Luận án tiến sĩ hiện tượng chuyển mã tiếng anh trong giao tiếp tiếng việt trường hợp sinh viên chuyên ngữ ở một số trường đại học tại hà nội

Luận án tiến sĩ phân tích hiện tượng chuyển mã tiếng anh trong giao tiếp tiếng việt trường hợp sinh viên chuyên ngữ ở một số, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

193
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên ngữ liệu tiếng Việt và ở Việt Nam

1.4. Mã và sự lựa chọn mã trong giao tiếp

1.5. Sự lựa chọn mã trong giao tiếp

1.6. Chuyển mã và các khái niệm có liên quan

1.7. Song ngữ, đa ngữ, người song ngữ, người đa ngữ

1.8. Mô hình khung ngôn ngữ ma trận (the matrix language frame - MLF)

1.9. Các khái niệm cơ bản của khung lí thuyết

1.10. Nội dung lí thuyết ngôn ngữ ma trận

1.11. Sự tương tác giữa ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ TIẾNG ANH TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

2.1. Khái quát một số đặc điểm ngữ pháp của tiếng Việt với tư cách là ngôn ngữ ma trận và tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ nhúng

2.2. Kết quả khảo sát hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt theo mô hình Khung ngôn ngữ ma trận

2.3. Các phát ngôn chỉ được tạo bởi ngôn ngữ nhúng

2.4. Phân loại theo cấu trúc

2.5. Phân loại theo mục đích nói/ ngôn trung

2.6. Các phát ngôn hỗn hợp được tạo bởi cả ngôn ngữ ma trận và ngôn ngữ nhúng

2.7. Các cù lao hỗn hợp

2.8. Các cù lao ngôn ngữ nhúng

2.9. Sự biến đổi ngữ âm của ngôn ngữ nhúng

2.10. Đặc điểm cấu trúc của các thành tố ngôn ngữ nhúng

2.11. Đặc điểm từ loại của các thành tố/ hình vị nội dung của ngôn ngữ nhúng

3. CHƯƠNG 3: ĐỘNG CƠ VÀ THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ ĐỐI VỚI HIỆN TƯỢNG CHUYỂN MÃ TIẾNG ANH TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

3.1. Động cơ chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

3.2. Mô hình đánh dấu

3.3. Cơ sở của nghiên cứu và cách thức thực hiện nghiên cứu

3.4. Kết quả nghiên cứu

3.4.1. Chuyển mã không đánh dấu do thói quen của người nói

3.4.2. Chuyển mã có đánh dấu và các động cơ chuyển mã

3.5. Thái độ ngôn ngữ đối với hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

3.5.1. Vài nét về thái độ ngôn ngữ

3.5.2. Vài nét về tư liệu và các đặc trưng của mẫu

3.5.3. Phương pháp

3.5.4. Các đặc trưng của mẫu

3.5.5. Kết quả phân tích và thảo luận

3.5.5.1. Thái độ của sinh viên với tư cách là chủ thể chuyển mã
3.5.5.2. Thái độ của sinh viên với tư cách người tiếp nhận hiện tượng chuyển mã
3.5.5.3. Ảnh hưởng của các đặc trưng xã hội đối với tần suất chuyển mã và thái độ đối với hiện tượng chuyển mã

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt

Hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt đang trở thành một chủ đề nóng hổi trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc sử dụng tiếng Anh ngày càng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của sinh viên chuyên ngữ tại Hà Nội. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các khía cạnh của hiện tượng này, từ động cơ đến thái độ của sinh viên đối với việc sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về chuyển mã trong ngôn ngữ học

Chuyển mã là hiện tượng sử dụng hai hoặc nhiều ngôn ngữ trong một cuộc hội thoại. Trong ngữ cảnh tiếng Việt, chuyển mã tiếng Anh thường xảy ra khi người nói sử dụng từ hoặc cụm từ tiếng Anh xen lẫn trong câu tiếng Việt. Điều này không chỉ phản ánh sự ảnh hưởng của tiếng Anh mà còn cho thấy sự thay đổi trong hành vi ngôn ngữ của người Việt.

