Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tính chất hấp phụ asen trên quặng pyrolusit biến tính

Nghiên cứu tính chất hấp phụ asen trên quặng pyrolusit biến tính, cung cấp thông tin hữu ích cho lĩnh vực môi trường và công nghệ xử lý nước.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ASEN

1.1.1. Sự tồn tại của asen trong tự nhiên

1.1.2. Độc tính của asen

1.1.3. Tình trạng ô nhiễm asen

1.1.4. Một số công nghệ xử lý asen

1.2. SỬ DỤNG QUẶNG PYROLUSIT VÀ ZIRCONI TRONG HẤP PHỤ XỬ LÝ ASEN

1.2.1. Ứng dụng quặng pyrolusit trong xử lý nước

1.2.2. Ứng dụng của Zirconi trong xử lý asen

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.2. Nội dung nghiên cứu

2.2. HÓA CHẤT VÀ DỤNG CỤ

2.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH ÁP DỤNG TRONG THỰC NGHIỆM

2.3.1. Xác định asen bằng phương pháp thủy ngân bromua

2.3.2. Xác định mangan và sắt bằng phương pháp trắc quang

2.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐẶC TÍNH CỦA VẬT LIỆU HẤP PHỤ

2.4.1. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)

2.4.2. Nhiễu xạ Rơnghen X (X-ray diffraction XRD)

2.4.3. Phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng (TGA)

2.5. CHẾ TẠO VẬT LIỆU HẤP PHỤ ASEN TỪ QUẶNG PYROLUSIT

2.5.1. Quặng pyrolusit tự nhiên

2.5.2. Quặng pyrolusit tự nhiên biến tính bằng nhiệt

2.5.3. Quặng pyrolusit biến tính bằng phương pháp hóa học

2.5.4. Phương pháp đánh giá khả năng hấp phụ As của vật liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO VẬT LIỆU HẤP PHỤ ASEN TỪ QUẶNG PYROLUSIT

3.1.1. Quặng pyrolusit tự nhiên

3.1.2. Quặng pyrolusit được biến tính bằng nhiệt

3.1.3. Quặng pyrolusit được biến tính bằng phương pháp hóa học

3.2. KHẢO SÁT KHẢ NĂNG HẤP PHỤ ASEN CỦA CÁC VẬT LIỆU

3.2.1. Khảo sát khả năng hấp phụ As của quặng pyrolusit tự nhiên

3.2.2. Khảo sát khả năng hấp phụ asen của quặng pyrolusit biến tính bằng phương pháp nhiệt

3.2.3. Khảo sát khả năng hấp phụ As của quặng pyrolusit khi biến tính bằng phương pháp hóa học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu hấp phụ asen trên quặng pyrolusit

Nghiên cứu hấp phụ asen trên quặng pyrolusit là một lĩnh vực quan trọng trong việc xử lý ô nhiễm asen trong nước. Quặng pyrolusit, với thành phần chính là mangan dioxide, đã được chứng minh là có khả năng hấp phụ asen hiệu quả. Việc tìm hiểu về tính chất hấp phụ của quặng pyrolusit không chỉ giúp cải thiện chất lượng nước mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tính chất quặng pyrolusit và khả năng hấp phụ asen

Quặng pyrolusit có cấu trúc tinh thể đặc biệt, giúp tăng cường khả năng hấp phụ asen. Nghiên cứu cho thấy rằng khả năng hấp phụ của quặng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như pH, nhiệt độ và thời gian tiếp xúc.

1.2. Tình trạng ô nhiễm asen trong nước

Ô nhiễm asen trong nước là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đang phải đối mặt với tình trạng này, đặc biệt là ở các vùng đồng bằng nơi có nguồn nước ngầm.

II. Vấn đề ô nhiễm asen và thách thức trong xử lý

Ô nhiễm asen trong nước ngầm đang trở thành một thách thức lớn. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và tự nhiên. Việc xử lý asen trong nước đòi hỏi các phương pháp hiệu quả và kinh tế.

2.1. Nguyên nhân gây ô nhiễm asen trong nước

Asen có thể xâm nhập vào nguồn nước từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm sự hòa tan của các khoáng chất trong đất và nước thải từ các hoạt động công nghiệp. Điều này dẫn đến nồng độ asen cao trong nước ngầm.

2.2. Tác động của ô nhiễm asen đến sức khỏe

Ô nhiễm asen có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm ung thư da, rụng móng và các bệnh về hô hấp. Việc phát hiện và xử lý kịp thời là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu hấp phụ asen trên quặng pyrolusit

Nghiên cứu này áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá khả năng hấp phụ asen của quặng pyrolusit. Các phương pháp này bao gồm phân tích hóa học, khảo sát nhiệt độ và pH, cũng như thời gian tiếp xúc.

