Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức Và Vận Dụng Trong Marketing

Luận văn thạc sĩ TMU phân tích hành vi mua của khách hàng tổ chức và ứng dụng trong marketing tại công ty cổ phần trang thiết bị công nghiệp Hà Nội.

Trường đại học

Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2017

103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU HÀNH VI MUA KHÁCH HÀNG TỔ CHỨC VÀ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING Ở DOANH NGHIỆP

1.1. Khái quát về hành vi mua của khách hàng tổ chức

1.2. Khái niệm và phân loại khách hàng tổ chức

1.2.1. Khái niệm khách hàng tổ chức

1.2.2. Đặc điểm khách hàng tổ chức

1.2.3. Phân loại khách hàng tổ chức

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU HÀNH VI MUA CỦA KHÁCH HÀNG TỔ CHỨC VÀ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRANG THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH BẮC BỘ

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY CP TRANG THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI, TRÊN ĐỊA BÀN CÁC TỈNH BẮC BỘ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức

Nghiên cứu hành vi mua của khách hàng tổ chức (KHTC) là một lĩnh vực quan trọng trong marketing B2B. Hành vi mua của KHTC không chỉ ảnh hưởng đến quyết định mua sắm mà còn tác động đến chiến lược marketing của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ hành vi này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình bán hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

1.1. Khái niệm và Đặc điểm của Khách Hàng Tổ Chức

Khách hàng tổ chức là những cá nhân hoặc tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ để phục vụ cho sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ. Đặc điểm của KHTC bao gồm khối lượng mua lớn, tần suất mua thường xuyên và nhu cầu phụ thuộc vào thị trường tiêu dùng.

1.2. Vai trò của Nghiên Cứu Hành Vi Mua Trong Marketing B2B

Nghiên cứu hành vi mua giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về nhu cầu và mong muốn của KHTC. Điều này không chỉ giúp cải thiện sản phẩm mà còn tối ưu hóa các chiến lược marketing, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

II. Thách Thức Trong Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức

Mặc dù nghiên cứu hành vi mua của KHTC mang lại nhiều lợi ích, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Các yếu tố như sự biến động của thị trường, sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Sự Biến Động Của Thị Trường

Thị trường hiện nay đang thay đổi nhanh chóng, điều này ảnh hưởng đến quyết định mua của KHTC. Doanh nghiệp cần theo dõi và phân tích các xu hướng mới để điều chỉnh chiến lược marketing kịp thời.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Đối Thủ

Cạnh tranh trong lĩnh vực B2B ngày càng gia tăng. Doanh nghiệp cần phải tìm ra những điểm khác biệt và giá trị gia tăng để thu hút KHTC, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức

Để nghiên cứu hành vi mua của KHTC, doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu và phân tích hành vi mua một cách hiệu quả.

3.1. Phân Tích Dữ Liệu Sơ Cấp

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát và phỏng vấn trực tiếp với KHTC. Phương pháp này giúp doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc về nhu cầu và mong muốn của khách hàng.

3.2. Phân Tích Dữ Liệu Thứ Cấp

Dữ liệu thứ cấp bao gồm thông tin từ các báo cáo, tài liệu nghiên cứu trước đó. Việc phân tích dữ liệu này giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan về thị trường và hành vi mua của KHTC.

IV. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Vào Hoạt Động Marketing

Kết quả từ nghiên cứu hành vi mua của KHTC có thể được áp dụng vào các hoạt động marketing của doanh nghiệp. Việc này không chỉ giúp cải thiện sản phẩm mà còn tối ưu hóa quy trình bán hàng.

4.1. Tối Ưu Hóa Chiến Lược Marketing

Dựa trên kết quả nghiên cứu, doanh nghiệp có thể điều chỉnh chiến lược marketing để phù hợp hơn với nhu cầu của KHTC. Điều này giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng doanh thu.

4.2. Phát Triển Sản Phẩm Mới

Nghiên cứu hành vi mua cũng giúp doanh nghiệp phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của KHTC. Việc này không chỉ tạo ra giá trị cho khách hàng mà còn giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức

Nghiên cứu hành vi mua của KHTC là một yếu tố quan trọng trong marketing B2B. Việc hiểu rõ hành vi này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình bán hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tương lai của nghiên cứu này sẽ tiếp tục phát triển và đóng góp vào sự thành công của doanh nghiệp.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu Hành Vi Mua

Nghiên cứu hành vi mua sẽ tiếp tục được mở rộng và phát triển, giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các xu hướng mới trong thị trường B2B.

