Nghiên cứu bảo tồn loài thú và giải pháp bảo vệ tại VQG Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang

Bài viết phân tích hiện trạng các loài thú và đề xuất giải pháp bảo tồn hiệu quả tại Vườn quốc gia Du Già Cao Nguyên Đá Đồng Văn, Hà Giang.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Thành phần các loài thú tại Việt Nam

1.2. Một số nghiên cứu về hiện trạng và các mối đe dọa đến khu hệ thú

1.3. Một số nghiên cứu về khu hệ thú tại Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn

2. Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.3.1. Về địa điểm

2.3.2. Về thời gian

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.5.2. Phương pháp phỏng vấn

2.5.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Địa hình, đá mẹ, đất đai

3.1.3. Hệ thực vật

3.1.4. Hệ động vật

3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động

3.2.2. Tình hình phát triển kinh tế và đói nghèo

3.2.3. Hiện trạng xã hội

3.3. Đa dạng thành phần loài tại VQG Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn

3.3.1. Thành phần loài

3.3.2. Tính đa dạng thành phần các loài thú

3.3.3. Nguồn thông tin ghi nhận

3.4. Tình trạng một số loài thú quý hiếm

3.5. Hiện trang một số loài thú được ghi nhận trong đợt điều tra

3.5.1. Cu li lớn (Nycticebus bengalensis)

3.6. Các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài thú

3.6.1. Khai thác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép

3.6.2. Săn bắt động vật

3.6.3. Chăn thả gia súc

3.6.4. Khai thác quặng

3.6.5. Đốt nương làm rẫy

3.7. Phân hạng các mối đe dọa đến khu hệ thú VQG Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn

3.8. Một số biện pháp quản lý và bảo tồn các loài thú

3.8.1. Giải pháp nhằm hạn chế các tác động của người dân vào rừng

3.8.2. Giải pháp quản lý và bảo tồn các loài thú tại khu vực

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khám phá VQG Du Già và tầm quan trọng bảo tồn các loài thú

Vườn Quốc gia (VQG) Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, được thành lập theo Quyết định số 1377/QĐ-TTg ngày 18 tháng 8 năm 2015, là một viên ngọc quý về đa dạng sinh học Hà Giang. Với tổng diện tích tự nhiên 15.006,3 ha, VQG này trải dài trên địa phận ba huyện Vị Xuyên, Bắc Mê và Yên Minh. Nơi đây không chỉ là một phần quan trọng của khu dự trữ sinh quyển cao nguyên đá Đồng Văn mà còn là mái nhà của nhiều hệ sinh thái rừng độc đáo, đặc biệt là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi. Tầm quan trọng của VQG Du Già được thể hiện qua nhiệm vụ bảo vệ các loài động thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Trong đó, hệ động vật vườn quốc gia Du Già đóng vai trò then chốt trong việc duy trì cân bằng sinh thái và là chỉ số quan trọng về sức khỏe của môi trường. Các loài thú, với sự đa dạng và vai trò sinh thái riêng biệt, góp phần vào quá trình thụ phấn, phát tán hạt giống và kiểm soát quần thể các loài khác. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Các hoạt động của con người như săn bắt trái phép và phá hủy môi trường sống đã khiến số lượng nhiều loài suy giảm đáng kể. Một số loài đặc hữu như Voọc mũi hếch Hà Giang (Rhinopithecus avunculus) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Do đó, việc nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp bảo tồn cấp bách là nhiệm vụ sống còn, không chỉ để bảo vệ các loài thú mà còn để gìn giữ di sản thiên nhiên vô giá cho các thế hệ tương lai và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái bền vững trong khu vực.

1.1. Giới thiệu tổng quan về Vườn quốc gia Du Già

VQG Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn nằm ở phía Đông Bắc thành phố Hà Giang, có vị trí địa lý phức tạp trên dãy núi Ba Tiên. Địa hình chủ yếu là hệ thống núi đá vôi bị phong hóa mạnh, tạo nên các cảnh quan karst độc đáo. Hệ sinh thái rừng tại đây rất đa dạng, là nơi sinh sống của 1.049 loài thực vật và 286 loài động vật, theo các khảo sát trước đó. Vườn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn cho sông Gâm và hồ thủy điện Tuyên Quang. Việc thành lập VQG là một bước tiến quan trọng trong công tác bảo tồn ở Hà Giang, nhằm bảo vệ toàn diện các giá trị sinh học và cảnh quan đặc trưng của vùng cao nguyên đá.

