Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Ngô Phi Hùng với đề tài "Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí)", chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ (mã số: 62 22 01 01), được hoàn thành năm 2014 tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Quang Thiêm và PGS.TS. Hoàng Trọng Canh.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo trình bày của tác giả, ngôn ngữ và văn tự tiếng Việt từng trải qua giai đoạn dài tồn tại trong vị thế song ngữ bất bình đẳng suốt thời kỳ Bắc thuộc và phong kiến. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tiếng Việt chính thức trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất, mở rộng chức năng xã hội trong quản trị nhà nước, giáo dục và nghiên cứu khoa học. Sự phát triển của các ngành khoa học đòi hỏi một hệ thống thuật ngữ tiếng Việt tương ứng nhằm đáp ứng yêu cầu truyền bá tri thức và đào tạo.

Trong các con đường hình thành thuật ngữ (thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường, mượn tiếng nước ngoài, cấu tạo từ mới dựa trên chất liệu dân tộc), con đường cấu tạo thuật ngữ mới giữ vai trò trọng tâm. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã đạt được một số kết quả ở từng ngành riêng lẻ hoặc ở một số thời kỳ lịch sử, việc đi sâu khảo sát toàn diện các phương thức và mô hình cấu tạo của hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên (KHTN), cụ thể là nhóm ngành Toán - Cơ - Tin học và Vật lí ở cả cấp độ từ và cấp độ ngữ, vẫn là khoảng trống chưa có công trình nào khảo sát chuyên sâu và có tính hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích của luận án là nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí) nhằm rút ra các đặc điểm cơ bản về cấu tạo của hệ thuật ngữ này. Trên cơ sở đó, luận án phác họa bức tranh tổng quát về các phương thức và mô hình cấu tạo, đồng thời đề xuất ý kiến đối với việc phát triển và chuẩn hóa thuật ngữ KHTN tiếng Việt.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết về thuật ngữ khoa học nói chung và thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng; xem xét sơ bộ sự hình thành và phát triển của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt trong mối quan hệ với lịch sử phát triển của các ngành khoa học cơ bản ở Việt Nam thời hiện đại.
  2. Khảo sát phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN Toán - Cơ - Tin học, Vật lí tiếng Việt ở bậc từ.
  3. Khảo sát phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ KHTN Toán - Cơ - Tin học, Vật lí tiếng Việt ở bậc ngữ; thông qua việc phân tích các mô hình cấu tạo, xác định các mô hình có sức sản sinh cao và rút ra các mô hình cấu tạo cơ bản của hệ thuật ngữ này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt được khảo sát ở hai bậc cấu tạo: bậc từ (các kiểu từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ) và bậc ngữ (danh ngữ, động ngữ).
  • Phạm vi tư liệu và thời gian: Tư liệu khảo sát được trích xuất từ bộ Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên, gồm Tập 1: Toán - Cơ - Tin học và Tập 2: Vật lí do GS.TSKH. Nguyễn Văn Mậu chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 2008 (công trình biên soạn nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, 1956 - 2006).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Luận án điểm lại lịch sử thuật ngữ học trên thế giới với hai nền tảng chính: sự phát triển lý thuyết đáp ứng việc hình thành lớp từ ngữ chuyên môn và nhu cầu giao tiếp khoa học thực tiễn.

  • Trường phái Âu - Mỹ và Xô Viết: Các tác giả tiêu biểu được trích dẫn gồm E. Wüster, D. S. Lotte, A. A. Reformatskij, G. O. Vinokur, O. S. Akhmanova, B. N. Golovin, V. P. Danilenko, A. S. Gerd.
  • G. O. Vinokur (1939) với công trình "Về một số hiện tượng cấu tạo từ trong hệ thuật ngữ kĩ thuật Nga" đã chỉ rõ thuật ngữ không nhất thiết là từ đặc biệt mà là từ đảm nhiệm chức năng đặc biệt.
  • V. P. Danilenko khẳng định bản chất của thuật ngữ là ký hiệu tương ứng với một khái niệm khoa học, không đồng nhất với từ ngữ toàn dân thông thường.
  • A. S. Gerd định nghĩa thuật ngữ là đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa, mang tính hệ thống và tính đơn nghĩa nghiêm ngặt trong phạm vi một ngành khoa học.
  • Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (1976) xác lập thuật ngữ là yếu tố định danh chuyên biệt hóa, giới hạn hóa trong hệ thống khái niệm chuyên ngành.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Quá trình xây dựng và nghiên cứu thuật ngữ tiếng Việt được luận án phân kỳ và tổng thuật qua các mốc:

  • Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến trước 1945: Trí thức phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục giới thiệu một số thuật ngữ khoa học xã hội. Giai đoạn 1917 - 1934, tạp chí Nam Phong đăng tải các thảo luận của Nguyễn Ứng (Về sự dịch tiếng hóa học), Nguyễn Triệu Luật (Danh từ hóa học). Các bộ từ điển xuất hiện gồm Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến Đức, 1931), Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh, 1932).
  • Mốc hình thành thuật ngữ KHTN (1942): Cuốn Danh từ khoa học (Toán, Lí, Hóa, Thiên văn) của tác giả Hoàng Xuân Hãn xuất bản năm 1942 được xem là mốc mở đầu xác lập hệ thống thuật ngữ KHTN và công nghệ hiện đại của Việt Nam, xây dựng nguyên tắc và phương pháp cấu tạo thuật ngữ có tính chuẩn mực. Tiếp theo là Danh từ thực vật (Nguyễn Hữu Quán, Lê Văn Căn), Danh từ vạn vật học (Đào Văn Tiến, 1945), Danh từ y học (Lê Khắc Thiền, Phạm Khắc Quảng).
  • Giai đoạn sau 1954 - 1975: Ban Sử Địa Văn (1960) ban hành "Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên". Các hội nghị học thuật lớn được tổ chức: Hội nghị bàn về xây dựng thuật ngữ khoa học (12/1964), Hội nghị trưng cầu ý kiến về dùng thuật ngữ khoa học (05/1965). Hội đồng Thuật ngữ - Từ điển khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm Chủ tịch được thành lập. Tháng 6/1966, Ủy ban Khoa học Nhà nước ban hành "Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt".
  • Các nghiên cứu từ sau 1975 đến nay: Các giáo trình và chuyên khảo của Nguyễn Văn Tu (1960, 1976), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981), Lưu Vân Lăng (1977), Như Ý (1979), Hồng Dân (1979), Hoàng Văn Hành (1983), Nguyễn Thiện Giáp (1978, 1985, 1998), Hà Quang Năng (2008), Nguyễn Đức Tồn (2010).
  • Các luận án tiến sĩ chuyên đề: Vũ Quang Hào (1991), Nguyễn Thị Bích Hà (2000), Nguyễn Thị Kim Thanh (2004), Vương Thị Thu Minh (2006), Mai Thị Loan, Vũ Thị Thu Huyền (2013).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở các ngành khoa học xã hội, khoa học quân sự, xây dựng hoặc phân tích chung các nguyên tắc định danh. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc miêu tả, phân loại và thống kê có hệ thống các mô hình cấu tạo cụ thể ở cả cấp độ từ và cấp độ ngữ đối với liên ngành KHTN cốt lõi (Toán học, Cơ học, Tin học và Vật lí học) dựa trên nguồn ngữ liệu chuẩn mực xuất bản năm 2008.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Khái niệm thuật ngữ: Luận án tổng hợp các định nghĩa trong và ngoài nước và đưa ra quan niệm làm việc: "Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc đối tượng trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định." Thuật ngữ khác từ thông thường ở chỗ mang tính biểu niệm chính xác, tính hệ thống ngữ nghĩa do hệ khái niệm khoa học quy định, và không mang sắc thái biểu cảm.
  2. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học:
    • Thuật ngữ (term) gắn liền với hệ thống khái niệm khoa học và thực hiện chức năng định nghĩa, biểu thị các khái niệm trừu tượng (ví dụ: đạo hàm, tích phân, vi phân, trọng lực).
    • Danh pháp (nomenclature) là hệ thống tên gọi cụ thể của các đối tượng riêng lẻ, mang chức năng gọi tên (nhãn hiệu hóa), tính quy ước cao, tương tự như tên riêng (ví dụ: vitamin A, vitamin B, hợp chất NaCl, ký hiệu phân tử $H_2O$). Luận án trích dẫn sơ đồ phân cấp của Nguyễn Thiện Giáp: Tín hiệu -> Danh pháp -> Thuật ngữ -> Từ.
  3. Ký hiệu, công thức và ngôn ngữ tự nhiên: Ngôn ngữ KHTN sử dụng song song hệ ký hiệu quốc tế và ngôn ngữ tự nhiên. Ký hiệu giúp biểu đạt cô đọng các định lý, công thức, khắc phục rào cản ngôn ngữ quốc gia; tuy nhiên, ngôn ngữ tự nhiên là nền tảng giải thích, diễn giải và chứa đựng nội dung của các ký hiệu nhân tạo.
  4. Phương châm xây dựng thuật ngữ: Dựa trên các quan điểm của Hoàng Xuân Hãn (1942), Hội nghị khoa học (1964), Lưu Vân Lăng (1977), Như Ý (1979), Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), luận án đúc kết 3 phương châm cơ bản:
    • Tính khoa học (chính xác, hệ thống, ngắn gọn).
    • Tính dân tộc (tính bản ngữ, sử dụng quy tắc và chất liệu tiếng Việt).
    • Tính quốc tế (thống nhất với hệ khái niệm và thuật ngữ quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Sử dụng để ghi nhận, phân loại và miêu tả đặc điểm hình thái, cấu trúc của các mô hình cấu tạo thuật ngữ ở bậc từ và bậc ngữ.
  • Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (IC analysis): Chia cắt thuật ngữ thành các thành tố cấu tạo trực tiếp nhằm xác định vai trò của thành tố trung tâm, thành tố phụ, thành tố độc lập và không độc lập (yếu tố Hán Việt, yếu tố thuần Việt).
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh giữa các tiểu loại thuật ngữ trong cùng một phân ngành và giữa các ngành Toán, Cơ, Tin học, Vật lí để tìm ra nét tương đồng và dị biệt trong mô hình cấu tạo.
  • Thủ pháp thống kê phân loại: Thu thập, phân loại và xử lý định lượng toàn bộ hệ thống thuật ngữ trong từ điển khảo sát; tính toán số lượng và tỷ lệ phần trăm của từng mô hình cấu tạo, biểu diễn qua hệ thống bảng số liệu.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu chính gồm toàn bộ các mục từ và cụm thuật ngữ tiếng Việt trong hai tập sách:

  • Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên, Tập 1: Toán - Cơ - Tin học, Nguyễn Văn Mậu (chủ biên), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.
  • Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên, Tập 2: Vật lí, Nguyễn Văn Mậu (chủ biên), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2008.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương này tập trung trình bày các tiền đề lý thuyết về thuật ngữ học và đặc trưng của văn bản khoa học tự nhiên:

  • Khảo sát các định nghĩa thuật ngữ từ các nhà ngôn ngữ học Liên Xô (D. S. Lotte, G. O. Vinokur, O. S. Akhmanova, V. P. Danilenko, A. S. Gerd) và Việt Nam (Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Hà Quang Năng, Nguyễn Đức Tồn).
  • Phân tích đặc điểm của văn bản KHTN: tính chuẩn xác, tính logic, tính trừu tượng khái quát cao, việc sử dụng danh từ/danh ngữ chiếm tỷ lệ áp đảo so với các từ loại khác, hiện tượng danh từ hóa bằng các yếu tố phụ trợ như sự, tính, độ.
  • Phân biệt ranh giới giữa thuật ngữ KHTN và danh pháp khoa học dựa trên chức năng định nghĩa khái niệm đối lập với chức năng định danh gọi tên đối tượng.
  • Hệ thống hóa lịch sử hình thành các ký hiệu toán học quốc tế thường được sử dụng cùng thuật ngữ:
Ký hiệu / Dấu Ý nghĩa của dấu Người đưa vào sử dụng Năm đưa vào
$\infty$ Vô hạn J. Wallis (Oalixơ) 1655
$e$ Cơ số logarit tự nhiên L. Euler (Ơle) 1736
$\pi$ Tỉ số giữa chu vi và đường kính vòng tròn W. Jones (Jôn) và L. Euler 1706, 1736
$i$ Đơn vị ảo L. Euler 1777
$\vec{i}, \vec{j}, \vec{k}$ Vectơ đơn vị W. Hamilton (Hamintơn) 1853
$[ ]$ Phần nguyên của một số C. Gauss (Gauxơ) 1808
$+ , -$ Phép cộng, phép trừ J. Widmann (Vitman) 1489
$\times$ Phép nhân W. Oughtred (Aotret) 1698
$:$ Phép chia G. W. Leibniz (Laibnit) 1684
$a^2, b^2, ... a^n$ Lũy thừa R. Descartes (Đề các), I. Newton (Niutơn) 1637, 1676
$\ln$ Logarit tự nhiên A. Pringsheim (Prinhsêm) 1893
$\sin, \cos$ Các hàm lượng giác L. Euler 1748
$\tan$ Tang L. Euler 1753
$dx, d^2x$ Vi phân G. W. Leibniz 1675
$\int y dx$ Tích phân G. W. Leibniz 1675
$d/dx$ Đạo hàm G. W. Leibniz 1675
$y'(x), f'(x)$ Đạo hàm J. de Lagrange (Lagrăng) 1770
$\Delta(x)$ Số gia L. Euler 1775
$\partial$ Đạo hàm riêng A. Legendre (Lơgiăng) 1786
$\Sigma$ Tổng L. Euler 1755
$\Pi$ Tích C. Gauss 1812
$y(x)$ Hàm số Bernoulli (Becnuli), L. Euler 1718, 1734
$=$ Bằng R. Recorde (Rơcooc) 1557
$> , <$ Lớn hơn, nhỏ hơn T. Harriot (Hariôt) 1631
$\cup$ Hợp G. Peano (Pêanô) 1888
