phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nguồn tƣ liệu trích dẫn và Phụ lục, luận án có cấu trúc 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí thuyết Chƣơng 2. Đặc điểm hiện tƣợng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt Chƣơng 3. Động cơ và thái độ ngôn ngữ đối với hiện tƣợng chuyển mã tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Việt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HIỆN TƢỢNG CHUYỂN MÃ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu hiện tƣợng chuyển mã 1. Tình hình nghiên cứu hiện tượng chuyển mã trên thế giới Có thể nói lịch sử nghiên cứu về hiện tƣợng chuyển mã trong ngôn ngữ học đƣợc bắt đầu bằng những mô tả của nhà nhân chủng học ngƣời Mỹ là Barker năm 1947 về vấn đề lựa chọn ngôn ngữ và hiện tƣợng chuyển mã xuất hiện trong cộng đồng ngƣời Mỹ gốc Mexico sinh sống ở Tucson, thuộc bang Arizona (Nilep, C. Ngoài các phân tích về các mối quan hệ kinh tế-xã hội hay vị trí địa lí, trong nghiên cứu của mình, Barker còn cố gắng trả lời các câu hỏi, chẳng hạn: Những ngƣời song ngữ đã lựa chọn ngôn ngữ và chuyển mã nhƣ thế nào? Có phải trong trƣờng hợp này thì họ sử dụng tiếng mẹ đẻ, trƣờng hợp khác thì lại sử dụng tiếng Anh hay không? Nhóm ngƣời này sẽ sử dụng hai ngôn ngữ luân phiên trong những cảnh huống nhất định mà không có nguyên nhân rõ ràng hay có một nguyên nhân cụ thể nào đó chi phối?. Trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy tiếng Tây Ban Nha (tiếng mẹ đẻ của ngƣời Mexico) thƣờng đƣợc sử dụng trong các cuộc trò chuyện giữa những ngƣời bạn thân hoặc giữa các thành viên trong gia đình, còn trong các cuộc đối thoại mang tính trang trọng với những ngƣời Mỹ gốc Anh thì họ thƣờng sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ để giao tiếp (mặc dù cả hai bên hoàn toàn có thể tƣơng tác đƣợc bằng tiếng Tây Ban Nha).
Sau khi tiến hành phân tích, Barker nhận định sự lựa chọn ngôn ngữ là không cố định trong các tình huống không rõ ràng, các yếu tố của cả hai ngôn ngữ có thể cùng xuất hiện. Thêm vào đó, có một hiện tƣợng đặc thù trong giới trẻ, họ là những ngƣời có xu hƣớng sử dụng nhiều ngôn ngữ (đa ngôn ngữ-multiple languages) trong cùng một tƣơng tác hơn là nhóm ngƣời trung niên và chính điều này có lẽ đã cấu thành một cộng đồng ngƣời ở Tucson nhƣ thế (Nilep, C. Năm 1953,Weinreich đã cho ra đời cuốn sách mang tên “Language in Contact”. Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu quan trọng và nền tảng về hiện tƣợng chuyển mã trong ngôn ngữ học.
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc mô tả các hoạt động ngôn ngữ diễn ra trong nhiều cộng đồng ngƣời song ngữ, tác giả còn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dành sự quan tâm đến việc mô tả những ảnh hƣởng của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ lên các ngôn ngữ.Từ đó, ông cũng đi đến kết luận cho rằng những mô tả của Barker (1947) về cộng động ngƣời song ngữ ở Tucson là chƣa thật đầy đủ. Bởi lẽ, theo ông, nếu chỉ căn cứ vào bốn tình huống phát ngôn: thân mật, thông thƣờng (suồng sã), trang trọng (lịch sự) và diễn ngôn liên nhóm (inter-group discourse) để mô tả tất cả những tổ chức cấu trúc tiềm tàng của các phát ngôn song ngữ (all potential organizations of bilingual speech) thì chƣa đầy đủ. Theo ông, các nhà nghiên cứu cần nhìn nhận vấn đề này dƣới góc độ của cấu trúc luận (structuralism)-tức là cần mô tả, quan sát và phân tích thói quen sử dụng các diễn ngôn song ngữ kết hợp với quá trình thụ đắc ngôn ngữ (language acquisition process), quá trình xã hội hóa ngôn ngữ (language socialization process) đang diễn ra trong các cộng đồng song ngữ (bilingual communities) (Nilep, C. Lấy cảm hứng từ cuốn sách “Language in Contact”của Weinreich (1953), Hans Vogt đã công bố một bài báo nghiên cứu về hiện tƣợng chuyển mã song ngữ năm 1954.
