phần Mở đầu, mục 5. Lịch sử van đề). Chung quan điểm với J. Searle là các tác giả: P.
Levinson, Cao Xuan Hạo. Trong luận an này, chúng tôi chọn quan niệm cua J. Searle làm điểm tựa dé phân tích, lý giải các hành động cầu khiến. Câu cầu khién- phương tiện quan trọng của hành động cau khiến Thuật ngữ “hành động cầu khiến” và “câu/ phát ngôn cầu khiến” ? không đồng nhất.
Nói đến hành động cầu khiến thực chất là nói đến cả một quá trình tương tác giữa Spl và Sp2, bao gồm từ khâu chuan bị (các điều kiện thuận ngôn), thực hiện, tới hậu thực hiện (các phản ứng, sự chấp nhận/ từ chối của Sp2), trong khi câu cầu khiến chỉ là một trong những phương tiện quan trọng và trực tiếp nhat® đề thực hiện hành động cầu khiến. Câu cầu khiến được xác lập khi phân loại kiểu câu. Các tác giả theo xu hướng phân loại theo mục dich nói đã định nghĩa: “câu câu khiến nêu lên ý muốn của chủ thé phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động” [38, tr. Nói cách khác, loại câu này “chứa đựng ý muốn, nguyện vọng hay mệnh lệnh của người nói đối với người nghe” [38, tr.
Tuy nhiên, cách định nghĩa này không thuyết phục, không giúp phân biệt được câu cầu khiến với các kiểu câu khác, bởi để biểu đạt một mục đích duy nhất, sẽ có nhiều cách thé hiện khác nhau với các kiểu câu khác nhau, thông qua các hàm ý hội thoại. Chang hạn, Sp1 có thé thé hiện yêu cầu, ý muốn, nguyện vọng hay mệnh lệnh bằng câu cảm thán (VD: Ngột ngạt quá!), câu hỏi (Sao cậu chưa mở cửa ra?), thậm chí câu trần thuật (Trong phòng ngột ngạt ” Đứng trên lập trường của ngữ pháp chức năng- xem câu là đơn vi của lời nói, chúng tôi coi “câu” và “phát ngôn” tương đương nhau. Trong luận án này, cứ liệu được trích dân và phân tích không phải là đơn vị được m6 xẻ về cau trúc cú pháp, mà là đơn vị được xem xét trong hiện thực giao tiép. ® Còn có thể dùng các kiểu câu khác dé cầu khiến thông qua cái gọi là “hành động tại lời gián tiếp”.
Ngoài ra, bản thân các tác giả cũng không thé giải thích được vì sao lại chỉ có 4 kiểu câu, trong khi mục đích nói thực tế vô cùng phong phú. Theo xu hướng kết hợp giữa hình thức và mục đích nói, tác giả Đào Thanh Lan nhận định về loại câu này như sau: “cdu câu khiến (chính danh) là câu có y nghĩa cau khiến (hành vi cau khiến bao gom cả cầu và khiến hoặc cau, hoặc khiến) được biểu hiện bằng hình thức cầu khiến: bằng phương tiện ngữ pháp hoặc phương tiện từ vựng- ngữ pháp [41, tr. Theo chúng tôi, quan điểm này xác định phạm vi ý nghĩa của câu cầu khiến khá hẹp, chỉ gồm “cả cầu và khiến hoặc cầu, hoặc khiến”, trong thực tế bản chất của nhóm này phức tạp hơn rất nhiều (trong một bài báo gần đây, chính tác giả Đào Thanh Lan đã mở rộng khái niệm cầu khiến, đưa thêm vào nhiều loại hành động ngôn từ khác). Theo xu hướng chỉ căn cứ vào hình thức, tác giả Bùi Mạnh Hùng cho rằng chỉ nên căn cứ vào dấu hiệu hình thức, sau khi định ra kiểu câu thì mới định danh câu theo công dụng.