1.2. Vai trò của hệ động vật và các loài thú quý hiếm

Hệ động vật tại VQG Du Già có ý nghĩa khoa học và bảo tồn to lớn. Nghiên cứu của Hoàng Văn Quảng (2017) đã kế thừa và xác nhận sự tồn tại của 67 loài thú, trong đó có tới 26 loài thú quý hiếm được ghi danh trong Sách đỏ Việt Nam và IUCN. Các loài này không chỉ là đối tượng nghiên cứu khoa học mà còn là biểu tượng của khu vực. Ví dụ, sự hiện diện của loài Voọc mũi hếch Hà Giang, một trong những loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới, đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức bảo tồn quốc tế. Việc bảo vệ thành công các loài đầu bảng như Báo lửa (Catopuma temminckii) hay Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) sẽ góp phần bảo vệ cả hệ sinh thái mà chúng phụ thuộc.

II. Top 6 mối đe dọa đa dạng sinh học tại VQG Du Già Hà Giang

Mặc dù sở hữu giá trị sinh học to lớn, hệ động vật vườn quốc gia Du Già đang phải đối mặt với áp lực nặng nề từ các hoạt động của con người. Nghiên cứu thực địa đã xác định 6 mối đe dọa đến đa dạng sinh học chính, tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự tồn vong của các loài thú. Mối đe dọa hàng đầu là khai thác khoáng sản và khai thác gỗ trái phép. Hoạt động khai thác quặng quy mô công nghiệp tại xã Minh Sơn gây biến đổi sinh cảnh, ô nhiễm nguồn nước và tạo ra tiếng ồn lớn, ảnh hưởng đến môi trường sống của động vật. Tương tự, việc khai thác gỗ (nghiến, trai lý) và lâm sản ngoài gỗ làm suy giảm chất lượng rừng, phá vỡ cấu trúc tán cây và nguồn thức ăn của nhiều loài. Săn bắt động vật hoang dã vẫn là một vấn nạn nhức nhối, dù đã có nhiều nỗ lực kiểm soát. Người dân địa phương sử dụng các loại bẫy kẹp, thòng lọng để bắt các loài thú nhỏ và vừa, chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm và trao đổi. Hoạt động này là nguyên nhân chính gây suy giảm quần thể các loài như Cầy, Chồn, Lợn rừng. Bên cạnh đó, các tập quán canh tác như đốt nương làm rẫy và chăn thả gia súc tự do cũng góp phần làm thu hẹp và phân mảnh hiện trạng môi trường sống. Cháy rừng, dù không xảy ra thường xuyên, nhưng tiềm ẩn nguy cơ phá hủy hệ sinh thái trên diện rộng do địa hình hiểm trở, khó tiếp cận để dập lửa. Những áp lực này tạo ra một vòng luẩn quẩn, gây suy thoái tài nguyên và làm gia tăng xung đột người và động vật hoang dã.

2.1. Phân tích các mối đe dọa từ khai thác và săn bắt

Theo tài liệu gốc, khai thác quặng, khai thác gỗ và cháy rừng được xếp hạng là ba mối đe dọa có ảnh hưởng lớn nhất. Việc khai thác gỗ trái phép không chỉ làm mất đi các cây gỗ lớn mà còn tạo ra tiếng ồn từ cưa máy, gây xáo trộn cho các loài thú nhạy cảm. Hoạt động săn bắt, dù quy mô nhỏ lẻ, nhưng diễn ra dai dẳng và rộng khắp, đã khiến nhiều loài thú lớn như Hươu, Nai gần như tuyệt chủng tại khu vực. Đây là thách thức lớn nhất đối với công tác bảo tồn động vật hoang dã tại VQG Du Già.

2.2. Tác động từ canh tác và chăn thả gia súc tự do

Tập quán đốt nương làm rẫy, dù đã giảm, vẫn còn tồn tại do áp lực về đất canh tác. Hoạt động này trực tiếp phá hủy sinh cảnh, làm mất nơi ở và nguồn thức ăn của động vật. Chăn thả gia súc tự do trong rừng, đặc biệt là ở vùng đệm, gây ảnh hưởng đến thảm thực vật tái sinh và cạnh tranh nguồn thức ăn với các loài thú ăn cỏ. Đàn gia súc cũng có thể là nguồn lây truyền dịch bệnh cho các loài động vật hoang dã, tạo ra một mối đe dọa tiềm tàng đối với sức khỏe của quần thể.

