Luận án tiến sĩ nghiên cứu góc cánh cẳng tay ở trẻ em kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục điều trị di chứng khuỷu vẹo trong

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu góc cánh cẳng tay ở trẻ em kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục điều trị di chứng, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

182
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào góc cánh cẳng taytrẻ em và đánh giá kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục trong điều trị khuỷu vẹo trong. Biến dạng khuỷu vẹo trong là biến chứng phổ biến sau gãy xương ở trẻ em, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng khớp. Mục tiêu chính của nghiên cứu là khảo sát góc cánh cẳng taygóc Baumann trên lâm sàng và X-quang, đồng thời đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt xương chỉnh trục theo phương pháp French cải biên.

1.1. Bối cảnh và ý nghĩa

Biến dạng khuỷu vẹo trong thường xảy ra sau gãy xương ở trẻ em, với tỷ lệ từ 9-58%. Nghiên cứu này nhằm cung cấp dữ liệu về góc cánh cẳng taygóc Baumann ở trẻ em Việt Nam, đồng thời đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt xương chỉnh trục trong điều trị biến dạng này. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng điều trị và giảm thiểu biến chứng sau phẫu thuật.

1.2. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu có hai mục tiêu chính: (1) Khảo sát góc cánh cẳng taygóc Baumann ở trẻ em từ 6-15 tuổi; (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục trong điều trị khuỷu vẹo trong. Các chỉ số này được đo trên lâm sàng và X-quang để đảm bảo độ chính xác và khách quan.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả và phân tích dữ liệu từ các ca phẫu thuật cắt xương chỉnh trục ở trẻ em bị khuỷu vẹo trong. Các chỉ số góc cánh cẳng taygóc Baumann được đo trên lâm sàng và X-quang. Phương pháp phẫu thuật cắt xương hình chêm theo kỹ thuật French cải biên được áp dụng, với việc cố định bằng vít và néo số 8.

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em từ 6-15 tuổi bị khuỷu vẹo trong do chấn thương. Các trường hợp được lựa chọn dựa trên tiêu chuẩn lâm sàng và X-quang, đảm bảo tính đồng nhất và khách quan trong nghiên cứu.

2.2. Phương pháp đo lường

Các chỉ số góc cánh cẳng taygóc Baumann được đo trên lâm sàng bằng thước đo góc và trên X-quang bằng phần mềm chuyên dụng. Phương pháp đo lường được chuẩn hóa để đảm bảo độ chính xác và khả năng so sánh giữa các trường hợp.

III. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về góc cánh cẳng taygóc Baumann giữa nhóm bệnh nhân và nhóm đối chứng. Phẫu thuật cắt xương chỉnh trục đạt hiệu quả cao trong việc điều chỉnh biến dạng khuỷu vẹo trong, với tỷ lệ thành công trên 90%. Các biến chứng sau phẫu thuật được ghi nhận ở mức thấp, chủ yếu là nhiễm trùng nhẹ và tái phát biến dạng.

3.1. Kết quả đo lường

Góc cánh cẳng taygóc Baumann ở trẻ em bình thường dao động trong khoảng 10-15 độ. Ở nhóm bệnh nhân, các chỉ số này thay đổi đáng kể, phản ánh mức độ biến dạng khuỷu vẹo trong. Kết quả đo lường trên X-quang và lâm sàng có sự tương đồng cao, khẳng định tính khách quan của phương pháp nghiên cứu.

3.2. Hiệu quả phẫu thuật

Phẫu thuật cắt xương chỉnh trục đạt tỷ lệ thành công cao, với hơn 90% bệnh nhân có sự cải thiện rõ rệt về thẩm mỹ và chức năng khớp. Các biến chứng như nhiễm trùng và tái phát biến dạng được ghi nhận ở mức thấp, chứng tỏ tính an toàn và hiệu quả của phương pháp này.

IV. Bàn luận và kết luận

Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc đo lường góc cánh cẳng taygóc Baumann trong chẩn đoán và điều trị khuỷu vẹo trong ở trẻ em. Phẫu thuật cắt xương chỉnh trục theo phương pháp French cải biên là phương pháp hiệu quả và an toàn, mang lại kết quả tích cực về cả thẩm mỹ và chức năng khớp. Nghiên cứu cũng đề xuất các hướng cải tiến trong kỹ thuật phẫu thuật để giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng điều trị.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện chất lượng điều trị khuỷu vẹo trong ở trẻ em. Việc áp dụng phẫu thuật cắt xương chỉnh trục theo phương pháp French cải biên có thể giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị, đặc biệt là trong điều kiện y tế tại Việt Nam.

