Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây mít 1.1 Phân loại khoa học Theo Zielenski (1955) cây mít được phân loại: Ngành (Division): Spermatophyta Lớp (Class): Dicotyledoneae B6 (Ordo): Urticales Ho (Familia): Moraceae Chi (Genus): Artocarpus Loai (Species): Artocarpus heterophyllus Mit thuộc chi Artocarpus (ho Moraceae) là một trong những loại cây ăn qua nhiệt đới. Tên đồng nghĩa : A., Soccus arboreus major Rumph., Polyphema jaca Lour. Trong đó Artocarpus heterophyllus Lamk được chap nhận và sử dụng rộng rãi nhất (Shamsudin va ctv, 2009) 1.2 Nguồn gốc Cây mít (Artocarpus heterophyllus Lam., thuộc họ dau tam Moraceae) có nguồn sốc từ các khu rừng ở Western Ghats (An D6) được các thương gia Ả Rập đưa đến bờ biển Đông Phi và ngày nay lan rộng ra khắp vùng nhiệt đới. Việc mít mọc dạng hoang đại tại các khu rừng ở Western Ghats (An Ðộ) van còn đang gây tranh cãi.
Một số ý kiến cho rằng có các vật liệu hoang đã có quan hệ với mít ở quần đảo Andaman, một số khác lại cho rằng Mít có nguồn gốc từ Malaysia. Theo các vết tích đề lại các nhà khảo cổ học cho rằng mít xuất hiện cách đây 3. Mít được trồng nhiều tại Bangladesh, Mién Dién, An Độ, Indonesia, Malaysia, Philippines, Sri Lanka, Thai Lan, và một số khu vực ở Brazil va Queensland, Ức (Goswami và Chacrabati, 2016), và đây là quốc hoa của Bangladesh. Nhờ sự tìm tòi phát triển giờ đây cây mít có thé trồng tại 3 tat cả các vùng sinh thái địa lý của Việt Nam, trong đó có nhiều giống mít nỗi tiếng như : Mít Thái, mít nghệ, mít mật, mít dai, mít Tố Nữ 1.3 Đặc tính thực vật học Mit là cây ăn qua lâu đời được trồng tại Việt Nam và các quốc gia Đông Nam A, từng được xem là loại cây cứu đói tại nhiều quốc gia vì chứa nhiều dinh dưỡng và kích thước trái lớn.
Gỗ mít con mang giá trị kinh tế cao góp phan cải thiện thu nhập cho ba con nông dân. Cây mít thuộc loại lưu niên, dòng đời dai từ 20-100 năm tuổi, có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt. Cây cao từ 8—15m, ra quả khi cây từ 3 năm tuôi. Cây có nhiều mủ nhựa từ thân đến cuốn, là và quả.
Quả khá lớn có hình bầu đại là loại quả phức ăn được, vỏ mít xù tua tủa những gai nhọn nhỏ. Hiện nay có khoảng 6—7 dòng mit Thái dang lưu hành trên thi trường với các tên gọi “mít Thái Changrai”, 599 “mít Thái siêu 66. sớm”, “mít nghệ Thái”, “mít Thái Tứ Quý siêu sớm”.4 Nhận biết một số giống mít Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), mít chia thành hai nhóm: Nhóm mít dai (mít ráo) thịt cứng và giòn, nhóm mít mật (mít ướt) khi chín thịt nhão. Hiện này mít đang được ưa chuộng sử dụng trong và ngoài nước, vì thê ngày càng nhiều giống mít được nghiên cứu và du nhập từ nước ngoài về Việt Nam dé làm tăng sự đa dạng về mặt hàng sử dụng.
Theo Vũ Công Hậu (2000), đặc điểm của một số giống mít đang được mô tả: Mit nghệ tứ quý: Giống này đang được bà con trồng khá nhiều, quả nặng từ 5 — 10 kg khi chín ngả sang màu hơi vàng có mùi thơm. Cây khi trồng 4 năm sẽ bắt đầu cho trái. Quả mít nghệ có nhiều múi, dày, to hương thơm đặc trưng, cơm màu vàng cam, thịt min, giòn và độ ngọt vừa phải, hạt nhỏ. Khi ăn múi mít thì it bị dính tay và miệng, ăn ngon.
