MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhƣ chúng ta đã thấy, mỗi một đất nƣớc, quốc gia trên thế giới đều đặt mục tiêu tăng trƣởng kinh tế lên hàng đầu. Do đó, việc khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức và phát triển các ngành công nghiệp nặng là điều tất yếu [26].Vì vậy, hiện nay hầu hết tất cả các nƣớc phát triển và đang phát triển đều đang đứng trƣớc một thực trạng chung là khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, môi trƣờng sinh thái bị suy thoái nghiêm trọng. Hậu quả là thiên tai nhƣ động đất, sóng thần, bão, lụt, hạn hán diễn ra ngày càng phức tạp và dữ dội.
Đứng trƣớc thực trạng đó, các nhà khoa học trên thế giới và các tổ chức môi trƣờng thế giới nhƣ UNCEP, IUCN, WWF,UNEP… đã vào cuộc để nghiên cứu làm giảm thiểu sự suy thoái môi trƣờng, phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái. Đồng thời tổ chức các cuộc hội nghị lớn trên thế giới về vấn đề môi trƣờng toàn cầu và phát triển bền vững nhằm kêu gọi các nƣớc cùng cam kết thực hiện quy ƣớc chung về sự phát triển bền vững [14]. Để đánh giá sự phát triển bền vững của một vùng hay một quốc gia, các nhà khoa học trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu và xây dựng các hệ thống chỉ tiêu bao gồm cả về lĩnh vực môi trƣờng, kinh tế - xã hội, tài nguyên sinh vật. Tuy nhiên, ở mỗi vùng khác nhau thì hệ thống chỉ tiêu này cũng khác nhau và mức độ quan trọng cũng khác nhau [20].
Việt Nam là một nƣớc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, với sự thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấp phía Nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía Bắc. Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều dạng địa hình khác nhau tạo điều kiện cho sự đa dạng sinh vật và phong phú tài nguyên [45]. Vì vậy, để đánh giá một vùng, một khu vực hay toàn bộ lãnh thổ Việt Nam có phát triển bền vững hay không là rất khó khăn và phức tạp. Mặt khác, việc đánh giá sự phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đang là vấn đề rất mới.
Có thể khẳng định rằng, hiện nay ở Việt Nam, trong khu vực và thế giới chƣa có 11 công trình nào đi sâu nghiên cứu, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật [9,10,12,13,23,24,30,32,33,34,42,45, 46,50]. Xuất phát từ yêu cầu thực tế hiện nay trong công tác quản lý nhà nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng hiện nay, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam”. Mục tiêu của đề tài - Xây dựng mới hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam. - Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện phát triển bền vững về sinh thái và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đây là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững về lĩnh vực sinh thái và tài nguyên sinh vật. Kết quả của công trình là cơ sở khoa học, có tính thực tiễn cho việc đánh giá mức độ phát triển bền vững của các vùng, các tỉnh và toàn lãnh thổ Việt Nam phục vụ công tác quản lý nhà nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng. 12 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm, quan điểm liên quan đến phát triển bền vững và hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững 1.
Khái niệm phát triển bền vững Tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) đã đƣa ra một định nghĩa chính thức về khái niệm phát triển bền vững nhân loại trong Thiên niên kỷ thứ ba nhƣ sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại, mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” [20]. Xét theo phạm trù triết học, thì khái niệm phát triển bền vững là tƣ tƣởng nhận thức con ngƣời tự sinh (the human freely autogenous ideas), có nội dung tƣ tƣởng và triển khai thực hiện thực tiễn có thể biến đổi rất sâu sắc theo các quy mô phạm trù, phạm vi tác động trực tiếp, gián tiếp và liên đới, phụ thuộc vào các điều kiện phát triển thực tiễn cụ thể hoá xem xét, đồng thời; có các tiêu chí định tính và định hƣợng hoá một cách rất cụ thể cho sự thành đạt các mục tiêu phát triển bền vững tự định đã đặt ra. Tuy nhiên, trên thực tế đây là loại tƣ tƣởng khó hấp thụ và khó triển khai thực tiễn một cách hiệu quả do nó tự nhiên có những cản trở nội tại và khách quan, cũng nhƣ do các mẫu thuẫn cơ bản phát sinh tất yếu trong lịch sử phát triển nhân loại, mà trƣớc hết là mâu thuẫn cơ bản phát sinh giữa nhu cầu phát triển xã hội và khả năng đáp ứng, rồi đến các mâu thuẫn cơ bản giữa các lợi ích về thể chế - kinh tế - xã hội và môi trƣờng theo cơ chế thị trƣờng. Một số nội dung phân tích cụ thể về vấn đề lý luận PTBV nhƣ đƣợc trình bày sau đây.