Tác giả cho rằng chuyển mã, bản thân nó, có lẽ không phải là một hiện tƣợng ngôn ngữ học mà là một hiện tƣợng tâm lí học, và nguyên nhân của hiện tƣợng này rõ ràng là đến từ bên ngoài ngôn ngữ. Từ lập luận trên, tác giả nhận định chuyển mã không những là một hiện tƣợng ngôn ngữ tự nhiên mà còn là hiện tƣợng ngôn ngữ- xã hội phổ biến (Nilep, C. Tiếp theo những nghiên cứu khởi đầu đó là hàng loạt các nghiên cứu khác về hiện tƣợng chuyển mã. Theo những gì mà chúng tôi tiếp cận đƣợc, có ba lĩnh vực liên quan đến chuyển mã đƣợc các học giả trên thế giới quan tâm, đó là: (1) Các nghiên cứu theo hƣớng tiếp cận tâm lí học xã hội (the social psychological approach); (2) Một số nghiên cứu đặc tính (identity) của hiện tƣợng chuyển mã; và (3) Hiện tƣợng chuyển mã và các ảnh hƣởng của hiện tƣợng này lên các tƣơng tác hội thoại.
(1) Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận tâm lí học xã hội (the socio- psychological approach) 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là một hƣớng nghiên cứu đƣợc nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi. Hai mô hình quan trọng đƣợc biết đến nhiều nhất theo hƣớng này là Mô hình đánh dấu và Mô hình Khung ngôn ngữ ma trận. Tính đánh dấu (markedness) là khái niệm đƣợc các tác giả nổi tiếng thuộc trƣờng phái ngôn ngữ học cấu trúc (structural linguistics) nhắc đến từ nửa đầu thế kỷ XX nhƣ Trubetzkoy (1939-1969); Jakobson (1979); Battistella (1990, 1996). Theo tác giả, mỗi ngôn ngữ trong các cộng đồng đa ngữ đều đóng một vai trò xã hội đặc biệt.
Tƣơng tác trong hội thoại là một quá trình điều chỉnh mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ giữa hai bên tham gia, và theo đó, cả của các ngôn ngữ tham gia (Myers-Scotton, 1993 [80]). Trong quá trình giao tiếp, nếu mã ngôn ngữ đặc trƣng của cả cộng đồng đƣợc lựa chọn và sử dụng thì điều đó có nghĩa là giữa ngƣời nói và ngƣời nghe có một mối quan hệ thân thiết. Còn khi ngƣời nói chuyển mã sang ngôn ngữ đại diện cho quyền lực và địa vị trong cộng đồng đó thì ắt mã ngôn ngữ đó sẽ khiến mối quan hệ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe trở lên khách sáo, xã giao và xa cách. Ngƣời giao tiếp thƣờng vận dụng các mã ngôn ngữ này nhằm hạ thấp địa vị của ngƣời nghe hoặc khi muốn nâng cao địa vị của bản thân (Myers-Scotton, 1993 [80]).
Nhƣ vậy, việc xác định ý nghĩa xã hội của việc lựa chọn mã ngôn ngữ cũng nhƣ những nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng luân phiên sử dụng các mã hoàn toàn dựa vào quyền và nghĩa vụ của ngƣời tham gia hội thoại (participant rights and obligations). Đánh giá về mô hình này, Auer (1998) không đồng tình vì cho rằng nó phụ thuộc quá nhiều vào những tri thức bên ngoài ngôn ngữ khi phải giả định về những gì ngƣời nói nhận thức đƣợc và tin tƣởng. Auer lập luận rằng ngƣời nghiên cứu hoàn toàn có thể giải thích đƣợc hành vi chuyển mã theo mô hình đánh dấu mà không nhất thiết phải có những hiểu biết về việc sử dụng ngôn ngữ của ngƣời nói bên ngoài hội thoại ấy (nghĩa là tình huống hội thoại có chuyển mã) (Auer, P. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy vậy, mô hình đánh dấu có lẽ vẫn là mô hình có hiệu lực và ngày càng đƣợc phát triển một cách hoàn chỉnh hơn để giải thích các động cơ dẫn đến hành vi chuyển mã.
Trong các công trình nghiên cứu sau này, Myers-Scotton và các cộng sự tiếp tục cải tiến mô hình này theo hƣớng phù hợp và nhất quán với các nghiên cứu hiện hành về lĩnh vực tiếp xúc ngôn ngữ (chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của Myers- Scotton năm 1998; Myers-Scotton & Bolonyai năm 2001) hay tuân theo lí thuyết chuẩn ngôn ngữ (Standard theory of linguistics) của Chomsky năm 1965 trong các nghiên cứu Myers-Scotton & Jake năm 2001 và Jake, Myers-Scotton & Gross năm 2002 (Nilep, C. Mô hình khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Frame model) là một mô hình rất nổi tiếng trong nghiên cứu chuyển mã ngôn ngữ. Mô hình này cũng do Myers-Scotton đề xuất lần đầu tiên năm 1999 và đƣợc hoàn thiện thêm vào năm 2002 (Myers-Scotton 1999, 2002 [82, 83]). Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã bàn luận về các nghiên cứu đi trƣớc liên quan đến hiện tƣợng chuyển mã và cho rằng những nghiên cứu đi trƣớc, do thiếu những cơ sở lí thuyết đặc hiệu nên đã có những lí giải chƣa thật thoả đáng về hiện tƣợng này.
Dựa trên những khảo sát của mình, Myers-Scotton đã đề xuất mô hình Khung ngôn ngữ ma trận (Matrix Language Frame model) nhƣ là một phƣơng pháp cơ bản để tiếp cận sự sản sinh hiện tƣợng chuyển mã.Khác với các nghiên cứu trƣớc đây là chỉ đơn thuần mô tả những biểu hiện bề mặt của hiện tƣợng chuyển mã, nghiên cứu của bà, do có một mô hình lí thuyết cơ động và có sức giải thích lớn, đã làm bộc lộ đƣợc bản chất bên trong và những cơ chế tƣơng tác ngữ pháp trong cấu trúc sâu của ngôn ngữ để lí giải sự biến đổi của hai ngôn ngữ tham gia vào các phát ngôn chuyển mã. Từ khi ra đời đến nay, mô hình Khung ngôn ngữ ma trận vẫn đƣợc xem là nguyên lí trung tâm, là cơ sở lí luận quan trọng mà các nhà ngôn ngữ học áp dụng để lí giải hiện tƣợng chuyển mã. (2) Một số nghiên cứu đặc tính (identity) của hiện tượng chuyển mã Trong khi Myers-Scotton và các cộng sự nghiên cứu mô hình đánh dấu với mong muốn có thể lí giải hiện tƣợng chuyển mã một cách khái quát và có hệ thống thì các nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhƣ ngôn ngữ học nhân học (linguistic anthropology), ngôn ngữ học xã hội (sociolingusitics) và các lĩnh vực nghiên cứu 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan của ngôn ngữ học xã hội văn hóa (socioculture linguistics) cũng cung cấp những kiến thức chung về hiện tƣợng chuyển mã trong những văn cảnh cụ thể. Chẳng hạn, các nhà dân tộc học tiêu biểu là Monica Heller (1999)-xem xét hiện tƣợng chuyển mã nhƣ một chiến lƣợc giao tiếp mang tính chính trị.
Tác giả lí giải rằng ngôn ngữ có xu hƣớng liên kết các tình huống của ngƣời nói, do đó, họ sử dụng nhiều ngôn ngữ trong cùng một cuộc giao tiếp và điều này cho phép ngƣời nói đạt đƣợc nhiều mục đích giao tiếp hơn.