LỜI MỞ ĐẦU Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đánh dấu một sự khởi đầu của những nỗ lực trên toàn cầu nhằm cải thiện hiệu quả của việc giám sát tài chính. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng trở lại vào năm 2007 - 2008 một lần nữa làm thức tỉnh những nỗ lực của các tổ chức kinh tế và các quốc gia,những cải trƣớc cuộc khủng hoảng 2007 dƣờng nhƣ không thể giúp tránh hoặc giảm nhẹ các cuộc khủng hoảng tiếp theo. Luận văn này tổng hợp những nghiên cứu và đƣa ra những phân tích một cách có hệ thống đầu tiên về vai trò của sự thay đổi trong cơ cấu giám sát tài chính cũng nhƣ quản trị giám sát tài chính, và kết luận rằng những nỗ lực này không có tác dụng đối với khả năng phục hồi của nền kinh tế. Qua việc sử dụng những khác biệt rõ rệt giữa giám sát vi mô và vĩ mô, luận văn đúc kết rằng cần duy trì hai hệ thống tổ chức tách biệt nhằm kiểm tra và cân bằng tốt hơn để cải thiện hoạt động quản trị giám sát, qua đó làm giảm tỉ lệ thất bại của giám sát tài chính.
2 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, các quốc gia liên quan, tổ chức Tài chính quốc tế (IFI), cũng nhƣ giới nghiên cứu đã dành nhiều công sức để cải thiện chất lƣợng của các quy định và khung giám sát tài chính. Việc kết hợp giữa khung pháp lý chặt chẽ hơn và giám sát tài chính hiệu quả hơn đƣợc kì vọng sẽ giúp tránh hoặc giảm thiểu ảnh hƣởng của những cuộc khủng hoảng tài chính kế tiếp có thể xảy ra. Những sáng kiến liên tục đã đƣợc nghiên cứu và quan tâm nhƣ “Nguyên tắc cốt lõi để giám sát ngân hàng hiệu quả” (BCPs) của tổ chức Basel, sáng kiến mới về “Chƣơng trình đánh giá khu vực tài chính của ngân hàng thế giới” của IMF, hay nghiên cứu khung pháp lý của Basel II.
Trên phạm vi quốc tế, những nỗ lực của một số chính quyền quốc gia đang tập trung vào việc sửa đổi cơ cấu giám sát nhằm nâng cao hiệu quả giám sát. Trào lƣu của những cải thiện này đƣợc khơi mào ở Anh từ việc hợp nhất tất cả các tổ chức giám sát tài chính của họ thành cơ quan dịch vụ tài chính (FSA) vào năm 1997. Sau đó, sự lắng xuống của cuộc khủng hoảng dẫn đến những tranh luận khác về việc sửa đổi cơ cấu giám sát quốc gia. Cuối cùng, những công trình này cũng đƣợc tiến hành để tăng cƣờng việc quản trị các cơ quan giám sát.
Mặc dù không đƣa ra kết luận, nhƣng một số nghiên cứu trƣớc năm 2007 cho thấy việc thực hiện nguyên tắc cốt lõi để giám sát ngân hàng hiệu quả (BCPs), quản trị giám sát và giám sát hợp nhất tốt hơn sẽ tạo ra tác động tích cực đối với một khu vực tài chính ổn định và lành mạnh. Chính vì vậy, những cải tiến này ngày càng đƣợc kì vọng sẽ giảm thiểu bất kì cuộc khủng hoảng tài chính nào có thể xảy ra trong tƣơng lai. 3 Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế bắt đầu vào năm 2007 đã dập tắt niềm hy vọng này. Các học giả và các nhà hoạch định chính sách đã đề cập sự thất bại trong giám sát là một trong những nguyên nhân chính, bên cạnh yếu tố kinh tế vĩ mô, sai lầm trong quản lý và sai lầm trong các bộ phận của quản trị hệ thống tài chính nhƣ thực hành kế toán và tính minh bạch.
Mục tiêu của bài nghiên cứu này gồm hai phần: Thứ nhất, tác giả tổng hợp các kết quả kiểm tra thực nghiệm mới nhất của nhóm nghiên cứu Donato Masciandaro, Rosaria Vega Pansini, Marc Quintyn (thành viên độc lập của IMF) về ảnh hƣởng của những nỗ lực tăng cƣờng giám sát bao gồm sự thay đổi trong cơ cấu giám sát và quản trị giám sát (vấn đề quan trọng trong chƣơng trình nghị sự của các quốc gia) đối với sự phục hồi của nền kinh tế. Tác giả muốn giới thiệu các kết quả thực nghiệm chính đƣợc khảo sát bởi các thành viên độc lập của IMF, và có thể đƣợc tóm tắt nhƣ sau: (i) Những sửa đổi đƣợc đƣa ra trong giám sát tài chính bao gồm mô hình giám sát hợp nhất và sắp xếp quản trị tốt hơn không có ảnh hƣởng tích cực đối với sự phục hồi của nền kinh tế. (ii) Kết quả thực nghiệm cũng tìm ra rằng chất lƣợng quản trị khu vực công và mức độ tự do hóa tài chính cũng không tác động đến sự phục hồi kinh tế đối với cuộc khủng hoảng này. (iii) Mức độ tham gia của ngân hàng trung ƣơng không có bất kì tác động đáng kể nào đến khả năng phục hồi.