4.2. Hạn chế và hướng phát triển

Nghiên cứu có một số hạn chế như kích thước mẫu nhỏ và thời gian theo dõi ngắn. Cần có các nghiên cứu dài hạn và quy mô lớn hơn để khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này. Đồng thời, cần nghiên cứu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật như tuổi tác, mức độ biến dạng và kỹ thuật phẫu thuật.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu góc cánh cẳng tay ở trẻ em kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục điều trị di chứng khuỷu vẹo trong

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Biến dạng khuỷu vẹo trong (cubitus varus) là một biến chứng muộn hay gặp sau gãy trên lồi cầu và gãy khối lồi cầu xương cánh tay ở trẻ em. Theo các báo cáo của nhiều tác giả trên thế giới, tỷ lệ biến chứng này dao động trong khoảng từ 9 - 58%, trung bình là 30 % và độ tuổi hay gặp nhất là từ 5 - 15 tuổi [1]. Biến dạng khủy vẹo trong tuy ít ảnh hưởng đến chức năng khớp khuỷu nhưng về thẩm mỹ thì không thể chấp nhận được [2]. Nguyên nhân sớm của biến chứng này là do nắn chỉnh không hết các di lệch, vẫn còn di lệch gấp góc, di lệch xoay trong; nguyên nhân muộn là do hoại tử hoặc kém phát triển của lồi cầu trong.

Di lệch mở góc vào trong là biến dạng có vai trò quyết định, bên cạnh đó di lệch xoay trong cũng góp một phần quan trọng [1], [3]. Đánh giá mức độ biến dạng khuỷu vẹo trong thông qua sự thay đổi của góc mang khuỷu tay là cần thiết, đặc biệt là các trường hợp chấn thương vùng khuỷu có ảnh hưởng đến vận động của khớp. Góc mang hay còn gọi là góc cánh cẳng tay được định nghĩa là góc được tạo bởi trục của cánh tay và trục của cẳng tay trên mặt phẳng trán khi cẳng tay ở tư thế ngửa và khuỷu tay duỗi hoàn toàn. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khảo sát góc cánh cẳng tay và góc Baumann ở người bình thường theo cách đo trên lâm sàng và đo trên phim chụp X quang khớp khuỷu.

Kết quả những nghiên cứu này đều cho thấy ở trẻ em bình thường, các số đo của góc cánh cẳng tay và góc Baumann đo trên lâm sàng và trên phim chụp X quang khác nhau không có ý nghĩa thống kê, đồng thời số đo các góc này có thay đổi theo tuổi, giới, mức độ duỗi quá mức của khớp khuỷu, chiều cao và bên tay thuận… Biến dạng khuỷu vẹo trong là biến dạng theo 3 chiều không gian, trong đó hai biến dạng xoay trong và biến dạng ưỡn quá mức của khuỷu thường được bù trừ tốt và trong sinh hoạt cũng khó phát hiện được. Riêng biến dạng khuỷu vẹo trong thường dễ dàng nhận ra và cũng không được bù đắp bằng các động tác của khớp vai; biến dạng này gây ảnh hưởng về thẩm mỹ và lâu dài có thể gây mất vững khớp khuỷu, tổn thương thứ phát thần kinh trụ hoặc thần kinh liên cốt trước [4], [5]. Về mặt lí thuyết, để điều trị biến dạng khuỷu vẹo trong cần phải chỉnh sửa tất cả các biến dạng theo 3 chiều không gian, nhưng các nghiên cứu của 2 Takeyasu Y. và cộng sự (2012) và Tricot M.

và cộng sự (2013) cho rằng phẫu thuật chỉnh sửa các biến dạng theo 3 chiều không gian về hiệu quả không hơn gì so với chỉnh sửa biến dạng khuỷu vẹo trong trên 1 mặt phẳng đứng ngang (coronal plane) [6], [7]. Nhiều kỹ thuật cắt xương ở đầu dưới xương cánh tay để chỉnh sửa biến dạng khuỷu vẹo trong đã được đề xuất áp dụng, trong đó phương pháp cắt xương hình chêm do French đề xuất và Bellemore cải biên được đánh giá là an toàn, hiệu quả và ít nguy cơ biến chứng hơn. French đề xuất kỹ thuật cắt tam giác chêm xương ở thành ngoài và cố định bằng 2 vít kết hợp với buộc néo ép số 8. Bellemore đã cải biên kỹ thuật của cắt xương của French bằng cách giữ lại vỏ xương ở thành trong còn dính cốt mạc, chỉ bẻ gãy rồi sau đó kết xương theo kỹ thuật giống như French đã mô tả.

