Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ sinh học của tác giả Thái Hạnh Dung, chuyên ngành Vi sinh vật học (mã số: 9420101.07), được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Văn Tuấn và PGS. Nguyễn Quang Huy. Đề tài tập trung giải quyết các nút thắt kỹ thuật trong cải biến di truyền ở hai loài nấm sợi công nghiệp quan trọng là Aspergillus oryzae và Aspergillus niger.
Về tính cấp thiết, A. oryzae và A. niger là hai loài vi sinh vật được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận an toàn (GRAS), đóng vai trò như các nhà máy tế bào trong sản xuất enzyme công nghiệp (amylase, glucoamylase, pectinase, phytase) và axit hữu cơ (axit citric, axit gluconic). Tuy nhiên, các chủng phân lập từ tự nhiên thường có hiệu suất sinh tổng hợp và tiết protein thấp, gây khó khăn cho việc khai thác quy mô công nghiệp. Việc áp dụng kỹ thuật di truyền để cải biến chủng nấm gặp nhiều trở ngại do thành tế bào nấm dày, hiệu quả biến nạp thấp. Phương pháp truyền thống chuyển gen thông qua tế bào trần (PMT) đòi hỏi quy trình phức tạp, sử dụng enzyme phân giải thành tế bào tốn kém và thiếu ổn định. Mặt khác, phương pháp chuyển gen qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens (ATMT) dù có hiệu suất cao nhưng chưa được hoàn thiện trên A. niger. Đặc biệt, các hệ thống chuyển gen hiện hành phụ thuộc lớn vào marker kháng kháng sinh (như hygromycin B, phleomycin), làm tăng chi phí nuôi cấy chọn lọc và gây rủi ro an toàn sinh học khi phát tán gen kháng ra môi trường. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu hụt một hệ thống chuyển gen hiệu suất cao, ổn định, không sử dụng gen kháng kháng sinh, dựa trên các marker dinh dưỡng tự thân nhằm phục vụ việc xóa gen định hướng và biểu hiện enzyme tái tổ hợp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Phát triển hệ thống chuyển gen hiệu suất cao thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens dựa trên cơ chế trợ dưỡng đơn và trợ dưỡng kép.
- Áp dụng hệ thống chuyển gen để cải biến di truyền nấm sợi A. oryzae và A. niger thông qua việc xóa gen và tăng cường biểu hiện gen nhằm tạo ra các chủng đột biến có đặc tính sinh học phù hợp cho sản xuất protein tái tổ hợp.
Các nội dung nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Nội dung 1: Phát triển hệ thống chuyển gen mới (tạo chủng đột biến khuyết dưỡng, thiết kế vector, tối ưu hóa quy trình chuyển gen ATMT, biểu hiện gen chỉ thị huỳnh quang DsRed/GFP).
- Nội dung 2: Chứng minh tính khả thi của hệ thống chuyển gen ATMT thu được trong nghiên cứu vai trò, chức năng gen.
- Nội dung 3: Đánh giá hiệu quả xóa các gen điều hòa (amyR, laeA, prtT, stuA, veA) sử dụng hệ thống chuyển gen ATMT và đánh giá vai trò của các gen này đối với quá trình sinh trưởng, biệt hóa tế bào, phân giải cơ chất và tiết sản phẩm.
- Nội dung 4: Xây dựng giải pháp nhằm nâng cao hiệu suất xóa gen ở A. niger mà không sử dụng gen kháng kháng sinh.
- Nội dung 5: Áp dụng hệ thống chuyển gen thu được để tăng cường sự biểu hiện của gen phyA mã hóa enzyme phytase ở các chủng đột biến xóa gen.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nấm sợi Aspergillus oryzae (các chủng RIB40, AUT1-PlD) và Aspergillus niger (các chủng CBS 113.46, N402), cùng vi khuẩn trung gian Agrobacterium tumefaciens AGL1 và vi khuẩn nhân dòng Escherichia coli DH5α. Phạm vi không gian của các thực nghiệm tập trung tại Phòng Genomic, Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein (KLEPT), Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Phạm vi thời gian nghiên cứu và công bố hoàn thành vào năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các mốc nghiên cứu lịch sử và hiện đại về chi Aspergillus cũng như các công nghệ biến nạp di truyền trên nấm sợi:
- Lịch sử phân loại và hệ gen: Chi Aspergillus được Pier Antonio Micheli mô tả lần đầu vào năm 1729 dựa trên cấu trúc cuống sinh bào tử giống thiết bị vảy nước thánh (aspergillum). Năm 1867, Philippe Edouard Léon van Tieghem mô tả loài A. niger. Năm 1926, Thom và Church xuất bản chuyên khảo định danh chi nấm này. Về hệ gen học, năm 2005 đánh dấu bước chuyển khi trình tự hệ gen của A. fumigatus (29,3 Mb; 9.926 gen), A. nidulans và A. oryzae RIB40 (37,6 Mb; 12.074 gen, bởi Machida và cộng sự) được công bố đồng thời trên tạp chí Nature. Năm 2007, Pel và cộng sự công bố hệ gen chủng công nghiệp A. niger CBS 513.88 (33,9 Mb; 14.165 gen), tiếp đó là công bố hệ gen chủng sản xuất axit citric ATCC 1015 của Andersen và cộng sự (2011), cùng 10 trình tự hệ gen mới thuộc chi Aspergillus được de Vries và cộng sự công bố năm 2017.
