CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÈ HÀNH VI NGHIEN MẠNG XÃ HỘI TIKTOK CỦA SINH VIÊN 1. Lich sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội tiktok 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi nghiện mạng xã hội tiktok trên thế giới 1. Các nghiên cứu về hành vỉ nghiện "Hành vi nghiện" là chủ để không quá mối la trong cả lĩnh vực lâm sàng và học thuật tại nước ngoài Nhiều nghiên cứu cho thấy nghiện hành vỉ và nghiện chất có nhiều điểm tương đồng về lịch sử tự nhiên, hiện tượng học và hậu quả bất lợi.
Cả hai đều khởi phát ở tuổi vị thành niên và thanh niên và tỷ lệ ở những nhóm tuổi này cao hơn so với người Tớn tuổi (De Castro, 2007) Trong một nghiên cứu về “So sánh sự thèm muốn va tang thai cảm xúc giữa những người nghiện cờ bạc và nghiện rượu” đã chỉ ra: nhiều người mắc chứng nghiện. hành vi đã xuất hiện trạng thái thôi thúc hoặc thèm muốn trước khi bắt đầu hành vi, cũng như những người mắc chứng rối loạn sử dụng chit gây nghiện trước khi sử dụng shất gây nghiện. Bên cạnh đó, những bành vỉ này thường làm giảm lo lắng và dẫn đến trang théi tim tạng tích cực hoặc "cao", tương tự như say chất kích thích, Rối loạn diều hòa cảm xúc có thể gớp phần gây ra cảm giác thêm ăn trong cả rối loạn hành vỉ và sử dụng chất gây nghiện (Bang A. “Theo kết quả trong một nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ năm 2003, hẳu hết người nghiện thuộc độ ổi từ 26-30.
Phần lớn người nghiện trong nghiên cấu này là nam giới (95%) theo đạo Hồi (92.504)và chưa lập gia đình (90. Họ chủyếu xuất thân từ những gia đình cổ địa vị kính tế xã hộ thấp. Qua nghi ci cũng nhận thấy đối tượng dễ bị nghiện nấ là do một số yễ tổ như do bạn bè khuyến khích (Š3.5/7) tò mò (44,5%), thú vui giải trí (45%), thiểu tình cảm tôn giáo (95%), gia đình biển dạng. Hầu hết tắt cả những người nghiện cho biết sự thấ vọng là một nguyên nhân.
quan trọng dẫn đến nghiện (100%). Một số người nghiện đã từng bị bắt giam vì hành. xi chống đối xã hội (11,5%). Sau khi dùng ma túy, sự thay đổi về thể chắt, tình cảm và thay đổi hành vi của người nghiện như chóng mặt (95%), thờ ơ với công vi (945%), hay nôn (100%), sai sót trong công việc 43%), nóng nay (28 %), kh6 thé (39%), hưng l3 phần, hành vĩ hung hăng (100%), trầm cảm (95%), thiếu chủ động (884), xu hướng tự tử (109), hành vi không nhất quần (89%), v.
Nghiên cứu cũng cho thấy 12.5: người nghiện xuất thân từ gia đình tan vỡ. Nghiên cứu hiện tại tiết lộ rằng động cơ nghiện ma túy hàng đầu là để giải tỏa căng thắng (77,12%). Người nghiện ma tuý có. mỗi quan hệ không hài lòng với anh chị em ruột (34,13%); với cha mẹ (32,5%) và về các thành viên khác trong gia đình (28) (Enss, Ruth Clifford, 2014) Kế thừa từ các lý thuyết và nghiên cứu trước đây về chứng nghiện hành vỉ, Haiyan Zhao và các cộng sự đã tham khảo mô hình thành phần sáu yếu tổ được chấp hin rong i cua Griffiths va xây dựng một thang đo 18 mục, với mỗi thành phần được do bằng ba mục.