III. Kết quả nghiên cứu Hiện trạng 67 loài thú tại VQG Du Già

Nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn đã cung cấp một bức tranh toàn diện về khu hệ thú của khu vực. Bằng các phương pháp kế thừa tài liệu, phỏng vấn người dân địa phương và điều tra theo tuyến, nghiên cứu đã lập được danh lục các loài thú với 67 loài, thuộc 22 họ và 9 bộ. Kết quả này cho thấy sự phong phú và đa dạng của khu hệ thú, đặc biệt là các loài thú nhỏ. Bộ Gặm nhấm (Rodentia) chiếm số lượng loài cao nhất với 25 loài (37,31%), tiếp theo là bộ Ăn thịt (Carnivora) với 17 loài (25,37%). Đáng chú ý, nghiên cứu đã ghi nhận sự tồn tại của 26 loài nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Sách đỏ IUCN. Trong số này, có những loài đang ở mức báo động cực kỳ nguy cấp (CR) như Voọc mũi hếch Hà Giang (Rhinopithecus avunculus) và Sóc bay lông tai (Belomys pearsonii). Hiện trạng của 13 loài thú đã được xác định cụ thể hơn, bao gồm Báo lửa, Cầy hương, Cu li lớn, Khỉ mốc, Hoẵng, Sơn dương, Lợn rừng và Mèo rừng. Dù một số loài như Lợn rừng hay Sóc bụng đỏ còn khá phổ biến, nhiều loài khác như Báo lửa và Sơn dương lại rất hiếm gặp, cho thấy sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng do áp lực săn bắt và mất môi trường sống. Những dữ liệu này là cơ sở khoa học quan trọng cho việc xây dựng chiến lược và triển khai các giải pháp bảo tồn tại chỗ một cách hiệu quả.

3.1. Danh sách các loài thú quý hiếm cần ưu tiên bảo tồn

Trong tổng số 67 loài được ghi nhận, 26 loài được xác định là quý hiếm và cần được ưu tiên bảo vệ. Nổi bật nhất là Voọc mũi hếch Hà Giang, với một quần thể quan trọng được quan sát trong quá trình nghiên cứu. Các loài khác thuộc cấp Nguy cấp (EN) bao gồm Sơn dương, Báo gấm, Báo lửa, Tê tê vàng và Voọc đen má trắng. Các loài Sẽ nguy cấp (VU) gồm Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ, Hoẵng, Sóc đen. Việc bảo vệ các loài này đòi hỏi những nỗ lực đặc biệt, từ tuần tra bảo vệ nghiêm ngặt đến chương trình giám sát quần thể động vật dài hạn.

3.2. Phương pháp nghiên cứu và ghi nhận thực địa

Nghiên cứu đã áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp để đảm bảo tính chính xác. Phương pháp phỏng vấn được thực hiện với cán bộ quản lý và 15 người dân có kinh nghiệm đi rừng để thu thập thông tin ban đầu. Bốn tuyến điều tra với tổng chiều dài gần 20 km đã được thiết lập để quan sát trực tiếp hoặc ghi nhận dấu vết như dấu chân, phân, vết ăn. Kết quả đã quan sát trực tiếp 6 loài (Voọc mũi hếch, Sóc đen, Cầy hương...), thu thập mẫu vật của 4 loài (sọ Cầy hương, sừng Hoẵng...) và ghi nhận qua dấu vết của Mèo rừng. Sự kết hợp các phương pháp này đã cung cấp bằng chứng xác thực về sự hiện diện và hiện trạng môi trường sống của các loài.