Đó là cách “phân loại câu theo dấu hiệu hình thức gắn với mục đích phát ngôn điển hình”. Theo đó, câu cầu khiến là câu: “a. Có ter cau khiến như hãy / dừng / chớ và chủ thể của hãy / đừng / chớ bao giờ cũng ở ngồi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất số nhiễu dạng ngôi gộp (tức là dạng ngôi thứ nhất có gộp cả ngôi thứ hai, chỉ người nghe như: chúng ta, chúng mình, hoặc một tô hợp từ tương đương như: mẹ con mình, bố con ta, lớp minh, v. Có khả năng thêm từ hay / đừng / chớ ở những ngôi đã nêu trên.
Với một căn cứ duy nhất, việc phân chia thành các kiểu câu sẽ nhất quán và mang tính thực thi hơn. Như vậy, các nhà ngữ pháp học đã khái quát các dấu hiệu hình thức (kết học), tạo cơ sở quan trọng cho việc xem xét mặt nội dung (nghĩa học) và công dụng (dụng học) của câu cầu khiến, phục vụ việc nghiên cứu của luận án. Trên quan điểm chức năng, tác giả Cao Xuân Hạo, cho rang “cdu cẩu khiến là câu có lực ngôn trung tác động đến ngôi thứ hai, yêu cầu ngôi này thực hiện một hành động đơn phương hay hợp tác”. Định nghĩa này không đóng khung câu cầu khiến ở những dấu hiệu hình thức, mà nhắn mạnh lực ngôn trung của hành động- linh hồn của câu trong giao tiếp.
Bản chất của câu cầu khiến, theo đó, là Sự mong muốn hoặc ràng buộc Sp2 vao việc thực hiện một hành động nao đó. Trên quan điểm ngữ dụng học, chúng tôi cho rằng câu cầu khiến là câu có lực ngôn trung tác động đến Sp2 nhằm điều khiển Sp2 thực hiện hành động X, có 14 hình thức là sự có mặt của một/ một vài dấu hiệu ngôn hành như VTNH cầu khiến (trong câu đơn hai sự tình); các vị từ tình thái nên, can phải, các vi từ tinh thái tính”) hãy, đừng, chớ., các tiêu từ tình thái 0® cuối câu thdi, nào, di, nhé. (trong câu đơn một sự tình có chủ thé ứng với Sp2) và một số kết cau thông dụng. Từ các quan điểm về câu cầu khiến và hành động cầu khiến nêu trên, chúng tôi đi đến nhận định: hành động cau khiến là hành động đáp ứng các điều kiện thuận ngôn của nhóm câu khiến, được thực hiện chủ yếu bằng cách sử dụng (nói ra/ phát ra) câu cau khiến có sắc thải ly trí hoặc tình cảm (hoặc cả ly trí và tình cam), khiến cho Sp2 có trách nhiệm thực hiện một hành động nào đó trong tương lai.
Theo đó, việc thỏa mãn các điều kiện thuận ngôn thuộc về khâu chuẩn bị, ad) việc nói ra lời câu khiên thuộc vê khâu thực hiện và việc Sp2 thực hiện hành động X theo mong muốn của Sp1 hay không thuộc về khâu hậu thực hiện. Van dé phân loại hành động cau khiến Có thê phân loại hành động cầu khiến từ nhiều góc độ hay cách tiếp cận khác nhau. Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Vũ Thị Thanh Hương căn cứ vào mức lợi thiệt mà Sp1 và Sp2 nhận được, đã phân ra hai loại: cầu khiến cạnh tranh và cầu khiến hoà dong [37]. Theo đó khi cầu khiến cạnh tranh, lợi ich của Sp2 tương phản tiêu cực với lợi ich của Spl- Sp2 thường bị thiệt, còn Sp1 thì được lợi hay chí ít cũng trung hoa; còn khi cầu khiến hoà đồng, lợi ích của Sp1 và Sp2 không trái ngược hoặc tương phản tích cực.
Có thé coi đây là phương án khả quan với những căn cứ xác đáng, phục vụ hữu ích cho việc nghiên cứu các chiến lược lịch sự. Từ góc độ ngữ dụng, tác giả Nguyễn Văn Độ- căn cứ vào bản chat của hành động X, chia thành hai loại: thinh cau để nhận được thông tin và thỉnh cau để nhận được hành động. Theo đó, “thỉnh câu dé nhận được thông tin là những phát ngôn tìm hiểu thông tin về một thực tế khách quan như thời gian, tin tức. Thinh cầu dé nhận được hành động là những phát ngôn có nội dung yêu cau người nghe thực hiện một hành động nào do.6T] ®) Vị từ tinh thai (modal verb) và vị từ tinh thái tính (modallity verb) không đồng nhất.