Thang đo liên quan đến đo lường “Hành vĩ nghiện mua sắm trực tuyển”. Kết quả tên 3 lần thực nghiệm với khách thể cho thấy mức độ nghiện mua sắm trực tuyển ở mức độ tương đối “Tác giả cũng khẳng định thang điểm 18 mục này là một công cụ dựa trên lý thuyết vững chắc để đo lường thực nghiệm chứng nghiện mua sắm trực tuyển và có thể được sử đụng để m hi ác hiện tượng 6 thanh niên (Haiyan Zhao, 2017). Theo ước tính trong báo cáo của Ngân hàng Thể giới Kiểm soát đại dịch: Về các chính phú kiểm soát tình trạng lạm dụng thuốc lá, lấy ví dụ cụ thể là EU, nếu bắt đầu. giảm 50% hút thuốc lá vào năm 2020, số người chết vì thuốc lá giảm từ 520 xuống.
khoảng 500 trigu vào năm 2050. Mặt khác, nếu một nửa số ngư hút thuốc hiện tại ngừng sử dụng thuốc lá bằng 2020, số ca tử vong do thuốc lá sẽ giảm từ 520 xuống, còn 340 triệu vào năm 2050 (Brussels, 2012). Một nghiên cứu thực hiện tại Hoa Kỷ của tác giả Erin L. MeKeague đã dựa vào.
sự khác biệt giới tính để phân định nguyên nhân. iu hiện và nhú cầu điều trì của phụ nữ mắc chứng nghiện tình dục. Dữ liệu thực nghiệm và lâm sàng cho thấy phụ nữ tải qua nhiều chắn thương và tổn thương thời tho du hon do ran nit tình cảm gắn bó, Sự ấu hỗ là tác động cốtlõi của chứng nghiện nh dục và được kết hợp với phụ nữ bởi những thông điệp văn hỏa tiêu cục, Tác giả cũng đưa ra các khuyến nghị cụ thể về điều trị phụ nữ nghiện tình đục được cung cấp và đặt trong một môi trường tị liệu đa phương thức (MeKeague, Eiin, 2014) Một nghiên cứu của Tạp chí Qui Nghiên cứu Khoa học Y tẾ Chứng thực được thực hiện vào năm 2023 nhằm đánh gid quan hệ của sức khỏe tâm lý với chứng nghiện thực phẩm. Kết quả cho thấy rằng nghiện thực phẩm là một hành vi "nghiện thục phẩm có hàm lượng đường và chất béo cao dẫn đến ăn quá nhiễu, Hẳu hết l4 những người tham giá (1200 người từ L5 ~ 60 tuổ) đễu nghiện thức ăn nhẹ (66.5%) Người ta thấy rằng 65,5% người tham gia có vấn đề nhẹ về tâm lý.
chưa có chin đoán nghiện nên các tiêu chuẩn chẳn đoán tập trung vào các triệu chứng đau khổ và suy giảm hoạt động hàng ngày. Qua đó, tác giả kết luận việc nghiện thực phẩm gia tăng có thể dẫn đến gia tăng các vấn đề tâm lý (Fazal, Amaila & Saad, & Khan, Ahmed. Nhì chung, nghiện và hành vi nghiện được quan tâm nại cứu nh su ong lĩnh vực Y học, Xã hội học. Bằng chứng là có khá nhiễu công trình nghiên cứu về nghiện như nghiện ma túy, nghiện mua sắm, nghiện thuốc lá, nghiện thực phẩm.
Ce nghiên cứu cũng mở rộng nhiều vấn để liên quan đến thực trạng, hậu quả, mỗi tương quan với các yếu tổ bên ngoài. Tuy nhiên, vì các tiêu chuẩn chân đoán vẻ hành xi nghiện chưa rõ rằng nên các nhà nghiên cứu vẫn đang trong quá trình phát triển các công tỉnh khoa học. Vì vây, hướng nghiên cứu về hành vi nghiện hôn là xu hướng và có đồng góp quan trọng trong nhí ¡nh vực 1. Các nghĩ cứu về hành v nghiện intemmet Nghiên cứu về hành vi nghiện intemet được thực hiệ lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào năm 1996 bởi Kimberly $ Young Hoa Kỳ.
