Chương 1 giới thiệu cơ sở lý luận làm nền tảng cho nghiên cứu bao gồm khái niệm chuyển ngữ, phân biệt chuyển ngữ và trộn ngữ, từ vay mượn, xác định chức năng và các loại chuyển ngữ được sử dụng, đồng thời phân tích những ưu điểm và hạn chế của sử dụng chuyển ngữ trong việc học ngoại ngữ nói chung và kỹ năng Nói nói riêng. Chương 2 trình bày và lý giải việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, công cụ thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu, đồng thời mô tả quá trình thu thập dữ liệu, mã hóa để bảo vệ tính riêng tư của khách thể, phù hợp với đạo đức nghiên cứu. Chương 3 phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu thu được bao gồm nhận thức của sinh viên về hiện tượng chuyển ngữ, tần suất sử dụng chuyển ngữ từ đó so sánh việc sử dụng chuyển ngữ của sinh viên năm thứ và sinh viên năm thứ hai, tìm hiểu nhận thức của sinh viên về những ảnh hưởng tích cực 7 cũng như các hạn chế của việc sử dụng chuyển ngữ đến việc rèn luyện kỹ năng Nói tiếng Anh tại lớp. Phần Kết luận và đề xuất giải pháp được đưa ra dựa trên cơ sở những kết quả thu được đã trình bày trong chương 3.
Các đề xuất dành cho cả người học, giáo viên và cơ sở đào tạo nhằm cải thiện việc học kỹ năng giao tiếp, đặc biệt kỹ năng Nói tiếng Anh cho sinh viên, cụ thể nâng cao sự hiểu biết về khái niệm chuyển ngữ, nhận thức rõ việc sử dụng chuyển ngữ một cách thích hợp với các ngữ cảnh giao tiếp, hạn chế hay tối giản việc sử dụng chuyển ngữ nhằm phát triển kỹ năng Nói tiếng Anh. CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến hiện tượng chuyển ngữ bao gồm khái niệm, phân biệt chuyển ngữ với trộn ngữ, chức năng chuyển ngữ, phân loại chuyển ngữ đến việc sử dụng chuyển ngữ trong hoạt động nói tiếng Anh cùng với những ưu điểm và hạn chế. Những cơ sở lý luận này là nền tảng để đưa ra các đề xuất để cải thiện việc học ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai) trong môi trường tiếng mẹ đẻ chiếm ưu thế.1 Định nghĩa Chuyển ngữ (code-switching), là một hiện tượng tự nhiên của song ngữ (Cheng & Butler, 1989) hay tự nhiên xuất hiện “khi người nói sử dụng hơn một ngôn ngữ sẵn có để chuyển hay trộn lẫn với ngôn ngữ khác nhằm truyền đạt nội dung lời nói” (Jenkins, 2009). Chuyển ngữ thường được nghiên cứu từ hai lĩnh vực khác nhau: ngôn ngữ học và xã hội học, vì vậy cũng có nhiều định nghĩa khác nhau.
Trên phương diện ngôn ngữ học và xã hội học, khi nghiên cứu hiện tượng chuyển ngữ trong bối cảnh xã hội và người giao tiếp sử dụng song ngữ, nhiều nhà nghiên cứu đã chú trọng vào thể loại và chức năng của chuyển ngữ (Gumperz, 1982; Myers-Scotton, 1993; Poplack, 1980). Đầu tiên, Valdes- Fallis (1978) cho rằng chuyển ngữ là khả năng hoán đổi hai ngôn ngữ bằng cách chuyển, mượn hoặc trộn các từ với nhau. Gumperz xem chuyển ngữ là việc sử dụng những từ/ngữ gần giống nhau của hai hệ thống ngôn ngữ khác nhau khi phát ngôn (1982). Eastman (1992) gọi chuyển ngữ là một hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ, đặc trưng của các cộng đồng đa ngôn ngữ.