3.1. Phương pháp phân tích hóa học

Phân tích hóa học được thực hiện để xác định nồng độ asen trong mẫu nước và khả năng hấp phụ của quặng pyrolusit. Các phương pháp như quang phổ hấp thụ và sắc ký được sử dụng để đảm bảo độ chính xác.

3.2. Khảo sát ảnh hưởng của pH và nhiệt độ

Nghiên cứu cho thấy rằng pH và nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến khả năng hấp phụ asen. Việc tối ưu hóa các điều kiện này có thể giúp tăng cường hiệu quả xử lý.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy quặng pyrolusit có khả năng hấp phụ asen cao, đặc biệt là khi được biến tính. Các ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu này có thể giúp cải thiện chất lượng nước tại nhiều khu vực bị ô nhiễm.

4.1. Khả năng hấp phụ asen của quặng pyrolusit

Kết quả cho thấy quặng pyrolusit có khả năng hấp phụ asen lên đến 90% trong điều kiện tối ưu. Điều này mở ra cơ hội sử dụng quặng này trong các hệ thống xử lý nước.

4.2. Ứng dụng trong xử lý nước ô nhiễm

Quặng pyrolusit có thể được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước để loại bỏ asen, giúp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt cho cộng đồng. Việc áp dụng công nghệ này có thể giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ sức khỏe người dân.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về hấp phụ asen trên quặng pyrolusit đã chỉ ra tiềm năng lớn trong việc xử lý ô nhiễm asen. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình và mở rộng ứng dụng thực tiễn.

5.1. Tương lai của nghiên cứu hấp phụ asen

Nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phát triển các vật liệu hấp phụ mới và cải tiến quy trình xử lý, nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí.

5.2. Đề xuất các nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên xem xét các yếu tố môi trường khác ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ, cũng như đánh giá hiệu quả lâu dài của quặng pyrolusit trong xử lý nước.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ASEN 1.1 Sự tồn tại của asen trong tự nhiên Asen có số hiệu nguyên tử 33, là một nguyên tố rất phổ biến và xếp thứ 20 trong tự nhiên, chiếm khoảng 0,00005% trong vỏ trái đất, xếp thứ 14 trong nước biển và thứ 12 trong cơ thể người [22]. Asen lần đầu tiên được Albertus Magnus (Đức) viết vào năm 1250, khối lượng nguyên tử của nó bằng 74,92, asen là một á kim gây ngộ độc khét tiếng và có nhiều dạng thù hình: màu vàng (phân tử phi kim) và một vài dạng màu đen và xám (á kim) chỉ là số ít mà người ta có thể nhìn thấy. Ba dạng có tính kim loại của asen với cấu trúc tinh thể khác nhau cũng được tìm thấy trong tự nhiên (các khoáng vật asen sensu stricto và hiếm hơn là asenolamprit cùng parasenolamprit), nhưng nói chung nó hay tồn tại dưới dạng các hợp chất asenua và asenat.

Asen và các hợp chất của nó được sử dụng như là thuốc trừ dịch hại, thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu và trong một loạt các hợp kim. Mẫu chứa asen trong tự nhiên Asen có thể tồn tại ở các trạng thái oxi hóa là -3, +3, +5, asen cũng dễ tự liên kết với chính nó, chẳng hạn tạo thành các cặp As-As trong sulfua đỏ hùng hoàng (α-As4S4) và các ion As43- vuông trong khoáng coban asenua có tên skutterudit. Ở trạng thái ôxi 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa +3, tính chất hóa học lập thể của asen chịu ảnh hưởng bởi sự có mặt của cặp electron không liên kết [7,9]. Tính chất hóa học của asen rất giống với nguyên tố đứng trên nó là phốtpho.

Tương tự như phốtpho, nó tạo thành các ôxít kết tinh, không màu, không mùi như As2O3 và As2O5 là những chất hút ẩm và dễ dàng hòa tan trong nước để tạo thành các dung dịch có tính axít. Axít asenic (V), tương tự như axít phốtphoric, là một axít yếu. Tương tự như phốt pho, asen tạo thành hiđrua dạng khí và không ổn định, đó là arsin (AsH3). Sự tương tự lớn đến mức asen sẽ thay thế phần nào cho phốtpho trong các phản ứng hóa sinh học và vì thế nó gây ra ngộ độc.