5.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo

Doanh nghiệp nên tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua của KHTC, từ đó đưa ra các giải pháp marketing hiệu quả hơn.

18/06/2025
Luận văn thạc sĩ tmu nghiên cứu hành vi mua của khách hàng tổ chức và vận dụng trong hoạt động marketing của công ty cổ phần trang thiết bị công nghiệp hà nội trên địa bàn các tỉnh bắc bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU HÀNH VI MUA KHÁCH HÀNG TỔ CHỨC VÀ VẬN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING Ở DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về hành vi mua của khách hàng tổ chức 1. Khái niệm và phân loại khách hàng tổ chức 1. Khái niệm khách hàng tổ chức Hiện nay marketing doanh nghiệp với doanh nghiệp (marketing B2B) được quan tâm hơn.

Nhiều nhà nghiên cứu marketing đã tìm hiểu và đưa ra khái niệm theo quan điểm của mình về khách hàng tổ chức (KHTC). Nguyễn Quỳnh Chi (2001) phát biểu: “Thị trường mua của các tổ chức bao gồm tất cả các tổ chức mua hàng hóa và dịch vụ sử dụng để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ khác. Những hàng hóa và dịch vụ này lại được bán, cho thuê hoặc cung ứng cho các doanh nghiệp khác. Hàng hóa được chu chuyển và tiền được tiêu trên thị trường các tổ chức nhiều hơn là trên thị trường người tiêu dùng.” Philip Kotler (2007) cho rằng thị trường các doanh nghiệp là tập hợp những cá nhân và tổ chức mua hàng để sử dụng cho việc sản xuất, để bán lại hay phân phối lại, được phân thành (1) thị trường hàng tư liệu sản xuất, (2) thị trường người bán buôn trung gian, (3) thị trường các cơ quan nhà nước.

Dựa trên nghiên cứu của Hass, Hồ Thanh Lan (2014) dùng thuật ngữ những khách hàng tổ chức (organizational customers) để miêu tả khách hàng trong thị trường công nghiệp. KHTC được phân loại thành 3 nhóm đôi khi trùng lặp nhau là: (1) các xí nghiệp thương mại mua hàng hóa và dịch vụ, (2) các tổ chức chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ, (3) những khách hàng là các viện và học viện trên thị trường cần nhiều loại hàng hóa dịch vụ. Có thể thấy các khái niệm trên có sự tương đồng với nhau. Tuy nhiên Kotler có đưa thêm cá nhân vào khái niệm KHTC.

Cần phải làm rõ rằng những cá nhân trong thị trường doanh nghiệp này khác với cá nhân trong “khách hàng cá nhân”. Luan van 6 Họ đại diện cho một tổ chức để tham gia thị trường, chứ không phải đại diện cho chính bản thân họ khi tiến hành mua hàng. Như vậy, có thể hiểu KHTC là những cá nhân (đại diện cho tổ chức) và tổ chức mua hàng để sử dụng cho việc sản xuất, để bán lại hay phân phối lại. Đặc điểm khách hàng tổ chức KHTC rất khác biệt so với khách hàng cá nhân.

- Ít người mua hơn. Những doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường công nghiệp thường làm việc với số lượng khách hàng ít hơn nhiều so với doanh nghiệp kinh doanh hàng tiêu dùng. - Khối lượng mua lớn. Tuy số lượng KHTC ít hơn so với khách hàng cá nhân, nhưng khối lượng mua của họ lại lớn hơn rất nhiều.

Tần suất mua cũng thường xuyên hơn. - Tập trung theo vùng địa lý. KHTC thường tập trung theo khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng miền,. Việc mua hàng tập trung theo vùng địa lý giúp họ giảm bớt chi phí về tìm hiểu đối tác, vận chuyển và lưu kho.