IV. Hướng dẫn 5 giải pháp bảo tồn tại chỗ hiệu quả cho VQG Du Già

Dựa trên kết quả đánh giá hiện trạng và các mối đe dọa, nghiên cứu đã đề xuất 5 nhóm giải pháp bảo tồn tại chỗ nhằm bảo vệ bền vững hệ động vật vườn quốc gia Du Già. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng. Điều này bao gồm việc tổ chức các đợt tuần tra, kiểm soát thường xuyên và đột xuất tại các khu vực trọng điểm, dễ bị xâm hại. Đồng thời, cần thiết lập và bảo vệ các hành lang đa dạng sinh học để kết nối các vùng sinh cảnh bị chia cắt, tạo điều kiện cho các loài di chuyển và giao phối. Giải pháp thứ hai là xây dựng và thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về giá trị của đa dạng sinh học và các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã cần được triển khai sâu rộng đến từng thôn bản, đặc biệt là trong các trường học. Giải pháp thứ ba tập trung vào việc cải thiện sinh kế cộng đồng vùng đệm. Khi đời sống người dân được đảm bảo thông qua các mô hình nông-lâm kết hợp, chăn nuôi bền vững hoặc phát triển cây dược liệu dưới tán rừng, sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng sẽ giảm bớt. Thứ tư, cần đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và giám sát quần thể động vật. Việc theo dõi biến động số lượng các loài chủ chốt, đặc biệt là các loài thú quý hiếm, sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng để điều chỉnh các biện pháp bảo tồn kịp thời. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý VQG, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ trong việc thực thi pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác bảo tồn ở Hà Giang.

4.1. Cải thiện sinh kế và giảm áp lực lên tài nguyên rừng

Đời sống khó khăn là nguyên nhân gốc rễ khiến người dân phải khai thác tài nguyên rừng. Do đó, việc hỗ trợ phát triển kinh tế cho các cộng đồng sống trong và ven VQG là giải pháp bền vững nhất. Các chương trình có thể bao gồm hỗ trợ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi theo hướng hàng hóa, phát triển các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, và đặc biệt là các mô hình du lịch cộng đồng. Khi người dân nhận thấy lợi ích kinh tế trực tiếp từ việc bảo vệ rừng, họ sẽ trở thành những người bảo vệ tích cực nhất.

4.2. Tăng cường thực thi pháp luật và giáo dục nhận thức

Bên cạnh việc hỗ trợ sinh kế, cần tăng cường sự hiện diện của các lực lượng chức năng và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và bảo tồn động vật hoang dã. Song song đó, công tác giáo dục phải được thực hiện một cách kiên trì. Việc lồng ghép các nội dung bảo tồn vào chương trình học, tổ chức các buổi nói chuyện, chiếu phim tài liệu về thiên nhiên VQG Du Già sẽ giúp xây dựng tình yêu và ý thức trách nhiệm cho thế hệ trẻ, tạo nền tảng vững chắc cho công tác bảo tồn trong tương lai.

4.3. Thiết lập các chương trình giám sát đa dạng sinh học

Để đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp, cần thiết lập một hệ thống giám sát khoa học và bài bản. Hệ thống này có thể bao gồm việc sử dụng bẫy ảnh để ghi nhận các loài thú quý hiếm và khó quan sát, theo dõi các tuyến điều tra định kỳ để đánh giá mật độ quần thể, và phân tích các mẫu vật sinh học. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác giám sát (citizen science) không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao ý thức sở hữu và trách nhiệm của họ đối với tài nguyên thiên nhiên.

V. Hướng tới tương lai Bảo tồn gắn với phát triển bền vững

Để đảm bảo tương lai cho đa dạng sinh học Hà Giang, công tác bảo tồn tại VQG Du Già cần được đặt trong một chiến lược phát triển tổng thể, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những hướng đi tiềm năng và bền vững nhất là phát triển du lịch sinh thái bền vững. Vẻ đẹp hoang sơ của cao nguyên đá, kết hợp với sự đa dạng của hệ động thực vật và bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc Mông, Dao, Tày, tạo nên sức hút lớn đối với du khách. Việc phát triển các mô hình du lịch dựa vào cộng đồng, nơi người dân địa phương trực tiếp tham gia và hưởng lợi, sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để họ chung tay bảo vệ rừng và các loài thú quý hiếm. Tuy nhiên, hoạt động du lịch cần được quy hoạch và quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Cần xác định các tuyến, điểm tham quan hợp lý, giới hạn số lượng khách và ban hành các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Nguồn thu từ du lịch nên được trích một phần để tái đầu tư cho công tác bảo tồn ở Hà Giang, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và cải thiện sinh kế cộng đồng vùng đệm. Đồng thời, việc tăng cường hợp tác quốc tế, kêu gọi sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức bảo tồn uy tín trên thế giới sẽ mở ra cơ hội mới, nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả bảo tồn tại VQG Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn.