- Ứng dụng công nghiệp: Takamine (1894) thương mại hóa chế phẩm enzyme Taka-diastase từ A. oryzae. Christensen (1988) và Huge-Jensen (1989) thiết lập hệ thống biểu hiện enzyme khác nguồn ở A. oryzae với protease aspartic và lipase từ Rhizomucor miehei. Godfrey và Reichelt (1983) xác nhận tính an toàn của protease và β-galactosidase từ A. niger.
- Phương pháp chuyển gen ở nấm sợi: Kỹ thuật chuyển gen thông qua tế bào trần (PMT) sử dụng PEG và CaCl2 được thiết lập bởi Ballance và cộng sự (1983) cũng như Tilburn và cộng sự (1983). Kỹ thuật chuyển gen bằng xung điện được thử nghiệm trên A. nidulans (Richey và cộng sự, 1989). Phương pháp dùng sóng xung kích (shock wave) với xung áp suất 150 MPa được Navarro và cộng sự áp dụng trên A. niger, Trichoderma reesei, Phanerochaete chrysosporium và Fusarium oxysporum. Kỹ thuật chuyển gen qua Agrobacterium tumefaciens (ATMT) được De Groot và cộng sự (1998) tiên phong ứng dụng trên nấm sợi, kế thừa hệ thống vector nhị thể (binary vector) do Hoekema, de Framond và cộng sự phát triển từ năm 1983. Gouka và cộng sự (1999) chứng minh hiệu suất ATMT cao hơn 400-600 lần so với PMT ở A. awamori. Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Trần Văn Tuấn và cộng sự (2014, 2018) đã triển khai ATMT trên Penicillium digitatum, Purpureocillium lilacinum và bước đầu trên A. oryzae.
- Marker chọn lọc: Các gen kháng kháng sinh phổ biến gồm hph/hpt (kháng hygromycin B từ E. coli) và nat (kháng nourseothricin từ Streptomyces noursei). Về marker dinh dưỡng, hệ thống gen pyrG mã hóa orotidine-5'-monophosphate decarboxylase tham gia con đường sinh tổng hợp pyrimidine được phân lập bởi van Hartingsveldt và cộng sự (1987), cho phép chọn lọc ngược bằng axit 5-fluoroorotic (5-FOA). Marker hisB (locus An15g00610 ở A. niger, độ tương đồng 57,6% với protein IGPD - imidazoleglycerol-phosphate dehydratase mã hóa bởi HIS3 của Saccharomyces cerevisiae) được nghiên cứu bởi van Leeuwe và cộng sự (2018).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: khắc phục các hạn chế cố hữu của ATMT trên nấm sợi A. niger, loại bỏ sự phụ thuộc vào chất kháng sinh đắt đỏ và độc hại; thiết lập hệ thống marker dinh dưỡng đôi (hisB và pyrG) kết hợp chiến lược tái sử dụng marker duy nhất (pyrG); giải quyết vấn đề tần số tích hợp ngẫu nhiên qua cơ chế nối đầu tận không tương đồng (NHEJ) nhằm nâng cao tỷ lệ tái tổ hợp tương đồng (HR) phục vụ xóa gen đích và biểu hiện enzyme tái tổ hợp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết sinh học phân tử vi nấm, bao gồm:
- Cơ chế biến nạp qua Agrobacterium tumefaciens: Dựa vào khả năng của vi khuẩn mang plasmid Ti chuyển đoạn T-DNA nằm giữa hai trình tự biên (Left Border - LB và Right Border - RB) vào nhân tế bào nấm dưới sự kích hoạt của các gen độc lực (vir) bởi hợp chất phenolic (acetosyringone).
- Cơ chế tích hợp DNA ngoại lai: Tái tổ hợp tương đồng (Homologous Recombination - HR) cho phép thay thế hoặc xóa đoạn gen đích chính xác khi đoạn T-DNA mang hai nhánh tương đồng upstream và downstream; đối lập với cơ chế nối đầu tận không tương đồng (Non-Homologous End Joining - NHEJ) gây tích hợp ngẫu nhiên.
- Cơ chế bổ trợ dinh dưỡng: Chủng đột biến mất chức năng gen hisB mất khả năng sinh tổng hợp histidine, không thể phát triển trên môi trường tối thiểu (MM). Khi nhận lại gen hisB lành lặn từ vector chuyển gen, tế bào phục hồi kiểu hình nguyên dưỡng. Tương tự, đột biến hỏng gen pyrG cần bổ sung uridine/uracil để sinh trưởng và có khả năng sống trên môi trường chứa 5-FOA; đưa pyrG chức năng vào sẽ giúp chọn lọc thể chuyển gen trên môi trường không chứa uridine.
- Khung điều hòa phiên mã: Khảo sát tác động của 5 yếu tố điều hòa then chốt: AmyR (điều hòa phân giải tinh bột, nhận biết trình tự CGGN8(C/A)GG), LaeA (yếu tố điều hòa nhân gắn liền với trao đổi chất thứ cấp và sản xuất axit hữu cơ), PrtR/PrtT (điều hòa biểu hiện các protease ngoại bào), StuA (yếu tố phiên mã thuộc họ APSES kiểm soát phát triển vô tính và chu kỳ tế bào), và VeA (kiểm soát biệt hóa hình thái theo tín hiệu ánh sáng).