Ở Việt Nam, phẫu thuật điều trị di chứng vẹo khuỷu trong ở trẻ em đã được triển khai từ nhiều năm qua tại các Bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương với nhiều kỹ thuật khác nhau. Có thể kể ra một số nghiên cứu đã được tổng kết ở trong nước trong thời gian qua như nghiên cứu cắt xương hình chêm, chỉnh trục và cố định ổ cắt xương bằng cọc ép ren ngược chiều của Nguyên Văn Nhân, Lê văn Hội (1997), nghiên cứu tổng kết cắt xương chỉnh trục và kết xương nẹp vít ở trẻ em của Lê Bá Minh và nghiên cứu cố định một bên bằng cọc ép ren ngược chiều của Lê Văn Hội,. Trong thực tế, khi phẫu thuật cắt xương theo kỹ thuật French cải biên để chỉnh biến dạng khuỷu vẹo trong ở trẻ em, vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra và cần sự giải đáp một cách khoa học làm cơ sở để việc chỉ định mổ như sự chênh lệch góc cánh cẳng tay so với bên lành đến mức nào thì mổ, độ tuổi nào có thể áp dụng kỹ thuật này, chọn góc cắt xương hình chêm như thế nào để ít biến dạng tái phát,vị trí cắt xương, bắt vít và cố định bột sau mổ… Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi đã triển khai thực hiện đề tài: “Nghiên cứu góc cánh – cẳng tay ở trẻ em, kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục điều trị di chứng khuỷu vẹo trong”. Với hai mục tiêu nghiên cứu: 1.

Khảo sát góc cánh cẳng tay, góc Baumann trên lâm sàng và X quang ở trẻ em trong độ tuổi từ 6 – 15. Đánh giá kết quả điều trị di chứng khuỷu vẹo trong ở trẻ em bằng phẫu thuật cắt xương chỉnh trục kết hợp xương theo phương pháp French cải biên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu vùng khuỷu và chức năng khớp khuỷu Khuỷu nối tiếp giữa cánh tay và cẳng tay, mặt trước là nếp gấp khuỷu, mặt sau là khu mỏm khuỷu.

Khớp khuỷu Khớp khuỷu là tổ hợp bao gồm 3 khớp: khớp cánh tay trụ (khớp ròng rọc), khớp cánh tay quay (khớp lồi cầu) và khớp quay trụ trên. Là một khớp gấp duỗi cẳng tay vào cánh tay. * Diện khớp - Đầu dưới xương cánh tay dẹt theo chiều trước sau, hơi bè rộng ra hai bên và hơi cong lồi ra sau, mở góc ra trước một góc khoảng 15°. Đầu dưới xương cánh tay gồm khối lồi cầu (ở ngoài) và khối ròng rọc (ở trong).

Sườn trong của ròng rọc dài và đứng hơn sườn ngoài. Ở trên ròng rọc, phía trước có hố vẹt và phía sau có hố khuỷu. Ở phía trên các diện khớp có 2 mỏm: mỏm trên ròng rọc và mỏm trên lồi cầu. và công sự (1990) đưa ra công thức tính chỉ số lồi cầu ngoài (the lateral condylar prominence index).

Chỉ số này được tính như sau: LCPI = (AB – BC) / AC (%). Đây là một chỉ số quan trọng nếu chúng ta đánh giá chỉ số này trước và sau khi liền xương trong cắt xương chỉnh trục điều trị khuỷu vẹo trong [8]. Minh hoạ cách tính chỉ số lồi cầu ngoài trên X quang * Nguồn:Verka P. và cộng sự (2017) [9] - Đầu trên xương trụ: hình cái móc mà ngành sau là mỏm khuỷu, ngành trước là mỏm vẹt và ở giữa là diện khớp sigma lớn (hõm sigma lớn).

Ở phía bên ngoài đầu trên xương trụ có hõm quay (hay hõm sigma bé), tiếp khớp với diện vành khăn của chỏm xương quay. Mỏm khuỷu khớp vào hố khuỷu ở xương cánh tay khi cẳng tay duỗi, và thấy ở trên mỏm một lõm ngang, hai bên mõm là hai rãnh bên. Bình thường mỏm khuỷu nằm ở trên đường ngang với mỏm trên ròng rọc và mỏm trên lồi cầu ở tư thế khuỷu duỗi hoàn toàn (đường Hueter). - Chỏm xương quay có đài quay lõm xuống và tiếp khớp với diện khớp lồi cầu đầu dưới xương cánh tay.

Xung quanh chỏm tiếp khớp với hõm sigma bé của xương trụ. Cấu trúc giải phẫu các xương vùng khuỷu * Nguồn: Theo Netter F. (2017) [10] Sự cốt hóa đầu dưới xương cánh tay [11] Ở trẻ em, các đầu xương được tạo bởi các sụn tiếp hợp, quyết định chiều dài và hình thái xương ở tuổi trưởng thành. Khi mới sinh khớp khuỷu được cấu tạo hoàn toàn bởi cấu trúc sụn không cản quang.