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã tại Việt Nam

Nghiên cứu về chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt đã được thực hiện ở nhiều trường đại học tại Hà Nội. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng sinh viên chuyên ngữ có xu hướng sử dụng tiếng Anh nhiều hơn trong giao tiếp hàng ngày, điều này phản ánh sự thay đổi trong thói quen ngôn ngữ và nhu cầu giao tiếp toàn cầu.

II. Vấn đề và thách thức trong hiện tượng chuyển mã tiếng Anh

Mặc dù chuyển mã tiếng Anh mang lại nhiều lợi ích trong giao tiếp, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Việc sử dụng tiếng Anh không đúng cách có thể dẫn đến sự hiểu lầm và làm giảm tính trong sáng của tiếng Việt. Hơn nữa, việc lạm dụng tiếng Anh có thể gây ra sự phân hóa trong xã hội, đặc biệt là giữa những người có khả năng sử dụng tiếng Anh và những người không có.

2.1. Ảnh hưởng của chuyển mã đến sự trong sáng của tiếng Việt

Việc sử dụng chuyển mã tiếng Anh có thể làm giảm tính trong sáng của tiếng Việt. Nhiều từ ngữ tiếng Anh được sử dụng mà không có sự hiểu biết đầy đủ về ngữ cảnh, dẫn đến việc mất đi ý nghĩa gốc của từ. Điều này có thể gây khó khăn cho những người không quen với tiếng Anh trong việc hiểu nội dung giao tiếp.

2.2. Sự phân hóa trong xã hội do chuyển mã

Sự phân hóa giữa những người có khả năng sử dụng tiếng Anh và những người không có có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong giao tiếp. Những sinh viên chuyên ngữ thường có lợi thế hơn trong việc giao tiếp và tiếp cận thông tin, trong khi những người không chuyên ngữ có thể cảm thấy bị loại trừ.

III. Phương pháp nghiên cứu hiện tượng chuyển mã tiếng Anh

Để nghiên cứu hiện tượng chuyển mã tiếng Anh, các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội đã được áp dụng. Các cuộc khảo sát, phỏng vấn và phân tích ngữ liệu từ các hội thoại tự nhiên của sinh viên chuyên ngữ là những phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này.

3.1. Phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 200 sinh viên chuyên ngữ tại Hà Nội để thu thập dữ liệu về thói quen sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp. Các câu hỏi được thiết kế để tìm hiểu động cơ và thái độ của sinh viên đối với chuyển mã tiếng Anh.

3.2. Phân tích ngữ liệu từ hội thoại tự nhiên

Dữ liệu từ các hội thoại tự nhiên của sinh viên được phân tích để xác định các mẫu chuyển mã và động cơ sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp. Phân tích này giúp làm rõ các yếu tố ngữ pháp và xã hội ảnh hưởng đến hành vi chuyển mã.

IV. Kết quả nghiên cứu về chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chuyển mã tiếng Anh không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn phản ánh sự thay đổi trong hành vi giao tiếp của sinh viên. Nhiều sinh viên cho rằng việc sử dụng tiếng Anh giúp họ tự tin hơn trong giao tiếp và mở rộng khả năng tiếp cận thông tin.

4.1. Động cơ sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp

Nghiên cứu chỉ ra rằng động cơ chính của sinh viên khi sử dụng chuyển mã tiếng Anh là để thể hiện sự hiện đại và hội nhập. Họ cảm thấy việc sử dụng tiếng Anh giúp họ giao tiếp hiệu quả hơn trong môi trường học tập và làm việc quốc tế.

4.2. Thái độ của sinh viên đối với hiện tượng chuyển mã

Thái độ của sinh viên đối với chuyển mã tiếng Anh chủ yếu tích cực. Họ coi đây là một phần không thể thiếu trong giao tiếp hiện đại, mặc dù cũng có những lo ngại về việc mất đi bản sắc ngôn ngữ Việt.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hiện tượng chuyển mã

Hiện tượng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt sẽ tiếp tục phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc hiểu rõ các động cơ và thái độ của sinh viên đối với hiện tượng này sẽ giúp các nhà nghiên cứu và giáo dục có những phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.

5.1. Tương lai của chuyển mã trong giao tiếp tiếng Việt

Dự báo rằng chuyển mã tiếng Anh sẽ trở thành một phần quan trọng trong giao tiếp tiếng Việt, đặc biệt là trong các môi trường học thuật và chuyên nghiệp. Việc giáo dục về cách sử dụng tiếng Anh một cách hợp lý sẽ là cần thiết để bảo tồn sự trong sáng của tiếng Việt.