Phương pháp thực nghiệm được triển khai đồng bộ qua các kỹ thuật:
- Tạo dòng và thiết kế vector: Tách chiết DNA tổng số bằng phương pháp CTAB/phenol-chloroform, tách chiết RNA tổng số và tổng hợp cDNA. Thiết kế vector nhị thể dựa trên các vector khung pKG2, pKO2, pEX1, pEX2 để tạo vector phục vụ xóa gen (như pKH1) và vector biểu hiện gen phyA.
- Chuyển gen ATMT: Bào tử nấm được ủ đồng nuôi cấy với tế bào Ag. tumefaciens AGL1 đã cảm ứng bằng acetosyringone (AS) trên màng nitrocellulose hoặc giấy lọc đặt trên đĩa môi trường cảm ứng IM rắn. Sau đồng nuôi cấy, màng lọc được chuyển sang môi trường chọn lọc MM chứa kháng sinh cefotaxime/timentin để loại bỏ vi khuẩn và sàng lọc các thể nấm nguyên dưỡng.
- Phân tích phân tử và kiểu hình: Kiểm tra thể chuyển gen bằng phản ứng PCR chẩn đoán vị trí tích hợp. Định lượng số bản sao gen phyA tích hợp và mức độ biểu hiện phiên mã thông qua Real-time PCR (sử dụng phương pháp so sánh ngưỡng chu kỳ Ct). Quan sát phát huỳnh quang DsRed bằng kính hiển vi huỳnh quang.
- Đánh giá hoạt tính sinh học: Đo đường kính vòng phân giải phytate trên môi trường thạch PSM (chứa natri phytate và CaCl2). Định lượng hoạt tính enzyme phytase tiết trong môi trường nuôi cấy lỏng thông qua phản ứng so màu giải phóng phosphate vô cơ.
| Nhóm vi sinh vật / Vector |
Tên chủng / Vector |
Đặc điểm kiểu gen / Tính chất sinh học |
Nguồn gốc trong luận án |
| Vi khuẩn |
E. coli DH5α |
F- endA1 hsdR17 supE44 thi-1 recA1 gyrA96 relA1 deoR Δ(lacZYA-argF) |
Khởi động [58] |
|
Ag. tumefaciens AGL1 |
C58, recA::bla, pTiBo542ΔT-DNA, Mop+, CbR |
Khởi động [79] |
| Nấm sợi A. oryzae |
RIB40 |
Chủng phân lập tự nhiên, kiểu dại |
Khởi động [89] |
|
RIB40ΔpyrG |
Chủng khuyết dưỡng uridine/uracil (ΔpyrG) |
Nghiên cứu trước [106] |
|
RIB40ΔhisB |
Chủng khuyết dưỡng histidine (pyrG+, ΔhisB) |
Tạo ra trong luận án |
|
RIB40ΔhisBΔpyrG |
Chủng khuyết dưỡng kép (ΔhisB, ΔpyrG) |
Tạo ra trong luận án |
|
AUT1-PlD |
niaD- sC- adeA- ΔargB::adeA ΔtppA::argB ΔpepE::adeA aut1- ΔligD ΔpyrG |
Khởi động [169] |
|
AUT1ΔhisB |
Chủng khuyết dưỡng histidine cải biến từ AUT1-PlD (ΔhisB::pyrG) |
Tạo ra trong luận án |
|
AUT1ΔhisBΔpyrG |
Chủng khuyết dưỡng histidine và uridine/uracil |
Tạo ra trong luận án |
| Nấm sợi A. niger |
CBS 113.46 |
Chủng phân lập từ tự nhiên |
Khởi động [7] |
|
CBS 113.46ΔpyrG |
Chủng đột biến khuyết dưỡng uridine/uracil |
Phòng Genomic (KLEPT) |
|
CBS 113.46ΔhisB |
Chủng khuyết dưỡng histidine (pyrG+, ΔhisB) |
Tạo ra trong luận án |
|
N402 |
Chủng chuẩn phòng thí nghiệm (từ chủng NRRL3) |
Khởi động [26] |
|
N402ΔpyrG |
Chủng đột biến khuyết dưỡng uridine/uracil |
Phòng Genomic (KLEPT) |
|
N402ΔhisB |
Chủng khuyết dưỡng histidine (pyrG+, ΔhisB) |
Tạo ra trong luận án |
|
N402ΔhisBΔpyrG |
Chủng khuyết dưỡng kép (ΔhisB, ΔpyrG) |
Tạo ra trong luận án |
| Vector khung |
pKG2 |
Vector nhị thể mang marker pyrG từ A. niger |
Phòng Genomic (KLEPT) |
|
pKO2 |
Vector nhị thể mang gen kháng nourseothricin (nat) |
Phòng Genomic (KLEPT) |
|
pEX1 |
Vector nhị thể mang cấu trúc gpdA promoter - GFP - trpC terminator, marker pyrG (A. oryzae) |
Nghiên cứu trước [107] |
|
pEX2 |
Vector nhị thể mang cấu trúc gpdA promoter - DsRed - trpC terminator, marker pyrG (A. oryzae) |
Nghiên cứu trước [107] |