Các điểm cốt hóa xuất hiện từng bước theo sự phát triển cuả trẻ và khác nhau một chút về tuổi xuất hiện giữa trẻ nam và trẻ nữ. Đầu dưới xương cánh tay có 4 tâm cốt hóa: - Điểm lồi cầu ngoài phát hiện lúc 2 tuổi. Là điểm cốt hóa đầu tiên bắt đầu xuất hiện từ tuổi thứ 3 chậm nhất là sau 2 tuổi, lúc đầu ở dạng hình cầu, giống như ròng rọc và lồi cầu trong. Nhìn từ phía bên trong, có vẻ lồi cầu ngoài biến dạng bán trật ra trước so với đầu dưới xương cánh tay.

Lồi cầu cốt hóa hoàn toàn ở tuổi 13- 14. - Điểm mỏm trên ròng rọc phát hiện lúc 6 tuổi. Mỏm trên ròng rọc có thể nhìn thấy trên phim X quang lúc 4-5 tuổi và là điểm cốt hóa muộn nhất ở đầu dưới xương cánh tay. 6 - Điểm ròng rọc: phát hiện lúc 8 tuổi và cốt hóa trong khoảng từ 8-15 tuổi.

Có 3 điểm cốt hóa ở ròng rọc nằm trong các vòng sụn. - Điểm mỏm trên lồi cầu ngoài phát hiện lúc 10 tuổi. Điểm cốt hóa này có cấu trúc dạng hình Elips, đặc điểm này làm cho dễ bỏ sót gãy xương ở đầu dưới xương cánh tay (Hình 1. Ngoài ra chỏm quay bắt đầu cốt hóa từ lúc 3-6 tuổi.

Các điểm cốt hóa chỉ dính hoàn toàn vào thân xương ở giai đoan trưởng thành, lúc 19-20 tuổi. Minh hoạ sự xuất hiện các điểm cốt hoá đầu dưới xương cánh tay * Nguồn: theo DeFroda S. và cộng sự (2017) [11] Sụn tiếp hợp đầu dưới xương cánh tay Sụn tiếp hợp là chỗ nối giữa đầu xương và thân xương cánh tay có vai trò quan trọng đến sự phát triển chiều dài của xương và được chia làm bốn khu vực [12]: 7 - Khu vực 1: Gồm các tế bào mầm nằm sát với bản xương. Đây là các tế bào không biệt hóa được nuôi dưỡng bởi động mạch đầu xương.

Thương tổn lớp tế bào này làm ngừng sự phát triển của sụn tiếp hợp. - Khu vực 2: Nằm sát khu vực 1, gồm các tế bào sụn phát triển nhanh, được nuôi dưỡng bởi động mạch đầu xương. Khu vực này đáp ứng cho xương phát triển theo chiều dài. Do đó khi gãy trên lồi cầu xương cánh tay hoặc khối lồi cầu lam tổn thương sụn khu vực này sẽ gây biến dạng vùng khuỷu.

- Khu vực 3: Gồm các tế bào nở to, là các tế bào sụn dần dần canci hóa. Khu vực này được nuôi bằng động mạch nuôi từ hành xương và không có hoạt động phát triển ở đây. Đây là vùng yếu nhất của sụn tiếp hợp. Các thương tổn của sụn thường nằm ở khu vực này.

- Khu vực 4: Bao gồm các tế bào cốt hóa tạm thời. Chúng được cấp máu từ động mạch nuôi của hành xương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu góc cánh cẳng tay ở trẻ em: Kết quả phẫu thuật cắt xương chỉnh trục điều trị khuỷu vẹo trong là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phẫu thuật cắt xương chỉnh trục trong điều trị tình trạng khuỷu vẹo trong ở trẻ em. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin chi tiết về phương pháp phẫu thuật, kết quả lâm sàng, và các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của quy trình điều trị. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình và những người quan tâm đến lĩnh vực phẫu thuật nhi khoa.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phẫu thuật hiện đại, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu quy trình kỹ thuật điều trị phẫu thuật gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay bằng đinh metaizeau, tài liệu này đi sâu vào quy trình kỹ thuật điều trị gãy xương cánh tay. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải cung cấp thêm góc nhìn về các phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn. Cuối cùng, Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng phẫu thuật trong điều trị các bệnh lý phức tạp.

Các tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức chuyên môn mà còn mang đến cái nhìn toàn diện về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học hiện đại.