Kaschula và Anthonissen (1995) tranh luận rằng chuyển ngữ liên quan đến việc sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ trong cùng một hội thoại, hay thậm chí trong cùng một câu của hội thoại đó. Cook (2001) đã đưa ra khái niệm chuyển ngữ là quá trình chuyển đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác trong đối thoại khi cả 9 hai người nói đều biết cùng một ngôn ngữ đó. Bên cạnh lĩnh vực xã hội học và ngôn ngữ học, có nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng chuyển ngữ nhằm xây dựng một môi trường tốt cho các nhà nghiên cứu tương lai ở nhiều lĩnh vực khác nữa, đặc biệt giáo dục (Auer, 1998; Canagarajah, 1995; Kang, 2013, Liu, Ahn, Beak, & Han, 2004; Macaro, 2001; Myers, 1990; Nguyen, 2013). Với các định nghĩa ở trên, có thể thấy chuyển ngữ là một hiện tượng tự nhiên xảy ra khá phổ biến trong cộng đồng song ngữ và đa ngôn ngữ, đặc biệt trong các lớp học ngoại ngữ khi người nói sử dụng luân phiên hai ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai nhằm giải thích từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp, hay bản hướng dẫn, v.
Theo Nguyen (2013), trong các lớp học ngôn ngữ, hiện tượng chuyển ngữ đã thu hút ngày càng nhiều nhà giáo dục nghiên cứu các loại chuyển ngữ khác nhau, những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của việc sử dụng chuyển ngữ đối với người học ngoại ngữ, nhất là kỹ năng giao tiếp nói chung và kỹ năng Nói nói riêng.2 Phân biệt khái niệm chuyển ngữ (code-switching), trộn ngữ (code- mixing) và vay mượn từ (word borrowing) Chuyển ngữ và trộn ngữ Khái niệm chuyển ngữ đôi khi được hiểu là trộn ngữ; tuy nhiên một vài nhà nghiên cứu đã phân biệt hai khái niệm này như sau: Muysken (2004) và Wardhaugh (1992) cho rằng trộn ngữ xảy ra ở từ vựng trong một câu, còn chuyển ngữ là sự chuyển đổi ngôn ngữ giữa các mệnh đề, câu, hay lời nói. Ritchie và Bhatia (2004) (trích dẫn trong Tran, 2012) đã phân biệt chuyển ngữ với trộn ngữ khi sử dụng các đơn vị ngôn ngữ khác nhau như từ, cụm từ, mệnh đề, và câu qua ranh giới câu trong một bài diễn văn (đối với chuyển ngữ) và hình vị, từ, bổ ngữ, cụm từ, mệnh đề và câu trong một câu (đối với trộn ngữ). Nói cách khác, chuyển ngữ có thể xảy ra ở các câu hay ở cấp độ giữa các câu với nhau (inter-sentential level), còn trộn ngữ chỉ xảy ra trong một câu (intra- sentential level). Ví dụ, trong cuộc nói chuyện giữa hai người A và B dưới 10 đây, chúng ta thấy họ đã sử dụng cả chuyển ngữ và trộn ngữ Việt-Anh.
“code- switching” , “Mr.” là chuyển ngữ, “bóc phốt” là trộn ngữ “ Việt- Anh” từ “ bóc “ (làm lộ ra), “phốt” có nguồn gốc từ tiếng Anh “fault” nghĩa là lỗi. A: Sao mày cứ xen kẽ tiếng Anh -Việt thế? B: Không biết nữa, tao rành hai ngôn ngữ nên code-switching cho thoải mái. Vừa rồi biết chuyện gì xảy ra với Mr. À, vụ bóc phốt ấy à… Thật ra, không có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm chuyển ngữ và trộn ngữ, theo Hamers và Blanc (2000) trộn ngữ cũng như chuyển ngữ là sự biến chuyển các yếu tố từ ngôn ngữ A hay từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ B.
Chuyển ngữ và vay mượn từ Theo Hoffmann (1991), các từ vay mượn mang đặc điểm của ngôn ngữ, nghĩa là khi từ vựng của một ngôn ngữ được đưa vào sử dụng trong một hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ khác và được cộng đồng sử dụng sau một quá trình đồng hóa các khía cạnh nào đó. Quá trình đồng hóa có thể xảy ra qua cách phát âm và/hoặc ngữ pháp và/hoặc chính tả. Một vài nhà nghiên cứu như Haugen (1956) và Poplack (1980) tranh luận có thể phân biệt giữa chuyển ngữ và vay mượn từ dựa vào sự đồng hóa và cấp độ đơn vị ngôn ngữ của hiện tượng. Ví dụ, Poplack (1980) phân biệt rằng vay mượn từ là sự thích ứng của từ vựng với các mẫu hình thái, cú pháp và ngữ âm của ngôn ngữ nhận.