5.2. Đề xuất giải pháp cho việc sử dụng chuyển mã

Cần có các chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về việc sử dụng chuyển mã tiếng Anh một cách hợp lý. Các nhà giáo dục nên khuyến khích sinh viên sử dụng tiếng Việt một cách chính xác trong khi vẫn cho phép sự sáng tạo trong việc sử dụng tiếng Anh.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ hiện tượng chuyển mã tiếng anh trong giao tiếp tiếng việt trường hợp sinh viên chuyên ngữ ở một số trường đại học tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nguồn tƣ liệu trích dẫn và Phụ lục, luận án có cấu trúc 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2. Đặc điểm hiện tƣợng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt Chƣơng 3. Động cơ và thái độ ngôn ngữ đối với hiện tƣợng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HIỆN TƢỢNG CHUYỂN MÃ 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tƣợng chuyển mã 1. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên thế giới Có thể nói lịch sử nghiên cứu về hiện tƣợng chuyển mã trong ngôn ngữ học đƣợc bắt đầu bằng những mô tả của nhà nhân chủng học ngƣời Mỹ là Barker năm 1947 về vấn đề lựa chọn ngôn ngữ và hiện tƣợng chuyển mã xuất hiện trong cộng đồng ngƣời Mỹ gốc Mexico sinh sống ở Tucson, thuộc bang Arizona (Nilep, C. Ngoài các phân tích về các mối quan hệ kinh tế-xã hội hay vị trí địa lí, trong nghiên cứu của mình, Barker còn cố gắng trả lời các câu hỏi, chẳng hạn: Những ngƣời song ngữ đã lựa chọn ngôn ngữ và chuyển mã nhƣ thế nào? Có phải trong trƣờng hợp này thì họ sử dụng tiếng mẹ đẻ, trƣờng hợp khác thì lại sử dụng tiếng Anh hay không? Nhóm ngƣời này sẽ sử dụng hai ngôn ngữ luân phiên trong những cảnh huống nhất định mà không có nguyên nhân rõ ràng hay có một nguyên nhân cụ thể nào đó chi phối?. Trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy tiếng Tây Ban Nha (tiếng mẹ đẻ của ngƣời Mexico) thƣờng đƣợc sử dụng trong các cuộc trò chuyện giữa những ngƣời bạn thân hoặc giữa các thành viên trong gia đình, còn trong các cuộc đối thoại mang tính trang trọng với những ngƣời Mỹ gốc Anh thì họ thƣờng sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ để giao tiếp (mặc dù cả hai bên hoàn toàn có thể tƣơng tác đƣợc bằng tiếng Tây Ban Nha).

Sau khi tiến hành phân tích, Barker nhận định sự lựa chọn ngôn ngữ là không cố định trong các tình huống không rõ ràng, các yếu tố của cả hai ngôn ngữ có thể cùng xuất hiện. Thêm vào đó, có một hiện tƣợng đặc thù trong giới trẻ, họ là những ngƣời có xu hƣớng sử dụng nhiều ngôn ngữ (đa ngôn ngữ-multiple languages) trong cùng một tƣơng tác hơn là nhóm ngƣời trung niên và chính điều này có lẽ đã cấu thành một cộng đồng ngƣời ở Tucson nhƣ thế (Nilep, C. Năm 1953,Weinreich đã cho ra đời cuốn sách mang tên “Language in Contact”. Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu quan trọng và nền tảng về hiện tƣợng chuyển mã trong ngôn ngữ học.

Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc mô tả các hoạt động ngôn ngữ diễn ra trong nhiều cộng đồng ngƣời song ngữ, tác giả còn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dành sự quan tâm đến việc mô tả những ảnh hƣởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lên các ngôn ngữ.Từ đó, ông cũng đi đến kết luận cho rằng những mô tả của Barker (1947) về cộng động ngƣời song ngữ ở Tucson là chƣa thật đầy đủ. Bởi lẽ, theo ông, nếu chỉ căn cứ vào bốn tình huống phát ngôn: thân mật, thông thƣờng (suồng sã), trang trọng (lịch sự) và diễn ngôn liên nhóm (inter-group discourse) để mô tả tất cả những tổ chức cấu trúc tiềm tàng của các phát ngôn song ngữ (all potential organizations of bilingual speech) thì chƣa đầy đủ. Theo ông, các nhà nghiên cứu cần nhìn nhận vấn đề này dƣới góc độ của cấu trúc luận (structuralism)-tức là cần mô tả, quan sát và phân tích thói quen sử dụng các diễn ngôn song ngữ kết hợp với quá trình thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition process), quá trình xã hội hóa ngôn ngữ (language socialization process) đang diễn ra trong các cộng đồng song ngữ (bilingual communities) (Nilep, C. Lấy cảm hứng từ cuốn sách “Language in Contact”của Weinreich (1953), Hans Vogt đã công bố một bài báo nghiên cứu về hiện tƣợng chuyển mã song ngữ năm 1954.

Tác giả cho rằng chuyển mã, bản thân nó, có lẽ không phải là một hiện tƣợng ngôn ngữ học mà là một hiện tƣợng tâm lí học, và nguyên nhân của hiện tƣợng này rõ ràng là đến từ bên ngoài ngôn ngữ. Từ lập luận trên, tác giả nhận định chuyển mã không những là một hiện tƣợng ngôn ngữ tự nhiên mà còn là hiện tƣợng ngôn ngữ- xã hội phổ biến (Nilep, C. Tiếp theo những nghiên cứu khởi đầu đó là hàng loạt các nghiên cứu khác về hiện tƣợng chuyển mã. Theo những gì mà chúng tôi tiếp cận đƣợc, có ba lĩnh vực liên quan đến chuyển mã đƣợc các học giả trên thế giới quan tâm, đó là: (1) Các nghiên cứu theo hƣớng tiếp cận tâm lí học xã hội (the social psychological approach); (2) Một số nghiên cứu đặc tính (identity) của hiện tƣợng chuyển mã; và (3) Hiện tƣợng chuyển mã và các ảnh hƣởng của hiện tƣợng này lên các tƣơng tác hội thoại.

(1) Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm lí học xã hội (the socio- psychological approach) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là một hƣớng nghiên cứu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi. Hai mô hình quan trọng đƣợc biết đến nhiều nhất theo hƣớng này là Mô hình đánh dấu và Mô hình Khung ngôn ngữ ma trận. Tính đánh dấu (markedness) là khái niệm đƣợc các tác giả nổi tiếng thuộc trƣờng phái ngôn ngữ học cấu trúc (structural linguistics) nhắc đến từ nửa đầu thế kỷ XX nhƣ Trubetzkoy (1939-1969); Jakobson (1979); Battistella (1990, 1996). Theo tác giả, mỗi ngôn ngữ trong các cộng đồng đa ngữ đều đóng một vai trò xã hội đặc biệt.

Tƣơng tác trong hội thoại là một quá trình điều chỉnh mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên tham gia, và theo đó, cả của các ngôn ngữ tham gia (Myers-Scotton, 1993 [80]). Trong quá trình giao tiếp, nếu mã ngôn ngữ đặc trƣng của cả cộng đồng đƣợc lựa chọn và sử dụng thì điều đó có nghĩa là giữa ngƣời nói và ngƣời nghe có một mối quan hệ thân thiết. Còn khi ngƣời nói chuyển mã sang ngôn ngữ đại diện cho quyền lực và địa vị trong cộng đồng đó thì ắt mã ngôn ngữ đó sẽ khiến mối quan hệ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe trở lên khách sáo, xã giao và xa cách. Ngƣời giao tiếp thƣờng vận dụng các mã ngôn ngữ này nhằm hạ thấp địa vị của ngƣời nghe hoặc khi muốn nâng cao địa vị của bản thân (Myers-Scotton, 1993 [80]).