Môi trường nuôi cấy được chuẩn hóa bao gồm: LB (nuôi vi khuẩn); DPY và PDA (thu bào tử nấm); MM (môi trường tối thiểu sàng lọc nấm); IM lỏng và IM rắn (môi trường cảm ứng ATMT chứa muối MM 2,5X, MES, glucose, glycerol, uracil, uridine); M + Met (chứa methionine); CDA (Czapek-Dox Agar nuôi kiểm tra hình thái); PSM (chứa natri phytate 0,4%, CaCl2 0,2% để sàng lọc phytase). Hóa chất và mồi PCR do PHUSA Biochem và IDT cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương 1 tổng thuật chi tiết cơ sở sinh học và công nghệ của đối tượng nghiên cứu:
- Đặc điểm sinh học và hệ gen: Chi Aspergillus có vách ngăn sợi nấm, phân nhánh nhiều; cấu trúc sinh sản vô tính đặc trưng gồm tế bào chân, cuống sinh bào tử (conidiophore), bọng phồng đỉnh mang các lớp thể bình (phialide) sinh chuỗi bào tử đính (conidia). A. oryzae có hệ sợi đường kính 5-7 μm, bào tử vàng lục hoặc vàng hoa cau; hệ gen giải trình tự đạt 37,6 Mb với 8 nhiễm sắc thể, chứa 12.074 gen mã hóa, mang nhiều cụm gen phân giải carbohydrate (đặc biệt là sự nhân đôi gen mã hóa α-amylase từ 1 đến 4 bản sao liên quan đến transposon Tc1/mariner). A. niger có cuống sinh bào tử dài 300-400 μm, bọng cầu bao phủ bởi thể bình sơ cấp và thứ cấp sinh bào tử đen có gai nhọn (đường kính 3,5-5 μm); hệ gen chủng CBS 513.88 đạt 33,9 Mb gồm 14.165 gen mã hóa protein, rất giàu gen tiết glucoamylase A và tổng hợp axit citric.
- So sánh các phương pháp chuyển gen: PMT là phương pháp phổ biến nhưng hiệu quả biến nạp thấp, cần enzyme ly giải vách tế bào đắt tiền, tế bào trần dễ vỡ do sốc thẩm thấu. Xung điện cần thiết bị đắt tiền và ít dùng cho nấm sợi. Sóng xung kích (shock wave) có thể tạo lỗ thủng màng nhờ hiện tượng tạo bọt khí vi mô ở áp suất 150 MPa nhưng gây tổn thương nhiều phân tử DNA và tạo tích hợp đa bản sao bất thường. Trong khi đó, ATMT cho phép sử dụng trực tiếp bào tử nguyên vẹn, hiệu suất chuyển gen cao (đạt tới 97% tại một số loài, vượt trội PMT 400-600 lần ở A. awamori), ưu tiên tích hợp bản sao đơn lẻ vào hệ gen.
- Đánh giá marker chọn lọc: Marker kháng kháng sinh (hph, nat) có hạn chế lớn do A. oryzae kháng tự nhiên nhiều loại kháng sinh, còn A. niger đòi hỏi nồng độ chất chọn lọc rất cao, chi phí lớn và tiềm ẩn nguy cơ phát tán gen kháng. Marker dinh dưỡng (pyrG, hisB, argB, niaD) khắc phục được các nhược điểm này. Trong đó, pyrG là marker có thể chọn lọc hai chiều (dương và âm qua 5-FOA), còn hisB (IGPD) là marker dinh dưỡng ổn định, không làm biến đổi hình thái sinh lý nấm ngoài tính khuyết dưỡng histidine.
- Phân tích các yếu tố điều hòa và chiến lược biểu hiện: Làm rõ chức năng của AmyR, LaeA, PrtR/PrtT, StuA và VeA. Tổng kết các giải pháp nâng cao biểu hiện enzyme ngoại bào ở A. niger: tối ưu promoter cơ định (gpdA, mbfA) hoặc cảm ứng; cải biến vùng 5'-UTR (ntp303, bổ sung trình tự poly(CAA)); dung hợp miền xúc tác GlaAG1 (giúp tăng sản lượng protein biểu hiện lên tới 1000 lần); tích hợp gen vào các locus biểu hiện cao (glaA, α-amylase); giảm hoạt tính protease qua xóa gen mã hóa (pepA, pepAa-d) hoặc xóa yếu tố phiên mã prtT (giảm biểu hiện 32 gen protease); và cải biến hình thái hệ sợi nấm qua điều biến các gen racA, aplD, arfA, chsC, flbA.
Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả hệ thống vật liệu, hóa chất, thiết bị và các quy trình kỹ thuật:
- Chuẩn bị hệ thống chủng vi sinh vật khởi động gồm 2 chủng vi khuẩn (E. coli DH5α, Ag. tumefaciens AGL1) và 14 chủng nấm sợi thuộc hai loài A. oryzae và A. niger (chi tiết tại Bảng 2.1).