Vị từ tình thái tính (với một danh sách phong phú) có thê được miêu tả theo tham sô hiện thực, còn vị từ tình thái (với một số lượng ít 61) không thể miêu tả theo tham số này (xin xem [29, tr.129- 141]) 9 Tiểu từ tình thái (modal particle) là những yếu tố có nghĩa, thường rất ngắn gon, có tác dụng “biểu thi ý nghĩa bổ trợ cho phát ngôn (Platt J)” (dan theo [29, tr.137]) a Ũ Chúng tôi xin trở lại vấn đề này ở mục 1. Xác lập hành động cầu khiến d2 Do phạm vi có hạn, chúng tôi không đi sâu xem xét khâu hậu thực hiện của hành động cầu khiến 15 Từ góc độ ngữ nghĩa, tác giả Nguyễn Văn Hiệp căn cứ vào tính chủ quan của tình thái đạo nghĩa, cho rằng: cầu khiến là nhóm các hành động mà Spl “thé hiện ý chí, mong ước người nghe thực hiện hành động” [ 29, tr. Theo tinh thần đó, khi cầu khiến, Sp] hoàn toàn có thé dùng lý trí dé thể hiện ý chí, hoặc dùng tình cảm dé thé hiện mong ước Sp2 thực hiện hành động X trong tương lai. Trong công trình của mình, tác giả J.
Searle cũng thừa nhận sự tồn tại của hai yếu tố này khi phân tích điều kiện chân thành của hành động cầu khiến. Đây chính cơ sở khoa học để luận án chọn tham số Jj} tri, tinh cảm của Sp1 làm căn cứ phân loại nhóm hành động cầu khiến tiếng Việt. Kết quả thu được như sau: - Tiểu nhóm thiên lý trí: Sp1 dùng lý trí dé cầu khiến (gồm: lệnh, sai, ép buộc, yêu cầu, cắm đoán, giao (khoán), phân công, vòi vĩnh, đòi hỏi, đề nghị.) - Tiểu nhóm thiên tình cảm: Sp1 dùng tình cảm (quan hệ than cận) dé cầu khiến (gồm: cầu, xin, nài, van, nhờ, mời, rủ.) - Tiểu nhóm trung hòa: Sp1 kết hợp cả lý trí và tình cảm dé cầu khiến (gồm: khuyên, khuyến cáo, gợi ý, hướng dẫn, dặn đò, nhắc nhở. Luận án xem xét mỗi tiểu nhóm nêu trên là một phạm trù với các tính chất đặc trưng.
Các tính chất này được khai thác trên cơ sở hai tiêu chí: điều kiện thuận ngôn và dấu hiệu ngôn hành (hai tiêu chí này được giới thiệu kỹ trong mục 1. Dấu hiệu ngôn hành được khai thác theo trình tự giảm dan của tác dụng biểu thị lực ngôn trung, gồm: VTNH, từ ngữ (tổ hợp) chuyên dụng, kết cấu thông dụng. Riêng điều kiện thuận ngôn được xem xét trên cơ sở những yếu tô gây ra sự khác biệt, có tác dụng phân biệt hành động này với hành động khác, tiểu nhóm này với tiêu nhóm khác. Thực tế cho thấy tất cả các hành động cầu khiến đều giống nhau ở điều kiện căn bản (Sp1 quy cho Sp2 cái trách nhiệm thực hiện X) và một vài yếu tố của điều kiện chuẩn bị (Sp biết/ cho là Sp2 có khả năng thực hiện X, nếu Sp1 không nói ra thì không chắc Sp2 sẽ thực hiện X).
Chúng chỉ khác biệt ở những yếu t6 sau: - lợi ich do kết quả của việc thực hiện hành động X (điều kiện chuẩn bi) có thé thudc về Sp] (vi dụ: hành động cầu nguyện, nhờ, lệnh, yêu cau.); thudc về Sp2 (ví dụ: khuyên, can, khuyến cáo.