Quan điểm về con đường phát triển bền vững hiện thực Tinh thần cốt lõi của Bản Tuyên ngôn Rio De Janeiro năm 1992 và Chƣơng trình Nghị sự 21 là sự chung sức và đồng lòng ở quy mô toàn cầu để thực hiện một sự phát triển lâu bền, khi nhân loại phải đƣơng đầu với tình trạng ngày càng xấu đi của sự nghèo khó, đói kém, bệnh tật, thất học và sự suy thoái của các hệ sinh thái, vốn là cái nôi sản sinh và nuôi dƣỡng của sự sống trên hành tinh chúng ta [19]. Trong đó, một thách thức to lớn cho tất cả các quốc gia là làm sao giải quyết một 13 cách cân đối hài hoà giữa phát triển và môi trƣờng, tức là vừa phải khai thác tài nguyên, thải ra chất thải, vừa phải bảo vệ và quản lý tốt các hệ sinh thái, cải thiện chất lƣợng môi trƣờng. Trong khi đã nhận đƣợc sự đồng thuận và nhất trí cao tại Hội nghị LHQ Rio De Janeiro năm 1992 về Môi trƣờng và Phát triển, thì triết lý tƣ tƣởng “Phát triển bền vững” vẫn còn đang gây tranh cãi, vì còn có những nhận định cho rằng tƣ tƣởng ấy rất hay nhƣng trong thực tế khó thực hiện, thậm chí chỉ là một ảo tƣởng. Cách nhìn bi quan về ngƣỡng phát triển và PTBV này phần nào đƣợc củng cố thêm, bởi những kết quả không mấy khả quan trong việc thực hiện Chƣơng trình Nghị sự 21 tính cho đến thời điểm hiện nay [46].
Trong thực tế của nhiều quốc gia cái vòng luẩn quẩn “nghèo khó - suy thoái môi trƣờng” vẫn còn là một hạn chế rất lớn trên con đƣờng phát triển. Năm 1992, Hội nghị thƣợng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio - 92 tại Rio de Janeiro đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trƣờng và phát triển và Chƣơng trình nghị sự 21, đây là một kế hoạch chi tiết về tăng trƣởng kinh tế, thúc đẩy công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng [45]. Năm 2012, Hội nghị thƣợng đỉnh Trái đất, gọi tắt là Rio + 20 cũng tổ chức tại Rio de Janeiro, Tổng thƣ lý LHQ Ban ki - moon đã tuyên bố “đặt thế giới vào con đƣờng phát triển bền vững và phổ quát, trong đó các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trƣờng và phúc lợi đƣợc cân bằng” [46]. Nhìn chung, quan điểm chủ đạo của các quốc gia thành viên LHQ là bất chấp những hạn chế, cản trở và trở ngại còn tồn tại hoặc mức độ thành công còn khá khiêm tốn trong việc triển khai thực hiện Chƣơng trình Nghị sự 21, thì các quốc gia vẫn lựa chọn con đƣờng phát triển bền vững, bởi đó là con đƣờng có tính nguyên tắc duy nhất nếu các quốc gia thực sự muốn phát triển lâu bền để đạt tới các ngƣỡng phát triển tiến bộ và văn minh nhân loại mới.
Vấn đề còn lại là tìm kiếm đƣợc các phƣơng tiện và công cụ thật hiệu quả cho việc tổ chức thực hiện nó. Bối cảnh thực tiễn phát triển bền vững trên thế giới Bối cảnh PTBV đặc thù trên thế giới là sự phát triển không đồng đều giữa các nƣớc, khu vực và đó là một nguyên nhân chính đang cản trở việc thực hiện 14 thành công các mục tiêu PTBV và Chƣơng trình Nghị sự 21 của Thế giới một cách hiệu quả cao, cho nên vấn đề PTBV cần đƣợc xem xét trên góc độ các nƣớc phát triển và các nƣớc đang phát triển nhƣ dƣới đây [45,46]. Sự phát triển không đồng đều trên thế giới Từ nhiều thế kỷ trƣớc đây, nhất là trong các thế kỷ CNH ở thời kỳ Cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, trƣớc hết là tại Châu Âu, các nƣớc công nghiệp đã có những bƣớc phát triển mạnh mẽ, rồi dùng vũ lực xâm chiếm và vơ vét tài nguyên thiên nhiên của các nƣớc khác để làm giàu cho mình. Rốt cục, sau hơn 300 năm phát triển bành trƣớng tự phát và cục bộ, trên thế giới đã hình thành một cục diện phát triển rất không đồng đều, bao gồm chủ yếu hai nhóm nƣớc là: những nƣớc công nghiệp phát triển (hay nƣớc giàu) và những nƣớc đang phát triển (hay nƣớc nghèo).
Những NPT có tiềm lực mạnh về kinh tế, khoa học và công nghệ, cho nên khai thác đƣợc nhiều tài nguyên, sản xuất ra nhiều hàng hoá chiếm lĩnh thị trƣờng thế giới, tiêu thụ nhiều năng lƣợng, nguyên vật liệu và lƣơng thực - thực phẩm, đồng thời trong quá trình sản xuất và tiêu dùng chính họ cũng làm phát sinh ra một khối lƣợng khổng lồ các loại chất thải. Ngƣợc lại, các NĐPT mà đa số trong vài thập kỷ cuối của Thế kỷ 20 mới vừa thoát khỏi ách nô lệ - thống trị thực dân, nói chung còn nghèo và rất nghèo, mặc dù đã có những mức tăng trƣởng nhất định về kinh tế - xã hội trong thời gian qua. Những nƣớc này tuy chiếm đa số trong nhân khẩu thế giới, nhƣng về các mặt sản xuất, tiêu thụ và sản sinh các loại chất thải đều nằm ở mức thấp hơn gấp nhiều lần so với các NPT trên thế giới.