Loại này thích hợp làm mít sấy khô. Mit Tổ Nữ: Quả thu hoạch có trọng lượng khoảng 3kg, kích thước khoảng 50cm, bề ngang 17cm có dạng hình trứng. Quả nhỏ hơn nhiều so với các giống khác nhưng cây sẽ cho quả sai và đều. Múi màu vàng tươi óng bắt mắt, mùi thơm nồng đặc trưng, dai và nhiêu nước được nhiêu người tiêu dùng ưa chọn sử dụng.
Mit không hat ba láng: Loại này được phát triển vào khoảng năm 2010 và bắt đầu được ưa chuộng vì tính độc đáo của cây khi cho quả. Ưu điểm của loại này đến ngay từ cái tên, múi mít sẽ không có hạt hoặc sẽ có ít hạt lép nên khi ăn sẽ không cần bỏ hạt. Cui nhỏ, ít xơ, khi bồ trái sẽ không chảy ra mủ nhựa đính tay và tỷ lệ phần sử dung được của trái lên đến 90%. Bên cạnh đó thời gian phát triển của cây và chín của trái sẽ lâu hơn cái giống khác, mùi thơm của trái sẽ có mùi nhẹ nhàng không thơm nồng và giá thành cao gấp 2 đến 3 lần giá mít bình thường.
Mít ruột đỏ: Có nguồn gốc từ Thái Lan và mới chỉ du nhập vào nước ta thời gian gần đây. Nhờ vào màu sắc bắt mắt cùng với hương vị thơm ngon khác biệt nên được nhiều người lựa chọn. Múi mít có màu cam hồng bắt mắt, thịt day vi ngọt thanh. Quả to nặng từ 10—15kg, khi ăn thơm nhẹ mùi dầu chuối.
Vì màu sắc đặc biệt và mùi vị khác với các giống còn lại nên giống này đang có giá nhinh hon khá là cao trên thị trường. Mit Thái siêu sớm: Gia loại này khá ồn định và thời gian thu hoạch nhanh lại có thể quanh năm, năng suất lại cao nên càng được nông dân ưa chuộng và bắt đầu dần chuyền sang trồng chủ yếu giống cây này. Thời gian thu hoạch rất sớm, nhanh cho quả và năng suất rất cao, có múi nọng và giòn ngọt. Cây có thể trồng trên nhiều loại đất và khí hậu các vùng khác nhau, thu hoạch quanh năm.
Trai vỏ mỏng, it xơ, it mủ, thịt day, giòn và thơm, khi ăn ít bị mủ dính tay.5 Gia trị cay mít 1.1 Giá trị kinh tế Cây mít đem lại nền kinh tế ôn định hơn hắn so với các loại cây trồng khác, mít vừa được ưa chuộng trong nước lẫn nước ngoài. Có thể dùng ăn tươi hoặc chế biến đa dạng trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như mít sấy khô, kẹo, trái cây đóng hộp, hương liệu, hương vị bánh kẹo sử dụng trong nước và xuất khâu. Mít sấy vẫn đang là đặc sản của nhiều địa phương và được người tiêu dùng mua dé ăn hoặc làm quà. Gỗ mít có thé dùng làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Trước đây trái mít chủ yếu dùng dé ăn tươi. Thời gian gan đây, mít được các công ty chế biến đạng sấy khô, kẹo, trái cây đóng hộp, có thể sử dụng đề sản xuất rượu vang hoặc được sử dụng như một hương liệu nên nhu cầu về mít ngày càng tăng cao, nông dân đã trồng mít thành vườn chuyên canh tập trung với diện tích lớn. Do đó, công tác 3 giống mít được quan tâm, phục vụ cho nhu cau phát triển, mở rộng ngày càng tăng (Nguyễn An Đệ và ctv, 2007; Lê Phương Thư, 2015) 1.2 Giá trị dinh dưỡng Quả mít là một loại quả lành mạnh, ít calo chứa nhiều dinh dưỡng nhất trên cây mít. Thịt thơm, ngọt, dai hoặc giòn chứa nhiều nguồn vitamin C giúp cơ thé chống hiện tượng nhiễm virus và nhiễm khuẩn, vitamin A giúp b6 mắt ngoài ra còn có nhiều loại vitamin khác như E, B9, B3, Bó.