- Khung vector nhị thể: pKG2 mang marker pyrG của A. niger; pKO2 mang gen nat dưới sự kiểm soát của promoter gpdA (A. nidulans); pEX1 và pEX2 mang cấu trúc biểu hiện GFP và DsRed với marker pyrG của A. oryzae.
- Quy trình nuôi cấy và thu nhận bào tử trên môi trường PDA và DPY; chuẩn bị dịch tế bào vi khuẩn Ag. tumefaciens trong môi trường cảm ứng IM lỏng có bổ sung 200 μM acetosyringone (AS) và đệm MES 1M (pH 5,3).
- Quy trình đồng nuôi cấy ATMT: Trộn huyền phù bào tử nấm với dịch vi khuẩn đã cảm ứng, trải lên màng đặt trên môi trường IM rắn (bổ sung glucose, glycerol, uracil, uridine). Nuôi cấy ở 22-25°C trong 48 giờ. Sau đó chuyển màng sang môi trường chọn lọc MM bổ sung kháng sinh diệt trừ vi khuẩn và chọn lọc thể chuyển gen dựa trên sự phục hồi nguyên dưỡng histidine hoặc uridine.
- Phương pháp tạo dòng vector xóa gen: Sử dụng kỹ thuật PCR nối đoạn để ghép các đoạn tương đồng upstream (5'-flank) và downstream (3'-flank) bao quanh marker chọn lọc (hisB hoặc pyrG), chèn vào vùng T-DNA của vector nhị thể pKH1.
- Kỹ thuật phân tích kiểu hình và sinh hóa: Sàng lọc hoạt tính phytase trên môi trường thạch PSM, đo đường kính vòng phân giải xung quanh khuẩn lạc; nuôi cấy lỏng định lượng hoạt tính enzyme; tách chiết RNA tổng số, tổng hợp cDNA và thực hiện Real-time PCR để xác định số bản sao gen phyA tích hợp và mức độ biểu hiện phiên mã.
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm tương ứng với 5 nội dung nghiên cứu:
1. Phát triển hệ thống chuyển gen mới với marker chọn lọc gen dinh dưỡng hisB
Tác giả xác định ortholog của gen HIS3 nấm men trong hệ gen A. niger là hisB (An15g00610). Bằng kỹ thuật trao đổi chéo tương đồng, tác giả đã tạo thành công chủng đột biến mất đoạn hisB ở cả hai loài: A. oryzae RIB40ΔhisB và A. niger N402ΔhisB, CBS 113.46ΔhisB. Các chủng đột biến này hoàn toàn không sinh trưởng trên môi trường tối thiểu MM trừ khi được bổ sung L-histidine ngoại sinh. Tiến hành tối ưu hóa quy trình ATMT sử dụng marker hisB: xác định nồng độ acetosyringone tối ưu là 200 μM, tỷ lệ bào tử nấm và tế bào vi khuẩn phù hợp, thời gian đồng nuôi cấy 48 giờ ở 22-25°C. Đưa vector mang gen chỉ thị huỳnh quang DsRed cùng marker hisB vào nấm qua ATMT chứng minh các thể chuyển gen nguyên dưỡng sinh trưởng bình thường trên MM và phát huỳnh quang đỏ đồng nhất dưới kính hiển vi huỳnh quang.
2. Xây dựng hệ thống chuyển gen trợ dưỡng kép và vector nhị thể pKH1
Từ các chủng đột biến khuyết dưỡng histidine (ΔhisB), tác giả tiếp tục loại bỏ gen pyrG để tạo ra các chủng nấm mang kiểu hình khuyết dưỡng kép ΔhisBΔpyrG trên cả A. oryzae (RIB40ΔhisBΔpyrG, AUT1ΔhisBΔpyrG) và A. niger (N402ΔhisBΔpyrG, CBS 113.46ΔhisBΔpyrG). Các chủng này đòi hỏi đồng thời cả histidine và uridine/uracil trong môi trường sinh trưởng. Tác giả thiết kế thành công vector nhị thể thế hệ mới pKH1 tích hợp các vị trí cắt giới hạn thuận lợi cho việc lắp ráp cassette xóa gen. Sử dụng hệ thống 2 marker độc lập (hisB và pyrG), tác giả chứng minh khả năng đưa đồng thời 2 gen biểu hiện độc lập vào cùng một tế bào nấm sợi thông qua hai vòng biến nạp ATMT liên tiếp mà không gây tương tác bất lợi.
3. Ứng dụng ATMT phân tích chức năng các gen điều hòa
Sử dụng hệ thống ATMT mới với marker hisB, tác giả thực hiện xóa gen điều hòa laeA ở A. oryzae và A. niger. Chủng đột biến ΔlaeA biểu hiện sự biến đổi rõ rệt về sắc tố khuẩn lạc, giảm khả năng axit hóa môi trường và suy giảm tổng hợp các chất chuyển hóa thứ cấp. Việc đưa gen laeA lành lặn trở lại qua vector bổ trợ đã phục hồi hoàn toàn kiểu hình kiểu dại, khẳng định vai trò của LaeA. Tiếp đó, tác giả tiến hành xóa gen stuA. Các chủng đột biến ΔstuA bị khiếm khuyết nghiêm trọng trong quá trình hình thành cuống sinh bào tử và chuỗi bào tử đính (conidiophore bị ngắn và tiêu giảm thể bình), tuy nhiên sự hình thành bào tử có thể được cải thiện một phần khi nuôi cấy ở nhiệt độ thích hợp.