Tuy nhiên, ở các liều thấp hơn mức gây ngộ độc thì các hợp chất asen hòa tan lại đóng vai trò của các chất kích thích và đã từng phổ biến với các liều nhỏ như là các loại thuốc chữa bệnh cho con người vào giữa thế kỷ 18. Nguyên tố asen được tìm thấy ở nhiều dạng thù hình rắn: dạng màu vàng thì mềm, dẻo như sáp và không ổn định, và nó làm cho các phân tử dạng tứ diện As4 tương tự như các phân tử của phốtpho trắng. Các dạng màu đen, xám hay 'kim loại' hơi có cấu trúc kết tinh thành lớp với các liên kết trải rộng khắp tinh thể. Chúng là các chất bán dẫn cứng với ánh kim.

Tỷ trọng riêng của dạng màu vàng là 1,97 g/cm³, dạng asen xám hình hộp mặt thoi nặng hơn nhiều với tỷ trọng riêng 5,73 g/cm³, các dạng á kim khác có tỷ trọng tương tự. Asen hiếm khi được tìm thấy ở trạng thái tự do trong tự nhiên mà phần lớn nó ở trạng thái kết hợp với lưu huỳnh, oxi và sắt. Trong nước ngầm nó tồn tại trong trạng thái kết hợp với oxy chủ yếu ở hóa trị III và hóa trị V. Không giống như các ion kim loại nặng và các anion có chứa oxy khác, asen có thể di động trong một khoảng rộng trong các điều kiện oxy hóa khử ở các giá trị pH phổ biến trong nước ngầm (pH=6.

Vì thế mà trong khi các cation và anion có chứa oxy khác chỉ có hàm lượng cỡ ppb thì hàm lượng của asen có thể lên tới cỡ ppm. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hai yếu tố quan trọng cơ bản ảnh hưởng đến các dạng tồn tại của asen và cả tính tan trong dung dịch nước là pH và thế oxy hóa khử. Trong điều kiện oxy hóa và ở pH nhỏ hơn 6.9, dạng H2AsO4- chiếm ưu thế hơn cả còn HAsO42- chủ yếu tồn tại ở pH cao hơn. Trong điều kiện khử và ở giá trị pH thấp hơn 9.2 dạng H3AsO3 chiếm ưu thế.

Ở pH ngược lại sự phụ thuộc của As(III) và As(V) được phát hiện là gần như vào pH và sự có mặt của các anion hấp phụ đặc biệt khác. Thông thường As(III) thường được tìm thấy nhiều hơn trong nước ngầm ở điều kiện khử so với As(V) còn trong điều kiện oxy hóa thì ngược lại. Các trạng thái bền của As trong dung dịch nước ở các điều kiện khác nhau Điều kiện khử Điều kiện oxy hóa pH As(III) pH As(V) 0-9 H3AsO3 0-2 H3AsO4 10-12 H2AsO3- 3-6 H2AsO4- 13 HAsO32- 7-11 AsO42- 14 AsO33- 12-14 AsO43- 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giản đồ pH của As Trong khi hầu hết các kim loại có xu hướng không tan trong khoảng pH trung tính thì asen có thể tan ở vùng pH gần trung tính với nồng độ tương đối cao.

Điều này giải thích tại sao nước ngầm dễ bị nhiễm asen và các anion chứa oxy khác [13,14]. Độc tính của asen Mức độ gây độc của asen tùy thuộc vào dạng asen hữu cơ hay asen vô cơ và trạng thái oxi hóa của chúng. Nhìn chung asen vô cơ độc hơn asen hữu cơ và As(III) độc hơn so với As(V). Một số cơ quan trong cơ thể động vật bị ảnh hưởng bởi asen như: da, hệ hô hấp, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ miễn dịch, cơ quan sinh sản, dạ dày, ruột.

Chỉ số LD50 qua miệng (liều lượng gây chết trung bình 50% quần thể nghiên cứu) đối với asen vô cơ tương ứng là 15-293mg/kg và 11-150mg/kg thể trọng của chuột và các động vật thí nghiệm khác. Tiếp xúc với 70-80mg As2O3 qua đường ăn uống là nguy hiểm đến tính mạng đối với con người [15]. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Độc tính của các hợp chất asen đối với sinh vật dưới nước tăng theo dãy : asin>asenit>asenat>hợp chất asen hữu cơ.

Cơ chế biến đổi sinh học của asen trong cơ thể người rất phức tạp, tùy theo hợp chất. Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu chữa bệnh nhiễm độc asen. + Asen Vô Cơ Asen vô cơ có thể phá huỷ các mô trong hệ hô hấp, trong gan và thận. Nó tác động lên các enzim hoạt động đảm bảo cho quá trình hô hấp.

