật giáo miền Bắc (1924 – 1954):

    • Hán – Quốc ngữ đối phiên: 23 đầu sách, 4 bộ ván in, 1 tờ bướm, 1 số báo Đuốc Tuệ.
    • Dịch: 3 số báo Đuốc Tuệ.
    • Phiên – Dịch: 11 đầu sách, 51 số báo Đuốc Tuệ.
    • Nôm – Quốc ngữ: 1 đầu sách.
      Tổng cộng, khoảng 90 tư liệu đa hành văn tự được xác định, cho thấy sự phổ biến và đa dạng của hiện tượng này trong các văn bản Phật giáo miền Bắc.
  2. Vai trò chữ Quốc ngữ trong đa hành văn tự:
    Chữ Quốc ngữ được sử dụng chủ yếu để phiên âm chữ Hán (âm Hán Việt) hoặc dịch nghĩa kinh điển Phật giáo, giúp mở rộng đối tượng độc giả, đặc biệt là tín đồ bình dân không thông thạo chữ Hán. Ví dụ, báo Đuốc Tuệ (xuất bản 1935 – 1945) là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Phật giáo Bắc Kỳ, sử dụng chữ Quốc ngữ làm công cụ hoằng pháp chính, với nhiều bài dịch kinh Phật kèm nguyên văn chữ Hán.

  3. Sự chuyển đổi trong phương thức in ấn:
    Các bản in đa hành văn tự được sản xuất bằng cả phương pháp truyền thống (ván khắc) và công nghệ in hiện đại (in typo). Nhà in Đuốc Tuệ là điển hình cho việc áp dụng công nghệ in mới, góp phần nâng cao chất lượng và phạm vi phát hành các văn bản Phật giáo đa hành văn tự.

  4. Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo:
    Phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc đã thúc đẩy việc biên soạn, phiên dịch và xuất bản các văn bản đa hành văn tự nhằm phục vụ công tác giáo dục, hoằng pháp và truyền bá Phật giáo trong bối cảnh xã hội Việt Nam chuyển đổi mạnh mẽ về giáo dục và ngôn ngữ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân xuất hiện đa hành văn tự trong các bản in Phật giáo miền Bắc giai đoạn 1924 – 1954 có thể giải thích bởi nhu cầu truyền bá giáo lý Phật giáo đến nhiều đối tượng tín đồ với trình độ chữ viết khác nhau. Chữ Hán vẫn giữ vai trò truyền thống trong giáo lý, trong khi chữ Quốc ngữ được sử dụng để phiên âm và dịch nghĩa, giúp người đọc không biết chữ Hán có thể tiếp cận nội dung.

So sánh với các nghiên cứu trước đây về đa hành văn tự trong văn bản ngữ văn cổ điển Việt Nam, nghiên cứu này mở rộng phạm vi sang giai đoạn hiện đại, đồng thời làm rõ vai trò của chữ Quốc ngữ trong bối cảnh chấn hưng Phật giáo. Việc sử dụng đa hành văn tự không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ – văn tự mà còn phản ánh sự chuyển đổi văn hóa, giáo dục và xã hội.

Dữ liệu có thể được trình bày qua các biểu đồ phân bố số lượng tư liệu theo loại đa hành văn tự, bảng thống kê số lượng đầu sách, báo chí, và các bộ ván in theo từng loại văn tự. Bảng so sánh các phương thức in ấn truyền thống và hiện đại cũng giúp minh họa sự chuyển đổi công nghệ in ấn trong giai đoạn này.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Tăng cường số hóa và bảo tồn tư liệu đa hành văn tự:
    Chủ thể: Thư viện Quốc gia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
    Mục tiêu: Bảo tồn và phổ biến các tư liệu đa hành văn tự Phật giáo miền Bắc
    Timeline: 2 năm
    Hành động: Số hóa toàn bộ tư liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến phục vụ nghiên cứu và giáo dục.

  2. Phát triển nghiên cứu phiên dịch học Phật giáo đầu thế kỷ 20:
    Chủ thể: Các viện nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo
    Mục tiêu: Hiểu sâu hơn về phương pháp phiên dịch và ảnh hưởng của đa hành văn tự
    Timeline: 3 năm
    Hành động: Tổ chức hội thảo, xuất bản công trình nghiên cứu chuyên sâu, đào tạo chuyên ngành.

  3. Ứng dụng đa hành văn tự trong giáo dục Phật giáo hiện đại:
    Chủ thể: Các trường Phật học, tổ chức Phật giáo
    Mục tiêu: Tăng cường hiệu quả truyền bá giáo lý qua đa dạng văn tự
    Timeline: 1-2 năm
    Hành động: Biên soạn tài liệu học tập song ngữ, tổ chức lớp học sử dụng đa hành văn tự.