$\cap$ Giao G. Peano 1888
$\subset$ Được chứa trong E. Schröder (Sruêđơ) 1890
$\supset$ Chứa E. Schröder 1890
$\in$ Thuộc G. Peano 1895
  • Tổng hợp các tiêu chuẩn thuật ngữ tiếng Việt qua các thời kỳ lịch sử khoa học:
STT Tiêu chuẩn của thuật ngữ Người đưa ra Năm đưa ra
1 - Mỗi ý phải có một danh từ để gọi
- Danh từ ấy phải dùng riêng về ý ấy
- Mỗi ý đừng có nhiều danh từ
- Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý
- Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc
- Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam
- Danh từ phải đặt theo lối đặt các tiếng thường và phải có tính chất quốc gia
Hoàng Xuân Hãn 1942
2 - Tính chính xác
- Tính hệ thống
- Tính ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ
- Tính dân tộc
- Tính quốc tế
Hội nghị xây dựng thuật ngữ khoa học 1964
3 - Tính chính xác
- Tính hệ thống
- Tính bản ngữ (dân tộc)
- Tính ngắn gọn, cô đọng
- Tính dễ dùng
Lưu Vân Lăng 1977
4 - Tính định danh
- Tính chính xác
- Tính hệ thống
- Tính bản ngữ
Như Ý 1979
5 - Thuật ngữ ổn định về cấu tạo
- Thuật ngữ phải ngắn gọn
- Thuật ngữ phải có sức sản sinh
Hồng Dân 1979
6 - Tính chính xác
- Tính hệ thống
- Tính quốc tế
Nguyễn Thiện Giáp 1985
7 - Tính chính xác
- Tính hệ thống
- Tính quốc tế
Đỗ Hữu Châu 1981

Chương 2: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc từ

Chương 2 đi sâu khảo sát các thuật ngữ KHTN có hình thức cấu tạo là từ (chủ yếu là từ ghép):

  • Phân loại cấu trúc từ ghép trong thuật ngữ KHTN:
    • Từ ghép đẳng lập: Khảo sát các mô hình ghép các thành tố có quan hệ ngang hàng, biểu thị các khái niệm tổng hợp hoặc liên hợp trong Toán, Cơ, Tin học, Vật lí.
    • Từ ghép chính phụ trật tự xuôi: Mô hình thành tố chính đứng trước, thành tố phụ đứng sau bổ nghĩa (đặc trưng của ngữ pháp tiếng Việt).
    • Từ ghép chính phụ trật tự ngược: Mô hình thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau (ảnh hưởng của quy tắc cấu tạo từ Hán Việt).
  • Thống kê và xác định các thành tố có tần số xuất hiện cao:
    • Nhóm thành tố độc lập tham gia cấu tạo thuật ngữ với tần suất lớn.
    • Nhóm thành tố không độc lập (các yếu tố Hán Việt gốc đóng vai trò phụ tố/bán phụ tố) có tần số xuất hiện cao đứng trước hoặc đứng sau.
  • Xác định các mô hình có sức sản sinh lớn ở bậc từ: Phân tích quan niệm về sức sản sinh của mô hình cấu tạo từ trong thuật ngữ học, xác định các khuôn mẫu cấu tạo từ ghép sản sinh ra lượng lớn thuật ngữ mới cho ngành Toán - Cơ - Tin học và Vật lí.