Các nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế gây độc chính của asen là do sự liên kết của nó với các nhóm sunfuahydryl SH, làm mất chức năng hoạt động của các enzim. SH SH - Enzym + AsO3-3 Enzym As - O- + 2 OH SH SH Asen(V) ức chế các enzim sinh năng lượng cho tế bào như các enzim sinh ra ATP làm chu trình xitric bị kìm hãm. OPO32- OPO32- + PO43- H C OH H C OH ATP C O C O H O PO32- OPO32- H C OH Ph©n huû thµnh s¶n phÈm ®Çu C O O AsO33- + Asen Hữu Cơ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các hợp chất asen(V) (R-AsO3H2) ít ảnh hưởng đến hoạt tính của enzim nhưng trong những điều kiện thích hợp chúng có thể khử về dạng asen(III) độc hơn. Các hợp chất asen(III) bao gồm aseno và asenoso.

Các hợp chất aseno (R- As=As-R) bị oxi hoá dễ dàng ngay cả khi có vết oxi, tính hoạt động của chúng được cho là do sự chuyển hoá thành các dẫn xuất aseno tương ứng. Các dẫn xuất này có thể đợc chia thành các hợp chất thế một lần và các hợp chất thế hai lần theo phản ứng của chúng với nhóm sunfuahydryl. Những hợp chất thế một lần, ví dụ R-As=O, phản ứng với enzim chứa nhóm -SH. SR' R-As O + 2R'SH R-As SR' Một số enzim chứa hai nhóm thiol có thể phản ứng với hợp chất asen thế một lần, bằng cách đó tạo ra cấu trúc vòng 5 cạnh.

Phản ứng này thuận nghịch với đithiol. Axit liponic, cần thiết cho giai đoạn đầu trong sự oxi hoá của piruvate, bị ức chế bằng cách này bởi liuzit (sử dụng làm khí độc) [10]. S S CH2 SH protein AsCH CHCl + BAL protein + ClCH CHAsH2 S SH S CH CH2OH 1. Tình trạng ô nhiễm asen Hiện nay do sự bùng nổ dân số, vấn đề cung cấp nước sạch cho sinh hoạt đang là một vấn đề lớn mà xã hội quan tâm.

Trong khi đó nguồn nước bề mặt ngày càng bị ô nhiễm bởi nguồn nước thải sinh hoạt, nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp, ….thì việc sử dụng nguồn nước ngầm là một giải pháp hữu hiệu cho việc cung cấp nước sạch. Nước ngầm ít chịu ảnh hưởng của con người, hầu như không có các hạt keo hay cặn lơ lửng, các chỉ tiêu vi sinh vật tốt hơn nước bề mặt. Tuy nhiên khi khai thác nguồn nước 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngầm chúng ta phải đối mặt với một vấn đề rất đáng lo ngại, đó là sự nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là asen. Nguồn asen có trong nước ngầm chủ yếu là do sự hòa tan các hợp chất có chứa asen trong đất, hoạt động núi lửa, sản xuất công nông nghiệp.

Nhiễm độc asen trên thế giới Hiện nay trên thế giới có hang chục triệu người đã bị bệnh rụng móng chân, sừng hóa da, ung thư da… do sử dụng nguồn nước sinh hoạt có nồng độ asen cao. Nhiều nước đã phát hiện hàm lượng asen rất cao trong nguồn nước sinh hoạt như Canada, Alaska, Chile, Trung Quốc, Thái Lan, Bangladesh … Sự có mặt của asen ở các vùng khác nhau trên thế giới được tổng hợp trong bảng 1. Hàm lượng asen ở các vùng khác nhau trên thế giới 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bản đồ phân bố khu vực ô nhiễm asen trên thế giới Ở Trung Quốc, trường hợp bệnh nhân nhiễm độc asen đầu tiên được phát hiện từ năm 1953.

Số liệu thống kê cho thấy 88 nhiễm qua thực phẩm, 5 từ không khí và 7 từ nước uống. Đến năm 1993 mới có 1546 nạn nhân của căn bệnh Asenicosis (bệnh nhiễm độc asen) nhưng cho đến thời điểm này đã phát hiện 13500 bệnh nhân trong số 558000 người được kiểm tra ở 462 làng thuộc 47 vùng bị liệt vào khu vực nhiễm asen cao. Hàm lượng asen tối đa thu được trong nước uống là 4,43 mg/l gấp tới 443 lần giá trị Asen cho phép của tổ chức y tế thế giới WHO (10μg/l) [10]. Con số bệnh nhân nhiễm độc Asen ở Archentina cũng có tới 20000 người.

Ngay cả các nước phát triển mạnh như Mỹ, Nhật Bản cũng đang phải đối phó với thực trạng ô nhiễm Asen. Ở Mỹ, theo những nghiên cứu mới nhất cho thấy trên 3 triệu người dân Mỹ có nguy cơ nhiễm độc Asen, mức độ nhiễm asen trong nước uống dao động từ 0,045 – 0,092 mg/l.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