Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm - Khái niệm về Rừng: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (Luật Lâm nghiệp 2017). - Tái sinh rừng: Tái sinh rừng là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (hay phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng, những nơi còn hoàn cảnh rừng. Theo Phùng Ngọc Lan (1986), Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện đặc trưng của hệ sinh thái rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng”.
Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Sự xuất hiện của lớp cây con mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài trong hệ sinh thái rừng. - Phục hồi rừng: hiểu theo nghĩa rộng, phục hồi rừng theo con đường tự nhiên là quá trình biến đổi tuần tự theo hướng đi lên của các kiểu thảm thực vật rừng để hình thành một quần xã thực vật rừng tương đối ổn định. Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu.
Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán (Trần Đình Lý, 1995). Ngoài ra, phục hồi rừng tự nhiên còn được hiểu là quá trình hình thành rừng thứ sinh do diễn thế đi lên từ nơi rừng đã mất hoặc bị khai thác cạn kiệt. 5 - Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên: là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát dọn dây leo, cây bụi để thúc đẩy thành rừng trong thời hạn xác định. - Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung: là biện pháp lâm sinh phát huy tối đa khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng bằng các biện pháp bảo vệ, chống chặt phá, phòng cháy và chữa cháy rừng và phát dọn dây leo cây bụi, kết hợp với trồng bổ sung một lượng cây nhất định ở nơi thiếu cây tái sinh mục đích để thúc đẩy thành rừng trong thời hạn xác định.
Ngoài ra, còn một số thuật ngữ sẽ được đề cập trong luận văn này: - Rừng phòng hộ là Rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Bao gồm: rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái. - Đất chưa có rừng: là đất trống hoặc đất có thực bì là cỏ tranh, lau lách, cây bụi, cây gỗ, tre nứa rải rác và cây tái sinh nhưng không đạt tiêu chí rừng. - Tỷ lệ che phủ rừng: là tỷ lệ phần trăm giữa diện tích rừng so với tổng diện tích đất tự nhiên trên một phạm vi địa lý nhất định.
- Làm giàu rừng: là biện pháp lâm sinh kết hợp giữa nuôi dưỡng rừng với trồng bổ sung những cây mục đích với số lượng nhất định, đồng thời giữ lại cây mục đích sẵn có trong rừng. - Nuôi dưỡng rừng: là biện pháp lâm sinh điều chỉnh mật độ, tổ thành loài bằng các biện pháp loại bỏ những cây phi mục đích, phẩm chất xấu, cây dây leo cạnh tranh dinh dưỡng với cây mục đích; giữ lại cây mục đích có phẩm chất tốt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị của rừng. 6 - Suy thoái rừng: là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng. - Phát triển rừng: là hoạt động trồng mới rừng, trồng lại rừng sau khai thác, bị thiệt hại do thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác để tăng diện tích, trữ lượng, chất lượng rừng.
- Trồng mới rừng: là biện pháp lâm sinh tạo rừng lần đầu trên diện tích đất chưa có rừng. - Trồng lại rừng: là biện pháp lâm sinh tạo rừng trên diện tích đất rừng trồng sau khai thác hay bị thiệt hại do thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác. Tình hình bảo vệ và phục hồi rừng trên thế giới Trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ ha, mỗi năm trung bình diện tích rừng nhiệt đới thu hẹp 11 triệu ha, trong đó diện tích đa dạng của rừng trồng và phát huy vai trò của nó còn rất hạn chế. Riêng ở Châu Á Thái bình dương trong thời gian 1976 - 1980 mất 9 triệu ha rừng, cũng trong thời gian này ở Châu Phi mất 37 triệu ha rừng, ở Châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng.
Nạn phá rừng diễn ra trầm trọng ở 56 nước nhiệt đới thuộc thế giới thứ 3 (http://news. Do nạn phá rừng nên đất trồng trọt cũng bị xói mòn nặng, xa mạc hoá ngày càng diễn ra nghiêm trọng. Hiện nay 875 triệu người phải sống ở vùng sa mạc, hàng năm trên thế giới mất 12 tỷ tấn đất, với số lượng này có thể sản xuất ra khoảng 50 triệu tấn lương thực mỗi năm, hàng ngìn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn dần, tuổi thọ nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn. - Ở mỗi quốc gia và Châu lục trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên phong tục tập quán khác nhau cũng như tiềm năng về kinh tế, xã hội, chính trị, khác nhau.