Nhƣ vậy, việc xác định ý nghĩa xã hội của việc lựa chọn mã ngôn ngữ cũng nhƣ những nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng luân phiên sử dụng các mã hoàn toàn dựa vào quyền và nghĩa vụ của ngƣời tham gia hội thoại (participant rights and obligations). Đánh giá về mô hình này, Auer (1998) không đồng tình vì cho rằng nó phụ thuộc quá nhiều vào những tri thức bên ngoài ngôn ngữ khi phải giả định về những gì ngƣời nói nhận thức đƣợc và tin tƣởng. Auer lập luận rằng ngƣời nghiên cứu hoàn toàn có thể giải thích đƣợc hành vi chuyển mã theo mô hình đánh dấu mà không nhất thiết phải có những hiểu biết về việc sử dụng ngôn ngữ của ngƣời nói bên ngoài hội thoại ấy (nghĩa là tình huống hội thoại có chuyển mã) (Auer, P. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy vậy, mô hình đánh dấu có lẽ vẫn là mô hình có hiệu lực và ngày càng đƣợc phát triển một cách hoàn chỉnh hơn để giải thích các động cơ dẫn đến hành vi chuyển mã.

Trong các công trình nghiên cứu sau này, Myers-Scotton và các cộng sự tiếp tục cải tiến mô hình này theo hƣớng phù hợp và nhất quán với các nghiên cứu hiện hành về lĩnh vực tiếp xúc ngôn ngữ (chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của Myers- Scotton năm 1998; Myers-Scotton & Bolonyai năm 2001) hay tuân theo lí thuyết chuẩn ngôn ngữ (Standard theory of linguistics) của Chomsky năm 1965 trong các nghiên cứu Myers-Scotton & Jake năm 2001 và Jake, Myers-Scotton & Gross năm 2002 (Nilep, C. Mô hình khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Frame model) là một mô hình rất nổi tiếng trong nghiên cứu chuyển mã ngôn ngữ. Mô hình này cũng do Myers-Scotton đề xuất lần đầu tiên năm 1999 và đƣợc hoàn thiện thêm vào năm 2002 (Myers-Scotton 1999, 2002 [82, 83]). Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã bàn luận về các nghiên cứu đi trƣớc liên quan đến hiện tƣợng chuyển mã và cho rằng những nghiên cứu đi trƣớc, do thiếu những cơ sở lí thuyết đặc hiệu nên đã có những lí giải chƣa thật thoả đáng về hiện tƣợng này.

Dựa trên những khảo sát của mình, Myers-Scotton đã đề xuất mô hình Khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Frame model) nhƣ là một phƣơng pháp cơ bản để tiếp cận sự sản sinh hiện tƣợng chuyển mã.Khác với các nghiên cứu trƣớc đây là chỉ đơn thuần mô tả những biểu hiện bề mặt của hiện tƣợng chuyển mã, nghiên cứu của bà, do có một mô hình lí thuyết cơ động và có sức giải thích lớn, đã làm bộc lộ đƣợc bản chất bên trong và những cơ chế tƣơng tác ngữ pháp trong cấu trúc sâu của ngôn ngữ để lí giải sự biến đổi của hai ngôn ngữ tham gia vào các phát ngôn chuyển mã. Từ khi ra đời đến nay, mô hình Khung ngôn ngữ ma trận vẫn đƣợc xem là nguyên lí trung tâm, là cơ sở lí luận quan trọng mà các nhà ngôn ngữ học áp dụng để lí giải hiện tƣợng chuyển mã. (2) Một số nghiên cứu đặc tính (identity) của hiện tượng chuyển mã Trong khi Myers-Scotton và các cộng sự nghiên cứu mô hình đánh dấu với mong muốn có thể lí giải hiện tƣợng chuyển mã một cách khái quát và có hệ thống thì các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhƣ ngôn ngữ học nhân học (linguistic anthropology), ngôn ngữ học xã hội (sociolingusitics) và các lĩnh vực nghiên cứu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan của ngôn ngữ học xã hội văn hóa (socioculture linguistics) cũng cung cấp những kiến thức chung về hiện tƣợng chuyển mã trong những văn cảnh cụ thể. Chẳng hạn, các nhà dân tộc học tiêu biểu là Monica Heller (1999)-xem xét hiện tƣợng chuyển mã nhƣ một chiến lƣợc giao tiếp mang tính chính trị.

Tác giả lí giải rằng ngôn ngữ có xu hƣớng liên kết các tình huống của ngƣời nói, do đó, họ sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và điều này cho phép ngƣời nói đạt đƣợc nhiều mục đích giao tiếp hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