CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm tổng quan 1. Khái niệm về sinh viên Theo Từ điển Giáo dục học: “Sinh viên là những người học của cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học”. Theo Luật Giáo dục Đại học: Sinh viên là những người đang đang học tập và nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học theo chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học.
Theo Từ điển Tiếng Việt, do nhà xuất bản Từ điển Bách khoa định nghĩa: “Sinh viên chỉ những người đang theo học ở bậc đại học. Theo Từ điển Hán-Việt, “Sinh viên là những người học ở bậc đại học, bao gồm hệ cao đẳng và hệ đại học”. Còn theo cuốn sách “Tâm lý học sư phạm Đại học”của Phạm Minh Hạc đã chỉ rõ thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng latin “students” có nghĩa là những người làm việc nhiệt tình, người tìm hiểu, khai thác tri thức, phương pháp và kinh nghiệm cần thiết để có thể tham gia quá trình sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội sau khi tốt nghiệp. (Teakkham Inthaxay, 2014) Như vậy, có thể thấy khái niệm sinh viên được hiểu khá thống nhất và được dùng với nghĩa phổ thông nhất là những người học trong các trường cao đẳng và đại học.
Họ đang trong quá trình học tập và chuẩn bị cho sự nghiệp tương lai của mình. Sinh viên là một nhóm đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội và đất nước. Họ thường là những người trẻ tuổi (thường từ 18 đến 25 tuổi), có năng lực, có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước thông qua sự nỗ lực học tập, tiếp thu cái mới và tìm tòi sáng tạo. Trong nghiên cứu này 24 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 chúng tôi chỉ nghiên cứu các sinh viên thuộc hệ chính quy của ĐH KHXH&NV - ĐHQG TP HCM.
Khái niệm người tiêu dùng Dưới góc độ kinh tế, theo từ điển Kinh tế học hiện đại định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, các cá nhân và nhóm cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ý là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân” 1. Khái niệm về hành vi Hành vi là hành động và cách cư xử được các cá nhân, sinh vật,hệ thống hoặc thực thể nhân tạo thực hiện kết hợp với chính họ hoặc môi trường của họ, bao gồm các hệ thống hoặc sinh vật khác xung quanh cũng như môi trường vật lý. Đó là phản ứng được tính toán của hệ thống hoặc sinh vật đối với các kích thích hoặc đầu vào khác nhau, cho dù bên trong hay bên ngoài, ý thức hay tiềm thức, công khai hoặc bí mật và tự nguyện hoặc không tự nguyện (Elizabeth A.
Khái niệm hành vi người tiêu dùng Theo Engel, Blackwell và Mansard, “hành vi người tiêu dùng là các hành động và quá trình quyết định của người mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng cá nhân”.Bennet (1988), “hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ”. 25 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Lamb và cộng sự (2000), “hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ”. Philip Kotler (2000) cũng định nghĩa: “Hành vi khách hàng là những hành vi cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”. Hay nói cách khác hành vi người tiêu dùng là tập hợp các hành vi, phản ứng, suy nghĩ của người tiêu dùng trong suốt quá trình mua hàng.
Nó bắt đầu từ khi người tiêu dùng có nhu cầu đến sau khi mua sản phẩm. Quá trình đó gọi là quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng. Nhìn chung, các định nghĩa về hành vi người tiêu dùng đều tập trung vào các khía cạnh quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng nhận biết, tìm kiếm thông tin, đánh giá mua hàng, mua hàng, phản ứng sau mua của khách hàng và mối quan hệ tương tác giữa quá trình đó với các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp, gián tiếp vào nó. Khái niệm TMĐT Khái niệm về TMĐT khá phong phú và đa dạng: TMĐT được định nghĩa là việc giao hàng hóa, dịch vụ, thông tin và thanh toán thông qua mạng máy tính hoặc thiết bị điện tử khác (Turban et al, 2006) Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.
26 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ về TMĐT, giải thích: “Hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Như vậy,TMĐT là một hình thức kinh doanh trực tuyến diễn ra trên các trang mạng internet. Các cửa hàng bán sản phẩm trên các kênh TMĐT có thể là cửa hàng online hoặc các doanh nghiệp. Các kênh TMĐT có tác dụng giúp cho người dùng thực hiện các công việc mua bán hàng hóa trực tuyến.
Mô hình kinh doanh TMĐT được xem như một trong những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Khái niệm mua sắm trực tuyến Mua sắm trực tuyến là một dạng của thương mại điện tử, nó ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình phát triển của thương mại điện tử từ cuối thế kỷ XX. Mua sắm trực tuyến cho phép người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ từ một người bán trong thời gian xác định thông qua Internet mà không có một dịch vụ trung gian nào. Trên thế giới, có rất nhiều quan niệm khác nhau về mua sắm trực tuyến.