Ở nhiều nước trên thế giới vai trò quản lý của nhà nước về rừng là rất ít, chủ yếu rừng được giao cho chủ nhân quản lý, bảo vệ, còn nhà nước chỉ giữ vai trò bao quát chung. 7 - Ở Ấn Độ: Trong những năm 2008 - 2009 ở một số Bang ở ấn độ đã thực hiện chuyển giao quyền quản lý một phần rừng cộng đồng lâm nghiệp, Năm 1998 chính sách lâm nghiệp quốc gia được thông qua cho rằng “.cộng đồng lâm nghiệp cần được khuyến khích phát triển, tự xác định vị trí của mình trong việc bảo vệ các khu rừng mà hoạ cũng có nhiều quyền lợi trong đó.” - Ở Philipin: Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồng địa phương trong 25 năm, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý. - Ở Trung Quốc: Chuyển kinh doanh lâm nghiệp đưa vào sở hữu Nhà nước vào tập thể song dựa trên nền kinh tế nhiều thành phần. Phát triển nhiều ngành kinh tế lâm sản, chế biến lâm sản nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng kết hợp coi trọng các mặt môi trường, sinh thái và xã hội, Trung Quốc đã hoàn thành giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, bên cạnh đó Ban hành nhiều Luật, chính sách kinh tế để tạo điều kiện việc lưu truyền trao đổi quyền sử dụng tài nguyên.
Qua trên ta thấy ở các nước khác nhau về điều kiện tự nhiên, chính sách kinh tế và chính sách phát triển lâm nghiệp ở mỗi quốc gia, thì tình hình sử dụng quản lý bảo vệ rừng mang màu sắc riêng. Tuy nhiên trước sự phát triển không ngừng khoa học mỗi nước như tin, công nghệ chế biến, công nghệ xây dựng. Cộng thêm việc phá hoại tài nguyên rừng của một số đối tượng xấu gây ảnh hưởng không nhỏ đến rừng và tài nguyên rừng thì vấn đề môi trường, sinh thái giữ vai trò hết sức quan trọng và ngày càng được chú trọng và quan tâm hơn chính vì thế các nước trên thế giới đẩy mạnh việc kinh doanh và xây dựng vốn rừng, tạo rừng mới, khoanh nuôi bảo vệ rừng được coi là vấn đề hết sức cấp bách và cần thiết đối với an toàn nhân loại. Trong hơn thập kỷ qua vấn đề quản lý bảo vệ rừng đã có những chuyển biến, một số xu hướng bảo vệ rừng đã được các nước trên thế giới áp dụng như: 8 - Chuyển mục tiêu quản lý sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục tiêu kết hợp cả 3 lợi ích: Kinh tế, sinh thái và xã hội.
Nhiều nước đã tuyên bố thực hiện hoặc áp dụng nhiều biện pháp như: Đình chỉ khai thác gỗ rừng, nâng cao diện tích rừng đặc chủng, lập các khu bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, chú trọng hơn vào mục tiêu phát huy tác dụng phòng hộ của rừng. - Phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đát lâm nghiệp (phi tập chung hoá), xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm, quyền lực và quản lý rừng từ trung ương đến địa phương và cơ sở. - Xúc tiến việc giao đất, giao rừng cho nhân dân, giảm bớt can thiệp của nhà nước, thực hiện tư nhân hoá đất đai và cơ sở kinh doanh lâm nghiệp để tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động và đem lại nhiều lợi nhuận. - Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư có điều điện thuận lợi trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, chủ rừng rất quan tâm đến sự tham gia của các nhóm có liên quan đến quyền lợi từ rừng.
- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng, khuynh hướng phát triển các hình thức tổ chức để thu hút các cộng đồng địa phương vào quản lý rừng như liên kết rừng, phát ttiển chương trình lâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo vệ thiên nhiên theo làng. Tình hình bảo vệ và phục hồi rừng ở việt nam Tại Việt Nam, các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đã được quan tâm; tỷ lệ che phủ rừng đạt 39,5% (năm 2016), 41,89% (năm 2019), 42,01% (năm 2020) tăng trung bình 0,6%/năm trong giai đoạn 2016-2020 (TCLN, 2020). Tuy vậy, tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép vẫn diễn biến phức tạp.