ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thú ở nƣớc ta khá đa dạng với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ thú (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Các loài thú có giá trị cao về mặt thực phẩm, dƣợc liệu và thƣơng mại nên là đối tƣợng săn bắt chủ yếu của thợ săn.Các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên là những khu vực có tài nguyên động vật rừng phong phú. Trong những năm 1960 – 1985, trên quần đảo núi đá vùng Đông Bắc, chiều chiều còn gặp các đàn Khỉ vàng, Sơn Dƣơng ra các bãi biển đùa nghịch hay hóng mát trên các mỏm núi cao; rừng Tây Nguyên còn gặp những đàn Bò tót, Bò rừng, Voi khoan thai gặm cỏ, Nai về gần lán kiếm muối ăn. Vậy mà chỉ từ năm 1986 đến nay, nạn săn bắn, nạn phá rừng đã gây nên những thảm họa cho nguồn tài nguyên động vật rừng đất nƣớc (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998).
Số lƣợng các loài thú ở ngoài tự nhiên suy giảm nhanh tróng và nhiều nhất trong các lớp động vật có xƣơng sống trên trái đất. Trong tài liệu cập nhật về tình trạng bảo tồn các loài thú ở Việt Nam (Sách đỏ Việt Nam, 2007) đã thống kê đƣợc 418 loài thú bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau (chiếm 29,2% tổng số loài thú của cả nƣớc). Nguyên nhân chính của sự suy giảm tài nguyên này là sự tác động của con ngƣời săn bắt và làm thu hẹp môi trƣờng sống của các loài thú nhƣ hiện nay. Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên đƣợc thành lập theo Quyết định số 1476/QĐ-UB của UBND tỉnh Thanh Hóa vào ngày 15/06/2000 với diện tích 27.668 ha nằm trên địa bàn các xã Bát Mọt, Yên Nhân và Vạn Xuân thuộc huyện Thƣờng Xuân, tỉnh Thanh Hóa, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 19.800 ha, phân khu phục hồi sinh thái 7.848 ha, phân khu dịch vụ và hành chính 20 ha.
Ngoài ra, vùng đệm của Khu Bảo tồn có diện tích 33. KBTTN Xuân Liên là vùng có khu hệ động vật, thực vật phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng, điển hình nhƣ Hổ (Panthera tigris ), Báo hoa mai (Panthera pardus), Vƣợn đen má trắng (Nomascus leucogenys), Tê tê vàng (Manis pentadactyla), 1 Báo lửa (Catopuma temminckii), Báo gấm (Neofelis nebulosa). Mặc dù vậy, các nghiên cứu về khu hệ thú ở KBTTN Xuân Liên còn rất hạn chế, thiếu cập nhật, đặc biệt đối với các loài thú quý hiếm và có giá trị. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và phân bố các loài thú hoang dã quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tại tỉnh Thanh Hóa”.
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin về các loài thú quý, hiếm phục vụ công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên thú của khu vực. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu khu hệ thú ở Việt Nam 1. Thời kỳ trước năm 1945 Trong thế kỷ thứ XIX, nhiều tài liệu về khu hệ thú ở Việt Nam đã đƣợc công bố trên sách báo thế giới, đặc biệt là các nƣớc ở Châu Âu.
Những năm pháp xâm lƣợc, các nhà khoa học ngƣời pháp đã bắt đầu tìm hiểu về thiên nhiên Việt Nam và đặc biệt quan tâm đến lớp thú, các công tác điều tra thu thập mẫu ban đầu chủ yếu là do các nhà động vật nghiệp dƣ tiến hành. Có những tài liệu ban đầu về thú của Nam Bộ và Trung Bộ nhƣ: Jouan(1868), Dr. Cùng thời điểm đó, Brousmiche(1887) đã cho xuất bản cuốn tài liệu “Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc Bộ”. Trong cuốn tài liệu này, tác giả đã giới thiệu ngắn gọn về một số thú ở Bắc Bộ có giá trị kinh tế, dƣợc liệu và kèm theo khu phân bố của chúng.Huede đã công bố tài liệu về loài Sơn Dƣơng (Capricornis marritinus).
Trong cuốn tài liệu này tác giả đã giới thiệu sơ lƣợc về loài sơn dƣơng về tập tính, đặc điểm nhận biết, hiện trạng, phân bố,. Năm 1896, Billet công bố cuốn “Hai năm ở miền núi Bắc Bộ”. Cùng với thời gian đó, De Pousargues đã có thông báo về loài Vƣợn mới (Hylobates henrici) đƣợc tìm thấy ở Lai Châu. Từ năm 1879-1898, Pavie đã dẫn đầu đoàn nghiên cứu, thu thập số liệu về thú tại nhiều địa điểm khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đoàn đƣợc công bố trong sách “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương”. Đây đƣợc coi là công trình đầu tiên hoàn chỉnh về thú ở Đông Dƣơng lúc bấy giờ. Năm 1906, Boutan cho xuất bản cuốn sách “Mười năm nghiên cứu về động vật” với những đãn liệu về hình thái, sinh học và phân bố của hơn 10 loài thú.osgood đã tập hợp tất cả các tài liệu của các tác giả trên và thống kê đƣợc 172 loài và phân loài. Thời kỳ từ năm 1945-1975 Trong suốt thời kỳ kháng chiến trống Pháp(1945-1954), các nghiên cứu về khu hệ động thực vật bị gián đoạn.