  4. Khuyến khích hợp tác quốc tế trong nghiên cứu văn hóa in ấn và đa hành văn tự:
    Chủ thể: Các trường đại học, viện nghiên cứu trong và ngoài nước
    Mục tiêu: Mở rộng tầm nhìn nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm quốc tế
    Timeline: Liên tục
    Hành động: Thiết lập dự án hợp tác, trao đổi học giả, tổ chức hội nghị quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam:
    Giúp hiểu rõ hiện tượng đa hành văn tự trong lịch sử ngữ văn Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực Phật giáo.

  2. Chuyên gia phiên dịch học và dịch thuật:
    Cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phương pháp phiên dịch, dịch thuật trong bối cảnh đa văn tự.

  3. Giáo viên và sinh viên ngành Hán Nôm, Văn học cổ điển:
    Hỗ trợ nghiên cứu, giảng dạy về văn bản cổ, lịch sử chữ viết và văn hóa truyền thống.

  4. Tổ chức Phật giáo và các trường Phật học:
    Áp dụng kết quả nghiên cứu để phát triển tài liệu giảng dạy, hoằng pháp phù hợp với đa dạng đối tượng tín đồ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đa hành văn tự là gì và khác gì với hỗn nhập văn tự?
    Đa hành văn tự là hiện tượng tồn tại đồng thời nhiều loại văn tự trong một văn bản, mỗi loại độc lập biểu đạt cùng một nội dung. Hỗn nhập văn tự là sự kết hợp xen kẽ các văn tự để tạo thành một nội dung hoàn chỉnh. Ví dụ, văn bản Hán – Nôm song hành là đa hành văn tự, còn văn bản tiếng Nhật dùng Kanji, Hiragana xen kẽ là hỗn nhập văn tự.

  2. Tại sao chữ Quốc ngữ được sử dụng trong các bản in Phật giáo miền Bắc giai đoạn 1924 – 1954?
    Chữ Quốc ngữ được sử dụng để phiên âm và dịch nghĩa kinh điển Phật giáo nhằm mở rộng đối tượng độc giả, đặc biệt là tín đồ không biết chữ Hán, đồng thời phù hợp với xu hướng phổ cập chữ Quốc ngữ trong giáo dục và xã hội thời kỳ đó.

  3. Các loại đa hành văn tự phổ biến trong văn bản Phật giáo miền Bắc là gì?
    Bao gồm: Hán – Quốc ngữ đối phiên (phiên âm Hán Việt bằng Quốc ngữ), dịch (dịch nghĩa từ Hán sang Quốc ngữ), phiên – dịch kết hợp, và Nôm – Quốc ngữ. Trong đó, Hán – Quốc ngữ đối phiên chiếm số lượng lớn nhất.

  4. Phong trào chấn hưng Phật giáo ảnh hưởng thế nào đến hiện tượng đa hành văn tự?
    Phong trào chấn hưng thúc đẩy việc biên soạn, phiên dịch và xuất bản các văn bản Phật giáo bằng đa hành văn tự nhằm truyền bá giáo lý rộng rãi, đồng thời sử dụng chữ Quốc ngữ làm công cụ hoằng pháp hiệu quả trong bối cảnh xã hội chuyển đổi.

  5. Phương pháp nghiên cứu nào được sử dụng để phân tích đa hành văn tự?
    Phương pháp ngữ văn học (philology) kết hợp với phiên dịch học và văn bản học, sử dụng phân tích ngôn ngữ – văn tự, so sánh, thống kê, tổng hợp để nhận diện, phân loại và giải thích hiện tượng đa hành văn tự trong các bản in Phật giáo.

Kết luận

  • Hiện tượng đa hành văn tự là đặc trưng nổi bật trong các bản in Phật giáo miền Bắc giai đoạn 1924 – 1954, với sự kết hợp chủ yếu của chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.
  • Chữ Quốc ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc phiên âm và dịch nghĩa kinh điển, góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận giáo lý Phật giáo.
  • Phong trào chấn hưng Phật giáo và sự chuyển đổi giáo dục – xã hội đầu thế kỷ 20 là động lực thúc đẩy sự phát triển của đa hành văn tự trong văn bản Phật giáo.
  • Nghiên cứu sử dụng phương pháp ngữ văn học kết hợp phiên dịch học và văn hóa in ấn để phân tích, phân loại và làm rõ giá trị của các tư liệu đa hành văn tự.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn, nghiên cứu sâu hơn và ứng dụng đa hành văn tự trong giáo dục và hoằng pháp Phật giáo hiện đại.

Next steps: Tiếp tục số hóa tư liệu, mở rộng nghiên cứu phiên dịch học, phát triển tài liệu giáo dục đa hành văn tự, và tăng cường hợp tác quốc tế.

Các nhà nghiên cứu, tổ chức giáo dục và Phật giáo nên phối hợp để bảo tồn và phát huy giá trị của hiện tượng đa hành văn tự trong di sản văn hóa Việt Nam.