5.1. Mô hình phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Mô hình này trao quyền cho người dân địa phương, biến họ từ người khai thác tài nguyên thành người cung cấp dịch vụ du lịch. Các hoạt động có thể bao gồm homestay, hướng dẫn viên bản địa dẫn tour đi bộ khám phá rừng, trình diễn văn hóa truyền thống. Lợi ích kinh tế thu được sẽ giúp cải thiện đời sống, giảm áp lực lên rừng. Quan trọng hơn, nó giúp người dân tự hào về di sản thiên nhiên và văn hóa của mình, từ đó nâng cao ý thức bảo tồn Voọc mũi hếch Hà Giang và các loài động vật khác như một tài sản du lịch độc đáo.

5.2. Khuyến nghị chính sách cho khu dự trữ sinh quyển

Cần có những chính sách vĩ mô đồng bộ để hỗ trợ VQG. Chính quyền tỉnh Hà Giang cần ưu tiên quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo tính toàn vẹn của các hành lang đa dạng sinh học kết nối VQG với các khu vực bảo tồn lân cận. Cần có cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng từ các hoạt động kinh tế (như thủy điện, du lịch) để tái đầu tư cho bảo tồn. Hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương xây dựng các chuỗi giá trị sản phẩm bền vững (mật ong rừng, dược liệu) cũng là một hướng đi quan trọng, giúp tạo ra một nền kinh tế xanh gắn liền với việc bảo vệ khu dự trữ sinh quyển cao nguyên đá Đồng Văn.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia có vị trí địa lý trải dài trên nhiều vĩ tuyến, khí hậu nhiệt đới ẩm, địa hình phức tạp đã tạo nên sự đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật. Nguồn tài nguyên thú đóng góp rất lớn cho sự đa dạng này với 322 loài thuộc 43 họ và 15 bộ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Nhƣng nhiều năm trở lại đây, do nạn săn bắt trái phép đã làm cho số lƣợng của các loài thú bị suy giảm ngày càng nghiêm trọng. Một số loài đã bị tuyệt chủng hoàn toàn nhƣ Tê giác hai sừng (Dicerorhinus sumatrensis), Bò xám (Bos sauveli), Cầy rái cá (Cynogale bennettii),Heo vòi (Tapirus pinchaque) .(Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007) và mới đây nhất vào năm 2010 cá thể Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) cuối cùng của nƣớc ta đã bị bắn chết.

Sinh cảnh sống của các loài thú ngày càng bị thu hẹp hoặc giảm chất lƣợng sống bởi các hoạt động khai thác gỗ, củi trái phép; lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp, xây dựng các công trình,. Vì vậy, bổ sung cơ sở dữ liệu về các loài thú ở các vùng miền trong cả nƣớc phục vụ công tác bảo tồn tài nguyên rừng quốc gia đang bị suy thoái là rất cần thiết. Vƣờn Quốc gia (VQG) Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn đƣợc thành lập trên cơ sở sát nhập của Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca và Khu Bảo tồn thiên nhiên Du Giàtheo Quyết định số 1377/ của Thủ tƣớng Chính phủ ngày 18 tháng 8 năm 2015. Tổng diện tích tự nhiên của Vƣờn là 15.006,3 ha thuộc địa bàn 03 xã của 03 huyện, tỉnh Hà Giang: xã Tùng Bá, huyện Vị Xuyên; xã Minh Sơn, huyện Bắc Mê; xã Du Già, huyện Yên Minh.

Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng của Vƣờn là bảo vệ các hệ sinh thái rừng kín thƣờng xanh mƣa ẩm nhiệt đới núi đá vôi và các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm: Thông đỏ bắc, Trai lý, Sƣa bắc, Voọc mũi hếch và Sơn dƣơng nâu (Quyết định 1377/QĐ-TTg, 2015). Trƣớc khi thành lập Vƣờn có nhiều nghiên cứu khác nhau tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca và Khu Bảo tồn thiên nhiên Du Già, chẳng hạn nhƣ: Đinh Văn Mạnh (1994) nghiên cứu về đa dạng sinh học tại Du 1 Già, Mai Sỹ Luân (2009) nghiên cứu về khu hệ thú linh trƣởng tại Du Già, Tổ chức FFI (2013) nghiên cứu về quần thể Voọc mũi hếch tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Khau Ca.Tuy nhiên, đến nay chƣa có nghiên cứu nào về tài nguyên động thực vật rừng chung cho cả Vƣờn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, trong khi các mối đe dọa của cộng đồng địa phƣơng đang làm suy thoái tài nguyên rừngcủa khu vực. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:“Nghiên cứu hiện trạng các loài thú và đề xuất các giải pháp bảo tồn tại Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bổ sung các thông tin về hiện trạng cũng nhƣ các mối đe dọa đến các loài thú, phục vụ cho công tác quản lý và bảo tồn tài nguyên thú nói riêng và đa dạng sinh học nói chungtại Vƣờn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Thành phần các loài thú tại Việt Nam Hệ thống phân loại thú ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và có sự kế thừa, bổ sung giữa các tác giả. Năm 1994, Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự đã tổng hợp các nghiên cứu của các nhà khoa học đƣợc thực hiện ở nhiều vùng miền khác nhau trong cả nƣớc và xây dựng cuốn sách “Danh lục các loài thú (Mammalia) Việt Nam”[6]. Trong cuốn sách này, các tác giả đã thống kêđƣợc 223 loài, 37 họ, 12 bộ thú đƣợc ghi nhận tại Việt Nam(không tính đến các loài thú biển). Thông tin tổng hợp về các loài thú đƣợc trình bày trong bảng 1.1: Tổng hợp các taxonthú đƣợc ghi nhận tạiViệt Nam năm 1994 Tên bộ thú TT Số họ Số loài Tên phổ thông Tên khoa học 1 Ăn sâu bọ Insectivora 3 14 2 Nhiều răng Scandenta 1 2 3 Cánh da Dermoptera 1 1 4 Dơi Chiroptera 6 65 5 Linh trƣởng Primates 3 14 6 Ăn thịt Carnivora 6 38 7 Có vòi Proboscide 1 1 8 Móng guốc ngón lẻ Perissodactyla 2 3 9 Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla 5 15 10 Tê tê Pholidota 1 2 11 Gặm nhấm Rodentia 6 145 12 Thỏ Lagomorpha 1 2 Tổng 37 223 3 Nguồn: Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (1994) Đến năm 2000, Lê Vũ Khôi đã bổ sung thêm 43 loài, 3 họ và 2 bộ thú mới, nâng tổng số các loài thú đƣợc ghi nhận ở Việt Nam là 266 loài, 40 họ và 14 bộ thú (bảng 1.2) trong cuốn sách “Động vật học có xương sống- Lớp Thú”[9].2: Tổng hợp các taxon thú đƣợc ghi nhận tạiViệt Nam năm 2000 Tên bộ thú TT Số họ Số loài Tên phổ thông Tên khoa học 1 Ăn sâu bọ Insectivora 3 15 2 Nhiều răng Scandenta 1 2 3 Cánh da Dermoptera 1 1 4 Dơi Chiroptera 7 93 5 Linh trƣởng Primates 3 16 6 Ăn thịt Carnivora 6 39 7 Cá voi Cetacea 1 4 8 Bò biển Sirenia 1 1 9 Có vòi Proboscide 1 1 10 Móng guốc ngón lẻ Perissodactyla 2 3 11 Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla 5 18 12 Tê tê Pholidota 1 2 13 Gặm nhấm Rodentia 7 68 14 Thỏ Lagomorpha 1 3 Tổng 40 266 Nguồn: Lê Vũ Khôi (2000) Trong bảng danh lục thú của Lê Vũ Khôi (2000) đã bổ sung tình trạng của các loài thú dựa vào Sách đỏ Việt Nam (2002).

Theo đó, có 93 loài thú đƣợc đánh giá có số lƣợng suy giảm nghiêm trọng ngoài tự nhiên với các mức đe dọa tuyệt chủng khác nhau. 4 Danh lục thú của Lê Vũ Khôi (2000) đã bổ sung thêm 2 bộ và 3 họ so với danh lục thú của Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (1994) đó là: bộ Cá voi (Cetacea), Bò biển (Sirenia) và một họ trong bộ Dơi (Chiroptera). Năm 2009, Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh đã xây dựng danh lục thú Việt Nam trong cuốn sách “Phân loại học lớp thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam”[2]. Danh lục thú này là kết quả kế thừa bản danh lục thú của Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự (1994), Lê Vũ Khôi (2000).