Chương 3: Phương thức và mô hình cấu tạo thuật ngữ khoa học tự nhiên ở bậc ngữ

Chương 3 mở rộng khảo sát các thuật ngữ KHTN có cấu trúc là cụm từ (ngữ cố định/ngữ chuyên môn):

  • Thuật ngữ KHTN có cấu tạo là danh ngữ:
    • Khảo sát mô hình danh ngữ 2 thành tố: Phần phụ trước + Phần trung tâm hoặc Phần trung tâm + Phần phụ sau.
    • Khảo sát mô hình danh ngữ 3 thành tố: Phần phụ trước + Phần trung tâm + Phần phụ sau.
    • Thống kê tỷ lệ các thành tố tham gia cấu tạo danh ngữ và xác định danh ngữ là dạng thức cấu tạo chiếm số lượng vượt trội trong thuật ngữ KHTN.
  • Thuật ngữ KHTN có cấu tạo là động ngữ:
    • Khảo sát các mô hình động ngữ: Phần phụ trước + Phần trung tâm, Phần trung tâm + Phần phụ sau, Phần phụ trước + Phần trung tâm + Phần phụ sau.
    • Phân tích tỷ lệ và chức năng của động ngữ trong việc biểu thị các quá trình, thao tác tính toán, xử lý và hiện tượng vật lý.
  • Các mô hình có sức sản sinh cao ở bậc ngữ: Tổng kết các cấu trúc ngữ có khả năng kết hợp linh hoạt, cho phép ghép thêm các định ngữ chuyên ngành để định danh các khái niệm phân nhánh sâu của khoa học hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thuật ngữ học nói chung và thuật ngữ KHTN tiếng Việt nói riêng; làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ tự nhiên và hệ thống ký hiệu, công thức nhân tạo trong giao tiếp khoa học.
  2. Xác lập ranh giới tường minh giữa thuật ngữ KHTN và danh pháp khoa học dựa trên tiêu chí chức năng biểu đạt khái niệm và chức năng gọi tên đối tượng.
  3. Rút ra các đặc điểm cấu tạo cơ bản của hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt ở cả hai cấp độ từ và ngữ, xác định quy luật kết hợp giữa các thành tố thuần Việt và thành tố Hán Việt trong quá trình thuật ngữ hóa.
  4. Đánh giá sức sản sinh của từng mô hình cấu tạo, làm rõ xu hướng vận động của thuật ngữ tiếng Việt trong việc tiếp nhận và chuyển hóa các khái niệm khoa học hiện đại theo phương châm kết hợp tính khoa học, tính dân tộc và tính quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có số liệu thống kê cụ thể về các mô hình cấu tạo thuật ngữ của 4 phân ngành KHTN trọng điểm: Toán học, Cơ học, Tin học và Vật lí học.
  2. Kết quả phân loại và các bảng mô hình cấu tạo là nguồn ngữ liệu hữu ích phục vụ trực tiếp cho công tác biên soạn từ điển chuyên ngành và từ điển giải thích thuật ngữ KHTN.
  3. Cung cấp cơ sở khoa học để định hướng và giải quyết các vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ KHTN trong tiếng Việt hiện nay, đặc biệt là nhóm thuật ngữ ngành Tin học vốn đang phát triển nhanh và có nhiều biến thể dịch thuật khác nhau.
  4. Hỗ trợ việc giảng dạy, học tập và chuẩn hóa cách sử dụng thuật ngữ KHTN trong hệ thống giáo dục từ phổ thông đến đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi ngữ liệu khảo sát trong bộ Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên (2 tập, xuất bản năm 2008) tập trung vào 4 phân ngành Toán, Cơ, Tin học, Vật lí; chưa bao quát toàn bộ các phân ngành KHTN khác như Hóa học, Sinh học, Khoa học Trái đất. Do đó, một số đặc thù cấu tạo danh pháp và thuật ngữ của các ngành có tính định danh phân loại sinh học/hóa học chưa được khảo sát đầy đủ trong công trình này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành KHTN thực nghiệm khác (Hóa học, Sinh học, Địa chất).
    • Đi sâu nghiên cứu cơ chế chuẩn hóa và phiên chuyển thuật ngữ mới xuất hiện trong kỷ nguyên số, đặc biệt là sự tương tác giữa tiếng Anh chuyên ngành và tiếng Việt trong lĩnh vực Công nghệ thông tin và Khoa học máy tính.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Ngôn ngữ học / Lí luận ngôn ngữ: Tham khảo khung lý thuyết thuật ngữ học, phương pháp phân tích thành tố trực tiếp kết hợp thống kê định lượng áp dụng cho ngữ liệu chuyên ngành.
  • Các nhà biên soạn từ điển và chuyên gia thuật ngữ học: Tham khảo hệ thống phân loại mô hình cấu tạo từ ghép và ngữ cố định để chuẩn hóa mục từ và xây dựng nguyên tắc đối chiếu thuật ngữ song ngữ Anh - Việt.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu các ngành Toán, Cơ, Tin học, Vật lí: Tham khảo cách thức định danh, cấu trúc logic của hệ thống thuật ngữ chuyên ngành để sử dụng nhất quán trong giảng dạy, viết giáo trình và dịch thuật tài liệu khoa học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt sự khác nhau giữa thuật ngữ và danh pháp khoa học như thế nào?