Việc sử dụng các từ hoặc cụm từ của một ngôn ngữ đã trở thành một phần của ngôn ngữ khác thì không thể xem là chuyển ngữ, sử dụng thay thế của hai ngôn ngữ (Haugen, 1956). Các nhà nghiên cứu khác như Gardner-Chloros (2009), Hamers & Blanc (2000), Myers-Scotton (1993) có quan điểm ngược lại khi tranh luận rằng vay mượn từ và chuyển ngữ là các hiện tượng tiếp nối liên tục. Tương tự, Baker (2006) cho rằng thật khó để đưa ra các tiêu chí phân biệt giữa chuyển 11 ngữ và từ vay mượn bởi vì chúng không phải là các thực thể có thể tách rời nhau. Khi từ vựng của ngôn ngữ được các cá nhân sử dụng đầu tiên, chúng được xem là từ chuyển ngữ, nhưng sau một quá trình được sử dụng thường xuyên bởi một nhóm cá nhân hay cộng đồng, chúng trở thành từ vay mượn.3 Phân loại chuyển ngữ Điểm qua một số nghiên cứu về chuyển ngữ của nhiều nhà nghiên cứu, chúng ta thấy rằng một số loại chuyển ngữ tùy thuộc vào chức năng hoặc các yếu tố ngôn ngữ của chúng.
Blom và Gumperz (1972 & 2000) đã phân loại chuyển ngữ dựa trên các chức năng của chúng thành chuyển ngữ tình huống và chuyển ngữ ẩn dụ (hay chuyển ngữ trong hội thoại). Theo các nhà nghiên cứu này, chuyển ngữ tình huống đề cập đến sự thay đổi về ngữ cảnh hay người tham gia có thay đổi về việc chọn lựa ngôn ngữ, còn chuyển ngữ ẩn dụ xảy ra khi có sự thay đổi chủ đề với cùng một ngữ cảnh và cùng người tham gia. Dựa trên các yếu tố ngôn ngữ học, Poplack (1980) chia chuyển ngữ thành ba loại: 1/chuyển ngữ xảy ra ở dạng câu bổ sung hay chuyển phụ cú (extra-sentential switching hay tag-switching), 2/ chuyển ngữ xảy ra trong một mệnh đề hay một câu- chuyển ngang câu (intra-sentential switching), và 3/ chuyển ngữ xảy ra ở cấp độ giữa các câu với nhau - chuyển liên câu (inter-sentential level). Thứ nhất, chuyển phụ cú đề cập đến việc chèn từ hay thêm từ/cụm từ của một ngôn ngữ này vào một câu nói của một ngôn ngữ khác.
Ví dụ phần thêm vào bằng tiếng Việt trong một câu tiếng Anh: “À, do you understand what I say? (À, bạn có hiểu những gì mình nói không?)”. Một số ví dụ về các từ/cụm từ tiếng Việt hay được chèn vào lời nói tiếng Anh như: “Trời ơi”, “rõ chưa?”, “Sai không?”, “Ý tôi là”, “như bạn biết đấy”, v. Đây là một ví dụ được trích ra từ cuộc trò chuyện của sinh viên về Thảm họa thiên nhiên trong lớp nói tiếng Anh của chúng tôi: “Ý mình là you have to talk about the special thing you find necessary to bring with you in case of natural disaster” thay vì “I mean you have to talk about the special thing you find necessary to bring 12 with you in case of natural disaster” (Ý mình là bạn phải nói về những vật đặc biệt cần thiết để mang theo trong trường hợp thiên tai xảy ra). Thứ hai, chuyển ngang câu đề cập đến các chuyển ngữ xảy ra trong ranh giới mệnh đề hoặc câu.
Ví dụ, “give me some examples of nỗi sợ, à pho- bia when you were a child” (hãy cho tôi một vài ví dụ về nỗi sợ, à nỗi ám ảnh khi bạn còn nhỏ”.