Luận án tiến hành so sánh đối chứng hiệu quả xóa 5 gen điều hòa (amyR, laeA, prtT, stuA, veA) ở hai loài nấm sợi sử dụng marker hisB:
| Loài nấm sợi |
Gen điều hòa mục tiêu |
Số thể chuyển gen phân tích |
Tỷ lệ thể đột biến xóa gen chính xác (%) |
| Aspergillus oryzae |
amyR |
20 |
25,0% |
|
laeA |
24 |
29,2% |
|
prtT |
20 |
20,0% |
|
stuA |
22 |
27,3% |
|
veA |
18 |
22,2% |
| Aspergillus niger |
amyR |
25 |
8,0% |
|
laeA |
30 |
10,0% |
|
prtT |
24 |
8,3% |
|
stuA |
28 |
10,7% |
|
veA |
22 |
9,1% |
Số liệu cho thấy tỷ lệ tái tổ hợp tương đồng để xóa gen ở A. oryzae dao động từ 20,0% đến 29,2%, trong khi ở A. niger đạt tỷ lệ thấp hơn nhiều (8,0% đến 10,7%), phản ánh tính ưu thế của con đường nối đầu tận không tương đồng (NHEJ) ở A. niger.
4. Chiến lược nâng cao hiệu quả xóa gen ở A. niger và tái sử dụng marker pyrG
Để giải quyết hiệu quả xóa gen thấp ở A. niger, tác giả thiết lập hai chiến lược:
- Chiến lược tái sử dụng marker pyrG: Tạo cassette xóa gen mang marker pyrG được bao bọc bởi hai trình tự lặp lại trực tiếp (direct repeats). Sau khi xóa gen đích thành công nhờ chọn lọc nguyên dưỡng uridine, thể đột biến được nuôi cấy trên môi trường chứa 5-FOA để chọn lọc sự kiện tái tổ hợp nội phân tử giữa hai đoạn lặp, loại bỏ hoàn toàn khung đọc mã của pyrG. Chủng thu được trở lại trạng thái khuyết dưỡng uridine (ΔpyrG), cho phép sử dụng lại chính marker này để xóa gen kế tiếp. Tác giả đã ứng dụng thành công chiến lược này để tạo chủng đột biến xóa kép ΔlaeAΔstuA trên A. niger.
- Chiến lược tăng tỷ lệ xóa gen đích bằng chọn lọc âm: Thiết kế cấu trúc chuyển gen mang marker dương hisB tại vị trí thay thế gen đích và marker pyrG nằm ngoài hai nhánh tương đồng (ở vùng biên T-DNA). Ở các thể tích hợp ngẫu nhiên qua cơ chế NHEJ, toàn bộ đoạn T-DNA bao gồm cả pyrG được tích hợp, khiến tế bào biểu hiện pyrG và bị tiêu diệt trên môi trường chọn lọc chứa 5-FOA. Ngược lại, sự kiện tái tổ hợp tương đồng (HR) chỉ tích hợp marker hisB và loại bỏ pyrG, giúp tế bào sống sót trên môi trường MM + histidine-free + 5-FOA. Chiến lược này giúp loại bỏ hầu hết các dòng chèn ngẫu nhiên, nâng cao tỷ lệ thu nhận thể đột biến xóa gen đích thực sự ở A. niger.
5. Khai thác hệ thống chuyển gen mới để biểu hiện enzyme phytase tái tổ hợp
Tác giả thiết kế cấu trúc biểu hiện mang gen phyA (mã hóa phytase) dưới sự điều hòa của promoter mạnh và đưa vào các chủng nấm sợi đột biến. Kiểm tra Real-time PCR trên các thể chuyển gen ở A. oryzae và A. niger cho thấy số bản sao phyA tích hợp dao động từ 1 đến 4 bản sao quy đổi. Mức độ biểu hiện phiên mã của phyA tỷ lệ thuận với số bản sao tích hợp ở mức tải hợp lý. Đánh giá hoạt tính phytase trên môi trường thạch PSM và dịch lên men lỏng cho thấy các chủng chuyển gen có hoạt tính phân giải phytate vượt trội so với chủng kiểu dại. Đặc biệt, khi biểu hiện gen phyA trên nền chủng đột biến xóa kép A. niger N402ΔlaeAΔstuA, hoạt tính phytase tiết ra môi trường đạt mức cao nhất, chứng minh hiệu quả của việc kết hợp cải biến hình thái/điều hòa sinh lý với biểu hiện enzyme tái tổ hợp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, được tác giả đúc kết cụ thể:
- Đã xây dựng được phương pháp tối ưu cho chuyển gen thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens ở nấm sợi A. oryzae và A. niger dựa trên cơ chế trợ dưỡng đơn (trợ dưỡng histidine với marker hisB) và trợ dưỡng kép (trợ dưỡng histidine và uridine/uracil với hai marker hisB và pyrG), loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng gen kháng kháng sinh.