Theo luận án, thuật ngữ gắn liền với hệ thống khái niệm của một ngành khoa học và thực hiện chức năng định nghĩa, biểu thị các khái niệm trừu tượng (ví dụ: đạo hàm, tích phân, trọng lực). Trong khi đó, danh pháp khoa học (danh từ khoa học) là tên gọi cụ thể của các đối tượng riêng lẻ, mang tính quy ước hình thức, nhãn hiệu hóa đối tượng và thực hiện chức năng gọi tên là chủ yếu, không phản ánh trực tiếp hệ khái niệm trừu tượng (ví dụ: vitamin A, hợp chất NaCl, ký hiệu phân tử $H_2O$).

2. Nguồn tư liệu ngữ liệu chính được tác giả sử dụng trong luận án là gì?

Tư liệu nghiên cứu được trích xuất từ bộ Từ điển Anh - Việt khoa học tự nhiên, gồm Tập 1 (Toán - Cơ - Tin học) và Tập 2 (Vật lí) do GS.TSKH. Nguyễn Văn Mậu chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2008 nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (1956 - 2006).

3. Tác giả đã xác định những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào để giải quyết nhiệm vụ luận án?

Luận án kết hợp 4 phương pháp và thủ pháp:

  1. Phương pháp miêu tả;
  2. Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp;
  3. Phương pháp so sánh đối chiếu;
  4. Thủ pháp thống kê phân loại (biểu diễn qua các bảng số liệu và đồ thị).

4. Công trình nào được xem là mốc mở đầu cho hệ thuật ngữ KHTN tiếng Việt hiện đại và ra đời năm nào?

Cuốn Danh từ khoa học (Toán, Lí, Hóa, Thiên văn) của tác giả Hoàng Xuân Hãn, xuất bản năm 1942, được xác định là mốc đánh dấu sự hình thành hệ thuật ngữ KHTN và công nghệ Việt Nam, đặt nền móng lý luận, nguyên tắc và phương pháp cấu tạo thuật ngữ KHTN tiếng Việt hiện đại.

5. Tại sao tác giả nhận định hệ thuật ngữ ngành Tin học có tính chất đặc thù so với Toán học hay Vật lí?

Trong văn bản, tác giả chỉ rõ hệ thuật ngữ của các ngành Toán học, Vật lí, Hóa học mang tính ổn định cao hơn do có lịch sử phát triển lâu dài. Ngược lại, Tin học là ngành khoa học mới xuất hiện trong những thập niên gần đây, hệ thuật ngữ Tin học còn trẻ, đang trong quá trình hình thành và biến đổi liên tục, hàng ngày xuất hiện nhiều thuật ngữ mới nên việc định danh và phiên chuyển sang tiếng Việt còn nhiều bất cập, thiếu tính ổn định.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Phi Hùng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về các phương thức và mô hình cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt trên ngữ liệu nhóm ngành Toán - Cơ - Tin học và Vật lí. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thành tố trực tiếp và thủ pháp thống kê định lượng, tác giả đã miêu tả chi tiết các mô hình cấu tạo ở bậc từ (ghép đẳng lập, ghép chính phụ) và bậc ngữ (danh ngữ, động ngữ), đồng thời xác định các mô hình có sức sản sinh cao. Công trình đóng góp ngữ liệu và căn cứ lý luận cho nghiên cứu thuật ngữ học tiếng Việt, hỗ trợ thiết thực cho công tác biên soạn từ điển và chuẩn hóa ngôn ngữ khoa học hiện đại.