Một số quan điểm của các tác giả tiêu biểu như: Theo Monsuwe và cộng sự (2004), mua sắm trực tuyến là là hành vi của người tiêu dùng trong việc mua sắm thông qua các cửa hàng trên mạng hoặc website sử dụng các giao dịch mua hàng trực tuyến. Theo Haubl và Trifts (2000) định nghĩa mua sắm trực tuyến đề cập đến giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bởi người tiêu dùng thông qua giao diện dựa 27 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 trên máy tính bằng cách máy tính tương tác với các cửa hàng số hóa của nhà bán lẻ thông qua mạng máy tính của người tiêu dùng được kết nối. Mua sắm trực tuyến theo định nghĩa của Mastercard Worldwide Insights (2008) là quá trình mua hàng hóa và dịch vụ từ các thương gia bán qua internet. Mua sắm trực tuyến cũng được biết đến với các tên gọi khác là mua hàng qua internet, mua sắm điện tử, mua hàng trực tuyến hoặc mua sắm qua internet.
Kim (2004) định nghĩa thêm về mua sắm trên internet là việc xem xét, tìm kiếm, duyệt hoặc xem một sản phẩm để có thêm thông tin với ý định mua hàng trên Internet. Bằng cách nhìn ở góc độ khác, Chiu và cộng sự (2009) lại coi mua sắm trực tuyến là sự trao đổi thời gian, công sức và tiền bạc để nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ. Nội dung lý thuyết nghiên cứu 2. So sánh giữa mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống Trong bối cảnh công nghệ thông tin đang bùng nổ thì việc mua hàng trực tuyến đang được sử dụng rộng rãi.
Bên cạnh đó hình thức mua sắm truyền thống cũng rất phong phú và phổ biến. Cả hai phương thức mua hàng trên đều có nhiều tiện ích cho người tiêu dùng, đồng thời mỗi hình thức cũng có những hạn chế khác nhau. Giống nhau Theo các tác giả Comegys (2006), Darley (2010), Yörük (2011), giữa mua sắm trực tuyến và mua sắm truyền thống cũng có những điểm giống nhau. Đó là cả hai phương thức cùng trải qua quá trình mua sắm năm bước bao gồm: · Nhận biết nhu cầu mua sắm, 28 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 · Tìm kiếm thông tin về sản phẩm · Đánh giá các phương án thay thế · Quyết định mua sản phẩm · Đánh giá sau khi mua hàng Khác nhau Tuy cùng trải qua quá trình mua sắm giống nhau nhưng hai phương thức này cũng có một số điểm khác biệt.
Tiêu chí Mua sắm trực tuyến Mua sắm truyền thống Thời gian hoạt Hoạt động 24/7 Bị giới hạn về thời gian hoạt động động Phạm vi mua Rộng. Có thể mua sắm ở bất kỳ Hẹp. Bị giới hạn vị trí địa lý. sắm nơi nào, không bị giới hạn vị trí địa lý.
Rủi ro khi mua Cao. Bởi không tiếp xúc được với Thấp. Người mua được gặp hàng người bán cũng như sản phẩm để trực tiếp người bán cũng như biết được chất lượng. được trải nghiệm thử sản phẩm trực tiếp.
Sự đa dạng Hàng hóa phong phú, đa dạng. Sự đa dạng bị hạn chế bởi Sản phẩm có thể đáp ứng ngay khách hàng khó tìm kiếm nhu cầu của khách hàng. Có thể được sản phẩm mình muốn. dễ dàng tìm kiếm và so sánh các Khó có thể so sánh nhiều sản sản phẩm khác nhau.
Giúp tiết phẩm, tốn thời gian tìm kiếm kiệm thời gian. khi đén cửa hàng, shop hay siêu thị. 29 Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 Giá cả Giá thương thấp hơn so với các Giá bán thường cao hơn, kênh truyền thống vì không phải cộng thêm nhiều chi phí như tốn tiền mặt bằng. Tuy nhiên phải mặt bằng, nhân viên, ….
tính thêm tiền phí vận chuyển cho đơn vị trung gian. Thanh toán Hình thức thanh toán đa dạng. Ví Thanh toán trực tiếp bằng điện tử, giao dịch ngân hàng số tiền mặt hoặc giao dịch qua hóa, hay trực tiếp bằng tiền mặt ngân hàng. Hiện nay, các cơ khi nhân hàng trực tiếp.
sở mua sắm trực tiếp cũng có thể thanh toán bằng nhiều hình thức đa dạng. Niềm tin Vẫn còn thấp. Do vẫn chưa được Cao. Do người mua người kiểm soát chặt chẽ khiến nhiều bán gặp nhau trực tiếp, biết người tiêu dùng chưa hoàn toàn địa điểm kinh doanh, xem hài lòng về kênh mua hàng này.