- Đã phát triển giải pháp tối ưu để xóa nhiều gen ở cùng một chủng nấm A. niger với việc chỉ sử dụng một marker chọn lọc duy nhất là pyrG thông qua cơ chế tái sử dụng marker dựa trên chọn lọc 5-FOA.
- Đã tìm ra giải pháp mới để tăng cường hiệu quả xóa gen ở A. niger bằng cách kết hợp marker hisB để xóa gen mục tiêu và marker pyrG làm công cụ chọn lọc âm nhằm ức chế sinh trưởng của các thể tích hợp ngẫu nhiên (NHEJ).
- Đã xây dựng bộ dữ liệu toàn diện về kiểu hình và đặc tính sinh học của các chủng đột biến xóa gen mã hóa protein điều hòa (amyR, laeA, prtT, stuA, veA) và các chủng tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme phytase (phyA) ở A. oryzae và A. niger.
Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất tiếp tục khai thác hệ thống vector nhị thể pKH1 và các chủng nền khuyết dưỡng kép đã tạo ra để biểu hiện các enzyme công nghiệp có giá trị khác như laccase, xylanase, cellulase; đồng thời nghiên cứu ứng dụng hệ thống này trên các chủng nấm sợi công nghiệp phân lập từ tự nhiên tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, các kết quả của luận án chủ yếu được xác lập trên các chủng phòng thí nghiệm chuẩn (A. oryzae RIB40, AUT1-PlD; A. niger N402, CBS 113.46), chưa tiến hành thử nghiệm biến nạp trên diện rộng các chủng hoang dại phân lập trực tiếp từ các nhà máy sản xuất lên men công nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, hiệu suất tái tổ hợp tương đồng tự nhiên ở A. niger vẫn còn thấp do hệ thống sửa chữa DNA theo con đường nối đầu tận không tương đồng (NHEJ) hoạt động mạnh; luận án sử dụng giải pháp chọn lọc âm để loại bỏ thể chèn ngẫu nhiên nhưng chưa trực tiếp làm bất hoạt các gen thuộc phức hệ NHEJ (như ku70, ku80 hoặc ligD ở A. niger). Số lượng gen điều hòa khảo sát dừng lại ở 5 yếu tố phiên mã và enzyme mô hình là phytase.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:
- Hoàn thiện chủng nền A. niger thiếu hụt hệ thống NHEJ (đột biến Δku70 hoặc ΔligD) kết hợp với các marker dinh dưỡng hisB/pyrG nhằm nâng tỷ lệ tái tổ hợp tương đồng lên mức tối đa.
- Tích hợp hệ thống chỉnh sửa gen CRISPR-Cas với phương thức chuyển gen ATMT để thực hiện can thiệp đa gen chính xác mà không cần để lại marker chọn lọc.
- Mở rộng ứng dụng biểu hiện các enzyme xử lý môi trường (laccase xử lý nước thải dệt nhuộm) và các protein dược liệu trên chủng nền đột biến xóa protease.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực công nghệ sinh học vi sinh vật và kỹ thuật di truyền nấm sợi:
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận án cung cấp cẩm nang chi tiết về kỹ thuật chuyển gen ATMT trên nấm sợi chi Aspergillus, quy trình thiết kế vector nhị thể, các công thức môi trường chuyên biệt (IM lỏng, IM rắn, MM, CDA, PSM) và phương pháp đánh giá chức năng gen thông qua phân tích kiểu hình và biểu hiện phiên mã.
- Đối với giảng viên và các nhà nghiên cứu di truyền vi sinh vật: Tài liệu cung cấp dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hiệu quả xóa gen tương đối giữa các locus điều hòa (amyR, laeA, prtT, stuA, veA), cơ chế tái sử dụng marker dinh dưỡng pyrG, và giải pháp chọn lọc âm chống tích hợp ngẫu nhiên.
- Đối với các đơn vị sản xuất và cơ quan quản lý: Nghiên cứu đưa ra định hướng công nghệ sạch cho sản xuất chế phẩm sinh học: việc loại bỏ gen kháng kháng sinh trong các chủng nấm tái tổ hợp đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn sinh học GRAS của FDA, tạo thuận lợi cho quy trình đăng ký cấp phép lưu hành sản phẩm enzyme trong công nghiệp thực phẩm và thức ăn chăn nuôi.
Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 (chi tiết thành phần môi trường và quy trình biến nạp ATMT) và Chương 3 (sơ đồ nguyên lý vector pKH1, quy trình tái sử dụng marker pyrG, và chiến lược chọn lọc âm bằng marker kép).
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lựa chọn phát triển phương pháp chuyển gen ATMT thay vì tiếp tục sử dụng phương pháp tế bào trần (PMT)?
Phương pháp chuyển gen thông qua tế bào trần (PMT) đòi hỏi phải sử dụng enzyme đắt tiền để ly giải vách tế bào nấm, quá trình xử lý làm tế bào trần suy giảm sức sống và kết quả thí nghiệm thiếu ổn định giữa các lần lặp lại. Ngược lại, phương pháp ATMT sử dụng trực tiếp bào tử nấm nguyên vẹn, quy trình đơn giản hơn, cho hiệu suất chuyển gen cao hơn (ở A. awamori cao hơn tới 400-600 lần so với PMT) và có đặc tính ưu việt là ưu tiên tích hợp đơn bản sao vào hệ gen vật chủ.