- Nhu cầu của KHTC phụ thuộc vào nhu cầu hàng tiêu dùng của khách hàng cá nhân. Suy cho cùng, nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất phát từ nhu cầu hàng tiêu dùng của khách hàng cá nhân. Một doanh nghiệp làm ăn kinh doanh tốt, bán được nhiều hàng cho người tiêu dùng thì nhu cầu đầu vào sẽ tăng lên. Bên cạnh đó, nhu cầu của KHTC thường biến đổi nhanh hơn so với nhu cầu về các mặt hàng và dịch vụ tiêu dùng của khách hàng cá nhân.

- Cầu ít co giãn theo giá. Điều này có nghĩa là những biến động giá cả không kèm theo những dao động mạnh mẽ về cầu. KHTC thường thay đổi cầu khi có sự thay đổi về đầu ra, hơn là về giá cả, bởi họ không căn cứ nhiều vào giá khi mua hàng. - Người mua hàng là những người chuyên nghiệp.

Luan van 7 KHTC là những người được đào tạo chuyên nghiệp, có kiến thức nhất định về mặt hàng họ muốn mua và thị trường sản phẩm đó. Phân loại khách hàng tổ chức KHTC có thể được phân loại thành 3 nhóm đôi khi trùng lặp nhau: a) Các doanh nghiệp thương mại (Commercial Enterprises) - Những nhà sản xuất thiết bị gốc (Original equipment manufactures) Nhà sản xuất thiết bị gốc mua sản phẩm/dịch vụ từ một bên khác để kết hợp thành sản phẩm của mình, rồi sản xuất và bán ra trên thị trường. Nói tóm lại, sản phẩm được mua trở thành một bộ phận cấu thành sản phẩm của người tiêu dùng cuối cùng. Nhà sản xuất máy tính được coi là nhà sản xuất thiết bị gốc khi mua vi mạch từ nhà sản xuất vi mạch, sau đó lắp vào máy tính của mình và bán ra thị trường cho người tiêu dùng cuối cùng.

- Những khách hàng người sử dụng (User customers) Loại thứ hai này bao gồm những doanh nghiệp thương mại mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sản xuất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ra những hàng hóa dịch vụ khác rồi bán ra thị trường. Các doanh nghiệp cơ khí mua máy khoan, máy mài, máy cắt từ doanh nghiệp khác để phục vụ công tác sản xuất của mình là ví dụ điển hình cho nhóm khách hàng sử dụng. Điểm phân biệt những nhà sản xuất thiết bị gốc với những khách hàng người sử dụng là việc sản phẩm/dịch vụ được mua không trở thành một phần trong sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. - Những nhà phân phối công nghiệp Những nhà phân phối không hẳn là khách hàng trong thị trường công nghiệp.

Họ là những trung gian mua sản phẩm từ người sản xuất hoặc một nhà phân phối khác, rồi bán lại chính những sản phẩm đó (thường ở chính dạng đã mua) cho những người phân phối khác, cho những nhà sản xuất thiết bị gốc hoặc cho những khách hàng người sử dụng. Theo nghĩa rộng, những nhà phân phối giống những nhà bán buôn công nghiệp. Luan van 8 b) Các tổ chức chính phủ (Governmental organizations) Các tổ chức chính phủ hay cơ quan nhà nước là khách hàng tổ chức, bao gồm các cơ quan từ cấp địa phương cho tới cấp trung ương. Họ tiến hành thuê, mua những mặt hàng và dịch vụ cần thiết để thực hiện những chức năng cơ bản của mình theo sự phân công của chính quyền.

c) Các khách hàng tổ chức (Institutional customers) Khách hàng loại này bao gồm tất cả những khách hàng không thuộc loại thương mại hoặc chính phủ. Ví dụ như các trường học, đại học, bệnh viện, trạm y tế, các tổ chức phi lợi nhuận. Các khách hàng này có thể công cộng hoặc tư nhân. Những tổ chức này thường không được phân chia một cách rạch ròi.

Và việc xem xét họ thường không quá quan trọng vấn đề họ là tổ chức công cộng hay tư nhân, mà căn cứ vào hành vi mua và chính sách mua của họ. Khái niệm và vai trò của nghiên cứu hành vi mua khách hàng tổ chức 1. Khái niệm hành vi mua của khách hàng tổ chức Hành vi mua là đối tượng nghiên cứu quan trọng của marketing. Một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra khái niệm hành vi mua khách hàng tổ chức được trình bày bên dưới đây.