Mít cũng bổ sung các khoáng chất như Natri,Kali ,Canxi ,Sắt „Magle , Mangan ,Photpho, Kẽm Hat mít khi làm chín có mùi thơm nhẹ, vi bùi. Mit là loại cây trồng giàu khoáng chat và vitamin. Quả chín rất giàu vitamin A, giúp duy trì thị lực. Phan thi quả ăn được của mít chiếm 25 — 40% trọng lượng quả, phan xơ không ăn được giảu protein (Sidhu, 2012).
Mặc dù mùi vị thơm ngon và đem nhiều tác dụng đến thế nhưng những bệnh nhân mang bệnh tiểu đường, suy thận mãn tính, gan nhiễm mỡ nên hạn chế sử dụng loại thực phẩm này. Vì trong mít chứa nhiều đường fructose và đường glucose, khi ăn vào cơ thé dễ hấp thu làm tăng hàm lượng đường trong máu; mít giàu kali người suy thận bị ứ đọng lại tăng kali trong máu nếu nặng làm tử vong do ngừng tim đột ngột; mít chứa nhiều năng lượng và làm khó tiêu lại chứa nhiều đường nên dễ gây nóng trong người không tốt cho những người bị bệnh về gan.2 Một số loại bệnh trên cây mít ở Việt Nam Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), bệnh hại trên cây mít chủ yếu gồm có các bệnh: Bệnh nứt thân xì mủ, bệnh thối quả, bệnh dém nâu, bệnh nam hồng.1 Bệnh nứt thần xì mủ Đang là căn bệnh phổ biến và gây thiệt hại nặng nề trên cây mít. Do nam Phytophthora palmivora gây ra. Nam xâm nhập làm xi mủ trên thân, cành, gốc cây thông qua các vết nứt có sẵn và rất dé lây lan, đặc biệt là trong mùa mưa âm bệnh xì mủ cây có múi thường phát triển mạnh và gây thiệt hại lớn.
Bệnh xì mủ trên cây có múi không chỉ gây hại ở gốc, rễ của cây mà còn làm thối cả trái ở gần mặt đất, trái trưởng thành, trái trong tán. Một số cây bị nhiễm bệnh trên lá và cành khiến gân chính của lá bị vàng, cảnh bị chết ngược, cây bị chảy nhiều nhựa, tán lá xơ xác. Bệnh làm tổn thương thân cây, ngăn can quá trình vận chuyên nước va các chất đinh dưỡng lên để nuôi cây. Lam cho cây còi cọc kém phát triển, lá vàng và rụng, lá non không mọc được, cành chết, cây không thé quang hợp lâu ngày sẽ dẫn đến chết cây.2 Bệnh thối trái non Bệnh gây hai khá phô biến trên mít.
Bệnh do nam Rhizopus nigricans gây ra. Bệnh gây hại trên hoa và trái non, làm trái thối đen và rụng. Vết bệnh khởi đầu là đốm màu nâu đen, sau bệnh lan dan cả trái, làm cả trái bị thối đen. Trên vết bệnh sản sinh các sợi nam va túi bào tử màu den mọc tua tủa.
Bệnh có thé xuất hiện bat cứ vị trí nào của trái, lan nhanh từ trái này sang trái khác và chi gây hại giai đọan trai non.3 Bệnh đốm nâu Tác nhân là nắm Phomaopsis artocarpina. Bệnh chủ yếu hại lá, vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu. sau lớn lên đường kính 5 - 10 mm, ở gitra màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các 6 bào tử. Khi bệnh phát sinh nhiều, phòng trừ bằng cách phun các thuốc gốc Đồng, Vimancoz, Zin, Bendazol (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2012).4 Bệnh nắm hồng Tác nhân Nam Corticium salmonicolor gây ra.
Nam tạo thành những mảng mau trang hoặc hồng trên cành làm lá vàng héo, cành khô. Phòng trừ bệnh bằng cách tỉa cành cho cây thông thoáng, phun lên cảnh và vết bệnh các loại thuốc Validacin, Viben C, Anvil (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2012).5 Bệnh thối nhũn Bệnh do nam Pythium splendens, Phytophthora sp.