Trong những năm này, nhiều nhà khoa học ngƣời pháp đã dựa trên nhiều tiêu bản, những ghi nhận thực địa để tổng hợp thêm vào danh sách thú ở Đông Dƣơng. Sau năm 1954, ở miền Nam Việt Nam các hoạt động nghiên cứu thú gần nhƣ bị hoãn bỏ mãi đến những năm cuối của thập kỷ 60 mới có đợt khảo sát của P.D Van Peenen về khu hệ thú ở một số tỉnh. Kết quả nghiên cứu đƣợc ghi trong cuốn “Preliminary Mammals of South VietNam” (1969). Qua tài liệu này tác giảđã mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở miền Nam Việt Nam và ghi nhận khái quát về sự phân bố của chúng.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, có nhiều nhà khoa học của Việt Nam tiến hành nghiên cứu về thú. Năm 1968, Đặng Huy Huỳnh đã công bố kết quả nghiên cứu về thú ăn thịt và thú móng guốc ở mền Bắc Việt Nam trong cuốn “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Bắc Việt Nam” NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. Năm 1973, Lê Hiền Hào đã giới thiệu cuốn sách “ Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam” trong cuốn này tác giả đã giới thiệu về đặc điểm sinh học và phân bố của các loài thú có giá trị kinh tế ở Việt Nam. Thời kỳ 1975 đến nay Sau khi đất nƣớc ta hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu và điều tra về khu hệ thú đƣợc diễn ra mạnh với nhiều công trình nghiên cứu đƣợc xuất bản nhƣ: “Nhưng loài gặm nhấm Việt Nam” của Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Bùi Kinh (1980).
“Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985). “Thú linh trưởng Việt Nam” của Phạm Nhật (2002). Ở trong thời gian này, những hoạt động nghiên cứu không mang tính chuyên đề cao mà mang tính quan tâm đến bảo tồn các loài thú ở Việt Nam. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó nhiều tài liệu về bảo tồn thú đã đƣợc xuất bản.
Cơ sở xác định các loài thú quý hiếm Thú quý hiếm là những loài thú đang có số lƣợng ít ở ngoài tự nhiên, số lƣợng cá thể giảm sút theo thời gian và mang lại giá trị về: thực phẩm, dƣợc liệu, mỹ nghệ, làm cảnh, khoa học, xuất khẩu,. Hiện nay, các loài thú quý hiếm thƣờng đƣợc xác định tình trạng chủ yếu dựa vào Sách đỏ Việt Nam và thế giới, Nghị định 32 năm 2006 và Công ƣớc CITES. Danh sách đỏ thế giới(IUCN) là tài liệu đánh giá mức độ bảo tồn của các loài sinh vật dựa trên số lƣợng của các loài ở ngoài tự nhiên trên phạm vi toàn cầu và đƣợc cập nhật hàng năm. Việc đánh giá bảo tồn của các loài sinh vật ở Việt Nam cũng giống nhƣ trong Danh sách đỏ thế giới.
Tuy nhiên, Sách đỏ Việt Nam chỉ đánh giá mức độ bảo tồn của các loài sinh vật trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Tài liệu Sách đỏ Việt Nam cập nhật gần đây nhất là năm 2007. Trong tài liệu này đã thống kê đƣợc 90 loài thú hiện đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau, trong số đó có 77 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp cao (từ cấp VU trở lên). Đặc biệt có 4 loài thú đã xác định bị tuyệt chủng hoàn toàn và 1 loài thú bị tuyệt chủng trong tự nhiên (xem bảng 1.1: Tình trạng của loài thú quý hiếm Tình trạng Số loài Loài đại diện EX 4 Rái cá, Heo vòi, Tê giác 2 sừng, Bò xám EW 1 Hƣơu sao CR 12 Voi, Hổ, Hƣơu xạ, báo hoa mai ….
EN 30 Gấu ngựa, gấu chó, chó sói lửa, … VU 30 Cu li lớn, cu li nhỏ, mang lớn, … khác 13 Chuột đồng, … Tổng 90 (nguồn: Sách đỏ Việt Nam, 2007) 5 Nghị định 32 (2006) là văn bản pháp luật của Việt Nam quy định về quản lý và danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Theo văn bản này, hiện nƣớc ta có 88 loài thú thuộc Nghị định 32, trong đó có 62 loài thuộc nhóm IB và 26 loài thuộc nhóm IIB. Công ước CITES là công ƣớc quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp. Tài liệu cập nhật mới nhất hiện nay là Công ƣớc CITES năm 2015.
Trong tài liệu này hiện có 348 loài thú đang đƣợc quản lý buôn bán trên toàn cầu, trong đó có 221 thuộc phụ lục I, 72 loài thuộc phụ lục II và 55 loài thuộc phụ lục III của Công ƣớc CITES (2015). Dựa trên những tài liệu cập nhật hiện nay về xác định tình trạng của các loài thú quý hiếm, đề tài sử dụng bốn tài liệu đánh giá làm cơ sở xác định các loài thú quý hiếm ở khu vực nghiên cứu đó là: Sách đỏ Việt Nam (2007), IUCN (2015), Nghị định 32 (2006), CITES (2015) để xác định loài thú quý hiếm tại KBTTN Xuân Liên.3H oộ n gn g nứ hiê thútạiKhuB cu oồ ảtnthiê nhiê nX uâ nLiê n Năm 2013, các nhà khoa học trong nhóm điều tra thú móng guốc của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội và cán bộ Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên đã phát hiện quần thể Mang rooservelt (Muntiacus rooseveltorum), thuộc họ Hƣơu nai Cervidae, tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2013, Đặng Huy Phƣơng, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Trƣờng Sơn, Nguyễn Đình Hải thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn Lâm KH & CN Việt Nam đã tiến hành điều tra các loài thú tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên.