Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Hành động ngôn từ, hành động cầu khiến, hành động hỏi 1. Hành động ngôn từ Khi tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu hành động ngôn từ, người ta cho rằng nhà triết học người Áo L. Wittgenstein là người đặt tiền đề, tiên phong cho lý thuyết này.
Ông đồng nhất hoạt động giao tiếp của con người với hoạt động xã hội và việc sử dụng lời nói như một hành động. Tuy nhiên, tất cả những đóng góp của ông chỉ dừng lại ở việc tìm ra những quy tắc nhất định khi con người sử dụng lời nói. Wittgenstein là người đặt tiền đề thì nhà triết học người Anh - J. L Austin (1911 - 1960) là người có công đầu tiên trong việc xây dựng lý thuyết HĐNT.
Tác phẩm “How to do things with words” (Nói là hành động) của ông ra đời vào năm 1962 đã trình bày những quan điểm “To say is to do something” (Nói là làm). Khác với các nhà ngôn ngữ học truyền thống, ông cho rằng, một phát ngôn không chỉ được đánh giá đúng - sai theo tiêu chuẩn của logic, ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hay miêu tả cái gì đó mà nó còn được dùng để thể hiện hành động, có nghĩa “nói cũng chính là làm”. Theo lý thuyết của ông, khi phát ngôn là người nói đã thực hiện một hành động ngôn từ, tức mọi phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành, có hiệu lực ngôn trung trong những tình huống giao tiếp cụ thể. Khi chúng ta tạo lập một phát ngôn thì đồng thời cũng thực hiện hành động đó ngay trong phát ngôn, thông qua chính phát ngôn, chẳng hạn như thông báo, tuyên bố, hứa hẹn, chúc mừng,.
Đó là những hành động được thực hiện bằng ngôn từ và được gọi là hành động ngôn từ (speech act). Lộ trình để Austin trình bày cốt lõi lý thuyết của ông là: i) phân biệt câu nhận định và câu ngôn hành; ii) khẳng định mọi câu đều mang bản chất hành động và đưa ra giả thuyết ngôn hành; iii) công nhận thất bại của giả thuyết ngôn hành. Khẳng định rằng khi thực hiện mỗi HĐNT là ta thực hiện đồng thời ba hành động: hành động tạo lời (locutionary act), hành động tại lời (illocutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act). Searle là người kế thừa và phát triển lý thuyết hành động ngôn từ của J.
Ông đặc biệt quan tâm đến người nói và điều được nói và đưa ra khái niệm hành động ngôn từ gián tiếp. Trong nghiên cứu của mình, J. 21) đưa ra quan điểm “một hành động ngôn từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện bằng hình thức của một hành động ngôn từ khác”, nghĩa là một hành động tại lời được thực hiện gián tiếp phải thông qua một hành động tại lời khác. Thực hiện một HĐNT là thực hiện đồng thời ba hành động: hành động phát ngôn (utterance act), hành động mệnh đề (propositional act), hành động tại lời (illocutionary act).
Các nghiên cứu về HĐNT sau này tuy với những hướng tiếp cận, mục đích riêng nhưng hầu như đều lấy lý thuyết của hai học giả Châu Âu này làm cơ sở. Hành động cầu khiến 1. Lý thuyết hành động cầu khiến Trong các nghiên cứu về HĐNT, tác giả J. Searle cũng đã có những đề cập đến hành động cầu khiến (HĐCK) với tư cách là một HĐNT.
Searle (1979) cho rằng HĐCK “là những cố gắng của sp1 sao cho sp2 thực hiện một việc gì đó. Nó có thể là những cố gắng ở mức độ thấp ví như khi ta gợi ý một ai đó làm việc gì, nhưng cũng có khi là những cố gắng ở mức độ cao (cương quyết) như khi ta tỏ rõ là nhất thiết ai đó phải làm một việc cụ thể nào đấy.”, Như vậy, có thể thấy theo J. Searle thì cầu khiến là một loạt hành động xét theo mức độ ép buộc của sp1 đối với sp2 đi từ thấp đến cao hoặc ngược lại. Nguyễn Thiện Giáp (2000, tr 48) trong Dụng học Việt ngữ cho rằng: “Cầu khiến là hành động mà người nói sử dụng để khiến người nghe làm cái gì đó.
Hành động này thể hiện ở những câu mà nhờ chúng mà người nói khiến cho người nghe làm một việc gì. Thuộc nhóm này có các hành động như: đề nghị, yêu cầu, cho phép, ra lệnh, mời mọc, rủ rê, thỉnh cầu, khuyên, cấm đoán, hỏi, chỉ thị,…”. Phát ngôn cầu khiến là những phát ngôn của sp1 có lực ngôn trung tác động đến sp2 với mục đích điều khiển sp2 thực hiện hành động X, với hình thức là sự có mặt của 9 một hoặc một vài dấu hiệu ngôn hành. Từ đó chúng tôi chọn quan điểm của J.
Searle (1979) để làm cơ sở phân tích và miêu tả các hành động cầu khiến. Theo đó, hành động cầu khiến là những cố gắng của sp1 sao cho sp2 thực hiện một việc gì đó. Đó có thể là những cố gắng ở mức độ thấp, ví dụ như khi ta gợi ý ai đó làm việc gì, nhưng cũng có khi là những cố gắng ở mức độ cao như khi ta tỏ rõ sự cương quyết buộc ai đó phải làm một việc cụ thể nào đó. Trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng khái niệm hành động cầu khiến theo quan điểm của các nhà ngữ dụng học, đó là nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động tại lời trong phát ngôn cầu khiến.
Phân loại hành động cầu khiến J.Searle cho rằng: “…khi sử dụng ngôn ngữ chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về những đối tượng, những thực thể, sự kiện. mà chúng ta còn thực hiện những chức năng như: yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi,. Chúng ta chỉ có thể nhận dạng ra Hành động ngôn từ do một phát ngôn nào đó thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn diễn ra. Tác giả Đào Thanh Lan (2010, tr 47) trong cuốn Ngữ pháp - ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt đã định nghĩa như sau: “Hành động trực tiếp/hiển ngôn là hành động tạo ra đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó tức là bằng phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung trực tiếp.
Hành động trực tiếp tạo ra lời trực tiếp/chính danh. Hành động gián tiếp/hàm ngôn là hành động mà đích ngôn trung không được biểu hiện trực tiếp bằng các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó mà đuợc biểu hiện gián tiếp thông qua dấu hiệu hình thức của hành động khác (hành động dẫn nhập) tạo ra hàm ý của lời được người nghe nhận diện bằng thao tác suy ý trên cơ sở ngữ nghĩa và ngữ cảnh (bao gồm bối cảnh giao tiếp và thể chế, uớc chế xã hội đã được mã hóa). Hành động gián tiếp tạo ra lời gián tiếp/hàm ngôn. Tác giả Diệp Quang Ban (2012) trong cuốn Giao tiếp, Diễn ngôn và Cấu tạo của văn bản viết: “Khi một kiểu câu được dùng đúng với chức năng vốn có của nó thì nó hoạt động với tư cách hành động nói trực tiếp (direct speech act); khi một kiểu câu hoạt 10 động với một chức năng không phải vốn có của kiểu câu đó thì nó hoạt động với tư cách hành động nói gián tiếp (indirect speech act).
Dựa trên các phương tiện đánh dấu lực ngôn trung (IFIDs - illocutionary force indicating device), J. Searle cho rằng, cách dùng một hình thức phát ngôn này để đạt một mục đích phát ngôn khác được gọi bằng thuật ngữ hành động ngôn từ gián tiếp (indirect speech acts), tức trường hợp không có phương tiện đánh dấu điển hình, mà mượn phương tiện đánh dấu của một loại hành động ngôn từ khác. Hành động cầu khiến (HĐCK) mang bản chất tín hiệu, mỗi nhóm hành động hay mỗi hành động cụ thể đều có hai mặt: cái biểu đạt (hình thức) và cái được biểu đạt (nội dung khái niệm). Cái biểu đạt chỉ có giá trị khi phản ánh cái được biểu đạt và cái được biểu đạt chỉ có thể thể hiện thông qua cái biểu đạt.
Từ những dấu hiệu hình thức có tính quy luật (dấu hiệu ngôn hành), có thể tìm ra bản chất của hành động. Ngoài ra, các HĐCK còn chịu sự chi phối của điều kiện thuận ngôn - những điều kiện quy định sự thành công hay thất bại của quá trình thực hiện HĐCK. Hành động hỏi Hỏi là một trong những loại hành động ngôn từ có chức năng quan trọng. Nó không những được sử dụng với chức năng hỏi chính danh mà còn được sử dụng gián tiếp cho các chức năng biểu đạt khác, trong đó có chức năng cầu khiến.
Trong nghiên cứu này, hành động hỏi mang chức năng cầu khiến chúng tôi gọi tắt là “hành động hỏi - cầu khiến”. Có nhiều định nghĩa về hành động hỏi theo quan điểm ngữ dụng, nhưng chúng tôi lựa chọn giới thiệu định nghĩa về hành động hỏi của hai tác giả điển hình sau đây để làm cơ sở cho việc nhận diện: Kerbrat-Orecchioni (1991) cho rằng câu hỏi là phát ngôn được đưa ra nhằm mục đích chính là nhận được một thông tin từ người được hỏi. Cao Xuân Hạo (1991) lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ quy chiếu và dựa trên khái niệm giá trị ngôn trung, đã định nghĩa câu hỏi chính danh như sau: Câu hỏi chính danh là những câu hỏi yêu cầu một câu trả lời thông báo về một sự tình hay về một tham tố nào đó của 11 một sự tình được tiền giả định là hiện thực. Hai định nghĩa trên của hai tác giả có quốc tịch khác nhau, dựa trên các ngôn ngữ quy chiếu khác nhau, được công bố cùng một thời điểm (1991), có sự trùng hợp về quan điểm.
Tìm hiểu về sự trùng hợp về quan điểm này chúng tôi thấy hai tác giả trên đã chia sẻ quan điểm nghiên cứu về câu hỏi chính danh1 với các nhà nghiên cứu đi trước như Borillo, Schegloff, Ducro, và Gofman. Như vậy, thông thường người ta dùng câu hỏi để nêu ra vấn đề chưa biết hoặc còn hoài nghi, cần được trả lời, giải thích. Thế nhưng, nhiều khi, người ta lại dùng câu hỏi với mục đích ngôn trung khác, câu hỏi có giá trị cầu khiến. Về vấn đề này, Searle cũng từng nhận xét: Khi một câu có hình thức hỏi nhưng không yêu cầu cung cấp một thông báo nào tương ứng với nội dung câu hỏi thì giá trị ngôn trung của nó thay đổi, nó trở thành hành động ngôn từ khác, và Searle gọi những trường hợp này là hành động ngôn từ gián tiếp.
Về giảng dạy hành động ngôn từ theo quan điểm giao tiếp Ở Việt Nam, vấn đề về dạy - học ngoại ngữ nói chung và dạy - học ngoại ngữ theo năng lực giao tiếp nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ rất lâu.