Bảng danh lục làtổng hợp các kết quả nghiên cứu đƣợc thực hiện sau gần 10 năm của các nhà khoa học tại tất cả các vùng miền trong cả nƣớc. Danh lục thú này có mô tả sơ bộ đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của 322 loài thú thuộc 43 họ, 15 bộthú ở Việt Nam (kể cả các loài thú biển). Thông tin về thành phần các taxon thú ở Việt Nam đƣợc trình bày trong bảng 1.3: Tổng hợp số loài thú ở Việt Nam năm 2009 Bộ Số họ Số loài TT Tên phổ thông Tên khoa học 1 Có vòi Proboscide 1 1 2 Bò nƣớc Sirenia 1 1 3 Nhiều răng Scandenta 1 2 4 Cánh da Dermoptera 1 1 5 Linh trƣởng Primates 3 23 6 Thỏ Lagomorpha 1 3 7 Chuột voi Erinaceomorpha 1 2 8 Chuột chù Soricomorpha 2 22 9 Dơi Chiroptera 7 113 10 Tê tê Pholidota 1 2 11 Ăn thịt Carnivora 7 39 12 Móng guốc ngón lẻ Perissodactyla 2 3 13 Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla 5 20 14 Cá voi Cetacea 4 22 15 Gặm nhấm Rodentia 6 68 Tổng 43 322 Nguồn: Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) 5 Danh lục thú thú Việt Nam của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) đã chia bộ Ăn sâu bọ (Insectivora) thành 2 bộ khác nhau là bộ Chuột voi (Erinaceomorpha) gồm 1 họ và bộ Chuột chù (Soricomorpha) gồm 2 họ. Bộ ăn thịt (Carnivora ) bổ sung thêm 1 họ, bộ Cá voi (Cetacea) bổ sung thêm 3 họ, bộ Gặm nhấm (Rodentia) giảm đi một họ.

Tổng số họ trong danh lục là 43 họ. Sự thay đổi về thành phần loài trong các bộ, họ so với danh lục thú của Lê Vũ Khôi (2000) gồm có bộ Cá voi đƣợc bổ sung thêm 18 loài, bộ Dơi bổ sung thêm 20 loài, bộ Chuột chù bổ sung thêm 22 loài, bộ Chuột voi bổ sung thêm 2 loài, bộ Linh trƣởng bổ sung thêm 7 loài. Tổng số loài trong danh lục là 322 loài hơn 56 loài so với bản danh lục thú của Lê Vũ Khôi (2000). Đến nay, thành phần các loài thú ở Việt Nam không có sự biến động.

Vì vậy, tài liệu của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) đƣợc coi là tài liệu cập nhật và chi tiết nhất hiện nay về phân loại thú ở Việt Nam. Một số nghiên cứu về hiện trạng và các mối đe dọa đến khu hệ thú Năm 2007, Ngô Kim Thái trong bản Luận văn Thạc Sỹ khoa học Lâm nghiệp “Thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú KBTTN Bắc Hướng Hóa” [12] đã ghi nhận đƣợc 69 loài thú thuộc 25 họ, 9 bộ tại KBTTN Bắc Hƣớng Hóa. Trong số đó có 54 loài đƣợc khẳng định chắc chắn bằng hình ảnh và quan sát mẫu vật, 15 loài đƣợc xác định thông qua việc tổng hợp tài liệu. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khu hệ thú chủ yếu là mất sinh cảnh sống, khai thác và buôn bán động vật hoang dã và ảnh hƣởng của việc xây dựng tuyến đƣờng Hồ Chí Minh.

Năm 2011, Lƣơng Anh Tuấn trong bản Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp “Đánh giá tình trạng và phân bố một số loài thú quý hiếm tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng” [14] đã ghi nhận đƣợc 24 loài thú thuộc các mức nguy cấp khác nhau và các mối đe dọa ảnh hƣởng đến khu hệ thú chủ yếu là săn bắt động vật hoang dã và phá hủy sinh cảnh sống. Năm 2011, Vƣơng Quốc Đại trong bản Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Lâm nghiệp “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và tình trạng của các loài thú quý hiếm tại KBTTN Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh” [1] đã ghi nhận 28 loài thú thuộc 15 họ, 6 7 bộ. Các mối đe dọa chính tại khu vực là săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ, chăn thả gia súc và cháy rừng trong đó săn bắt động vật và khai thác gỗ là hai mối đe dọa lớn nhất đến Khu bảo tồn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