Nghiên cứu tiến hành trên 600 trường. hợp sử dụng internet quá mức và có đầu hiệu của nghiện internet (được đánh giá trên bảng câu hỏi phỏng theo bảng câu hỏi của DSA IV về nghiện cờ bạc. thực hiện thêm nhiều nghiên cứu khác để khám phá nhiều hướng khác nhau của nghiện tmernet nhằm đưa ra khổ nệm nghiện tem gi tích sự khác nhan giữa nghỉ n internet và sử dung internet thông thường cũng như cách đưa ra đánh g mức độ, biểu hiện, hậu quả của hành vi nghiện internet Nghiên cứu năm 2014 về tình trạng nghiện intemet ở sáu nước Châu Á ghỉ nhận ti lệ nghiện inemmet cao nhất ti Philippin (60.5%) và thấp nhất ti Hàn Quốc (13275) (Mak K, Lai CM, Watanabe H et a, 2014) yi Albania mit nude déng nam châu Âu, fc gia Elona Hasmajaj thie hi nghiên cứu trên 151 sinh viên từ 18-23 tuổi, sống ở những nơi khác nhau của phía Bắc nước này để ìm hiểu mỗi quan hệ giữa chứng nghiện intemet và sự cô đơn của các sinh viên. Kết quả cho thẤy một mối trơng quan nghịch nhỏ giữa cổ đơn và nghiện Internet, mat khéc, không có sự khác biệt giới tính nào về mức độ nghiện Internet và sõ đơn; hơn nữa sinh viên nghiện Internet có tỷ lệ cô đơn thấp hơn đáng kể (Elona Hasmujaj, 2016) Is Theo một phân tích tổng hợp gồm tấm bài báo với I64l bệnh nhân nghiện internet cho iy méi ign quan giữa nghiện intemet và tình trạng lạm dụng rượu, tăng động giảm chú ý, lo lắng và trằm cảm (Chun Man Roger Ho etal, 2014) Tai Singapo, nghién ctu cia Subramaniam Mythily, Shijia Qiu va Munidasa Winslow (2008) trên tổng cộng 2735 thanh thiểu niên, trong đó có 49,4% nam và “30,6% là nữ, tuổi trung bình là 13 tuổi.
Kết quả cho thấy khoảng 17,1% thanh thiếu niên bảo cáo là đã sử dụng inlemet hơn Š giờ mỗi ngày, và tắt cả tro sổ họ có những «dau hiệu của lạm dung internet (Subramaniam Mythily et al, 2008) Một nghiên cứu tại Hàn Quốc vào năm 2021 đã tập rung nghiên cứu về ảnh hướng của việc nghiện diện thoại thông minh của cha mm Hàn Quốc đối với chứng nghiện điện thoại thông mình của trẻ em Hàn Quốc và ảnh hưởng giới tính và ổi ác của đến hành vỉ nghiện của trẻ em. Tác giả chỉ ra rằng: Nghiện điện thoại thông minh ở tệ em và thanh thiểu niên cổ ác động tiêu cục, v sử dụng quế nhiều điện thoi thông mình có thị lây racác triệu chứng thể chất. chẳng hạn như một mỏi, khó tí khó ngủ, cũng như các vấn để tâm lý, chẳng hạn như trằm cảm, lo king va bốc đồng "Bên cạnh đó, mức độ nghiện điện thoại thông mình của cha mẹ ảnh hưởng đến trẻ em và thanh thiểu niên (có mỗi tương quan thuận); độ tuổi của trẻ em và thanh thiểu niên. ánh hưởng đến mức độ nghiện điện thoại thông minh, trong khi giới tinh của chúng.
không ảnh hưởng đến điều đó (Hy yeong Son etal, 2021) Đáng chú ý là một nghiên cứu mở rộng được thực hiện nhóm thanh thiểu niên tại Nhật Bản vào năm 2014 và tại Thái Lan vào năm 2016 nhằm phân tích, so sánh các. yếu tổ liên quan đến nghiện điện thoại thông mình ở hai quốc gia không dòng nhất sả trình độ phát triển kính tế và văn hỏa. Kết quả cho thấy, nghiện điện thoại thông "mình phổ biển hơn ở thanh thiểu niên Thái Lan so với thanh thiểu niên Nhật Bản và phỏ biển ở nữ giới hơn nam giới ở cả hai quốc gia. Các biện pháp can thiệp để giảm nghiện điện thoại thông minh cin quan tim đến cả bồi cảnh và giới tính, đồng thời nên tân dụng tác dụng bảo vệ của sự kết ní của cha me (Arunrat Tangmunkongvoraku et i, 2020), Mot nghiên cứu tại Quảng Đông, Trung Quốc đã chỉ r xu hướng nghiện mua sắm trực tuyi ến (OSAT) trong giới sinh viên đại học đã trở nên quá nghiêm trọng.
"Nghiên cứu trên 1123 (tuổi trung bình = 20.28; 58 à nữ) cho thấy không có sự khác biệt về giới trong OSAT.