2. Marker dinh dưỡng hisB có nguồn gốc và chức năng sinh hóa như thế nào trong hệ thống chuyển gen của luận án?
Marker hisB là một ortholog duy nhất (mã số locus An15g00610) trong hệ gen của A. niger, có độ tương đồng 57,6% về trình tự protein với gen HIS3 của nấm men Saccharomyces cerevisiae. Gen này mã hóa enzyme imidazoleglycerol-phosphate dehydratase (IGPD), tham gia vào con đường sinh tổng hợp L-histidine. Đột biến xóa đoạn gen này tạo ra các chủng khuyết dưỡng histidine chỉ sống được khi bổ sung histidine ngoại sinh. Khi đưa gen hisB chức năng vào vector chuyển gen, thể chuyển gen phục hồi kiểu hình nguyên dưỡng và sinh trưởng bình thường trên môi trường tối thiểu MM mà không gây ra bất kỳ biến đổi hình thái hay trao đổi chất bất lợi nào khác.
3. Luận án giải quyết hạn chế về số lượng marker chọn lọc khi muốn xóa nhiều gen liên tiếp trên cùng một chủng nấm như thế nào?
Tác giả đã phát triển giải pháp tái sử dụng marker chọn lọc duy nhất là pyrG. Cấu trúc xóa gen được thiết kế sao cho marker pyrG được kẹp giữa hai trình tự lặp lại trực tiếp. Sau khi chuyển gen và chọn lọc thành công thể đột biến nguyên dưỡng uridine, chủng nấm được nuôi cấy trên môi trường thạch chứa axit 5-fluoroorotic (5-FOA). Sự kiện tái tổ hợp tương đồng nội phân tử giữa hai đoạn lặp sẽ loại bỏ hoàn toàn gen pyrG, giúp tế bào sống sót trên môi trường 5-FOA và quay trở lại trạng thái khuyết dưỡng uridine (ΔpyrG). Nhờ đó, marker pyrG có thể được tiếp tục sử dụng cho các vòng xóa gen tiếp theo trên cùng một chủng nấm.
4. Sự khác biệt về hiệu quả xóa gen định hướng giữa A. oryzae và A. niger trong các thí nghiệm của luận án là gì?
Khi khảo sát trên 5 gen điều hòa (amyR, laeA, prtT, stuA, veA) sử dụng marker hisB, tỷ lệ xóa gen chính xác qua cơ chế trao đổi chéo tương đồng ở A. oryzae đạt từ 20,0% đến 29,2%. Trong khi đó, ở A. niger, tỷ lệ này thấp hơn rõ rệt, chỉ dao động từ 8,0% đến 10,7%. Nguyên nhân do ở A. niger, con đường sửa chữa đứt gãy sợi kép DNA bằng cơ chế nối đầu tận không tương đồng (NHEJ) chiếm ưu thế áp đảo so với cơ chế tái tổ hợp tương đồng (HR), dẫn đến phần lớn các thể chuyển gen bị tích hợp ngẫu nhiên.
5. Cơ chế chọn lọc âm nhằm loại bỏ các thể tích hợp ngẫu nhiên ở A. niger được thiết lập ra sao?
Tác giả thiết kế vector mang marker hisB nằm giữa hai nhánh tương đồng của gen đích, đồng thời gắn thêm marker pyrG ở vị trí ngoài vùng trao đổi chéo (nằm sát biên T-DNA). Trong sự kiện tái tổ hợp tương đồng (HR), chỉ đoạn DNA giữa hai nhánh tương đồng mang marker hisB được tích hợp vào hệ gen, còn đoạn pyrG bị loại bỏ, giúp tế bào sinh trưởng được trên môi trường thiếu histidine có bổ sung 5-FOA. Ngược lại, trong sự kiện tích hợp ngẫu nhiên qua NHEJ, toàn bộ đoạn T-DNA mang cả hisB và pyrG đều bị gắn vào hệ gen; sự có mặt của enzyme do pyrG mã hóa sẽ biến đổi 5-FOA thành chất độc ức chế sinh trưởng, tiêu diệt các thể chèn ngẫu nhiên và chỉ giữ lại các thể xóa gen chính xác.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Thái Hạnh Dung đã hoàn thành việc nghiên cứu, thiết kế và tối ưu hóa hệ thống chuyển gen mới trên hai loài nấm sợi công nghiệp Aspergillus oryzae và Aspergillus niger thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Công trình đã giải quyết triệt để vấn đề phụ thuộc vào gen kháng kháng sinh bằng việc ứng dụng các marker trợ dưỡng tự thân hisB và pyrG, đồng thời phát triển thành công giải pháp tái sử dụng marker và chiến lược chọn lọc âm giúp nâng cao hiệu suất xóa gen đích ở A. niger. Các chủng đột biến xóa gen điều hòa sinh lý, biệt hóa hình thái và chủng biểu hiện enzyme phytase tái tổ hợp thu được trong luận án là nguồn vật liệu sinh học giá trị, cung cấp cơ sở khoa học và công nghệ vững chắc cho việc phát triển các chủng nấm sợi sản xuất enzyme quy mô công nghiệp an toàn và hiệu quả.