Webster và Wind (1972) đã phát biểu: “Mua là một quá trình ra quyết định được các cá nhân thực hiện trong mối quan hệ tương tác với các cá nhân khác, trong khung cảnh của một tổ chức hoạt động chính thức, và tổ chức lại chịu ảnh hưởng của một loạt các nhân tố và lực lượng môi trường”. Tune (1992) đưa ra định nghĩa: “Hành vi mua của khách hàng tổ chức là quá trình ra quyết định mà theo nó các tổ chức hình thành nhu cầu mua sắm sản phẩm và dịch vụ, nhận biết, đánh giá và lựa chọn mua trong số những nhãn hiệu và nhà cung cấp thế vị đang được chào hàng trên thị trường nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của mình”. Theo Phan Thị Thu Hoài (2004): “Hành vi mua của khách hàng tổ chức là các cách ứng xử hay phản ứng (như suy nghĩ, cân nhắc, tương tác và hành động) của tổ chức trong quá trình hình thành nhu cầu mua sản phẩm và dịch vụ, nhận biết, đánh Luan van 9 giá và lựa chọn mua trong số các chào hàng thế vị trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của tổ chức trong quan hệ xã hội và khung cảnh của tổ chức hoạt động chính thức và một loạt các nhân tố và lực lượng môi trường của tổ chức.” Phạm Thụy Hạnh Phúc (2009) cho rằng: “Hành vi mua của tổ chức là sự tác động qua lại rõ ràng hoặc tiềm ẩn của việc ra quyết định từng bước, thông qua đó các trung tâm lợi nhuận chính thức hay không chính thức được đại diện bởi các đại biểu có thẩm quyền”. Tác giả tán thành với khái niệm hành vi mua của tổ chức mà tác giả Phan Thị Thu Hoài đưa ra, và sử dụng khái niệm này trong phạm vi luận văn.

Hành vi mua của KTC là các cách ứng xử hay phản ứng (như suy nghĩ, cân nhắc, tương tác và hành động) của tổ chức trong quá trình hình thành nhu cầu mua sản phẩm và dịch vụ, nhận biết, đánh giá và lựa chọn mua trong số các chào hàng thế vị trên thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu của tổ chức trong quan hệ xã hội và khung cảnh của tổ chức hoạt động chính thức và một loạt các nhân tố và lực lượng môi trường của tổ chức. Vai trò nghiên cứu hành vi mua khách hàng tổ chức Nghiên cứu hành vi mua của khách hàng nói chung, và khách hàng tổ chức nói riêng có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động marketing của doanh nghiệp. Theo Phan Thị Thu Hoài (2004): - Các tri thức về hành vi mua của KHTC là căn cứ và được phối hợp vào nhiều khía cạnh của chương trình marketing hướng tới KHTC, nhằm thỏa mãn cao nhu cầu mua và sử dụng của họ. - Thông tin về hành vi mua của KHTC có vai trò quan trọng trong việc hình thành chương trình marketing.

Nó là điểm xuất phát, thước đo đánh giá và thực hiện các chương trình marketing. - Hành vi mua của KHTC chính là đầu vào cho quá trình kế hoạch hóa marketing, nên có ảnh hưởng lớn tới chương trình marketing của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạch định marketing, thông tin về hành vi mua của KHTC cần đến trong mọi bước, như xác định phạm vi hay lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Luan van 10 phải tìm hiểu những đặc điểm của khách hàng để xác định khu vực hấp dẫn nhất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Vi Mua Của Khách Hàng Tổ Chức Trong Marketing" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm của khách hàng tổ chức trong lĩnh vực marketing. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về động lực và nhu cầu của khách hàng mà còn chỉ ra các chiến lược marketing hiệu quả để thu hút và giữ chân khách hàng.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm việc nắm bắt các xu hướng mới trong hành vi tiêu dùng, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của mình. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân tại agribank chi nhánh tiền giang, nơi phân tích các yếu tố quyết định trong hành vi tài chính của khách hàng.

Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng thẻ thanh toán nội địa của khách hàng tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh đà nẵng cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực ngân hàng.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiếp tục sử dụng dịch vụ mobile banking của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh lâm đồng, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự chuyển đổi trong hành vi tiêu dùng trong bối cảnh công nghệ số. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào chiến lược marketing của mình.