Thứ hai, luận văn đƣa ra kết luận rằng hƣớng giám sát hợp nhất cho các lĩnh vực và sắp xếp quản trị tốt hơn đều không ảnh hƣởng tích cực đến sự 4 phục hồi của nền kinh tế, đồng thời xem xét các đề nghị đã đƣợc đƣa ra để cải thiện hiệu quả giám sát. Ngoài ra, luận văn cũng đề nghị nên tiến hành giám sát thông qua hai cơ quan riêng biệt (một cho giám sát vĩ mô và một cho giám sát vi mô) để cân nhắc và kiểm tra cần thiết trong quá trình giám sát nhằm làm tăng hiệu quả của quản trị giám sát. Đề tài nghiên cứu là tƣ liệu tham khảo hữu ích để các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách cân nhắc để điều chỉnh mô hình giám sát tài chính phù hợp, hiệu quả, tránh lập lại sai lầm ở các quốc gia khác nhằm tái cấu trúc nền tài chính của Việt Nam hiện nay và hƣớng đến một hệ thống tài chính chuyên nghiệp và hiệu quả sao cho xứng tầm với sự phát triển chung của kinh tế đất nƣớc. Đổi mới, hoàn thiện và xây dựng đƣợc hoạt động giám sát tài chính một cách tổng thể cho Việt Nam chính là nền tảng căn bản cho mọi ngành nghề khác của đất nƣớc cùng phát triển theo, hƣớng đến một nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững và lâu dài.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò giám sát tài chính trong khủng hoảng kinh tế của các nƣớc trên thế giới và đề cập sâu những hƣớng khác nhau với cách tiếp cận có hệ thống về cấu trúc giám sát, quản lý giám sát và vai trò ảnh hƣởng của nó đối với tình hình kinh tế của một quốc gia. Luận văn không nghiên cứu những ảnh hƣởng của sự mất cân bằng kinh tế vĩ mô, sai lầm trong chính sách kinh tế vĩ mô, và sai lầm trong các bộ phận của quản trị hệ thống tài chính nhƣ thực hành kế toán và tính minh bạch có ảnh hƣởng đến khủng hoảng kinh tế. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn tổng hợp các lý luận đƣợc tổng kết từ kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các lý thuyết hiện đại về giám sát tài chính của các nhà nghiên cứu kinh tế. Trong quá trình nghiên cứu luận văn, phƣơng pháp nghiên cứu diễn dịch - quy nạp đƣợc vận dụng để đánh giá hoạt động, bản chất giám sát tài chính đối với sự khủng hoảng kinh tế thế giới.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng, đƣa ra đề xuất giải pháp về vấn đề giám sát tài chính tại các quốc gia và kiến nghị hoạt động giám sát tài chính tại Việt nam. Dữ liệu nghiên cứu: Luận văn tổng hợp các kết quả kiểm tra thực nghiệm mới nhất về ảnh hƣởng của những nỗ lực tăng cƣờng giám sát bao gồm sự thay đổi trong cơ cấu giám sát và quản trị giám sát đối với sự phục hồi của nền kinh tế. Phân tích thực nghiệm sử dụng một cơ sở dữ liệu mới và phức tạp về cơ cấu giám sát và quản trị giám sát của 102 quốc gia, cho phép phân biệt những ảnh hƣởng liên quan của tính năng giám sát (cấu trúc và quản trị) đối với khả năng phục hồi. Luận văn sử dụng dữ liệu đƣợc công bố chính thức từ cơ quan Chính phủ nhƣ Bộ Tài chính, Ủy Ban Giám sát tài chính quốc gia, các hãng tin uy tín trên thế giới nhƣ BMI (Business Monitor International), SSRN (Social Science Research Network), … các tƣ liệu từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành.
Nội dung luận văn: Luận văn này có cấu trúc nhƣ sau. Chƣơng 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu 6 Chƣơng 2: Khái niệm và cơ sở lý luận. Chƣơng 3: Vai trò của giám sát tài chính trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2008-2009 Chƣơng 4: Giám sát tài chính tại Việt nam Chƣơng 5: Trình bày kiến nghị về việc làm thế nào kết hợp cơ cấu giám sát và quản trị giám sát để thúc đẩy giám sát tốt hơn. 7 CHƢƠNG 2: KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Các khái niệm giám sát tài chính: (i) Khái niệm giám sát tài chính: Giám sát tài chính là sự giám sát của chính phủ đối với các tổ chức tài chính theo luật.
Mục tiêu nhằm phát huy những quy định hiện hành liên quan đến khu vực tài chính và mục tiêu là duy trì sự ổn định của thị trƣờng tài chính (Nguồn: Investor dictionary.com) Theo dự thảo của Bộ Tài Chính Việt Nam, “Giám sát tài chính là việc theo dõi, kiểm tra đánh giá các vấn đề về tài chính, chấp hành chính sách pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh”. (ii) Giám sát thận trọng vĩ mô: Giám sát vĩ mô tập trung giám sát vào sự ổn định của hệ thống tài chính một cách tổng thể, hơn là các thành phần của nó. Sự cần thiết của những quy định vĩ mô của hệ thống phát sinh bởi vì các hành động của các công ty đơn lẻ hành động thận trọng trong hƣớng dẫn chung có thể dẫn đến sự bất ổn của hệ thống tài chính. Ví dụ, nếu tất cả ngƣời cho vay hạn chế cho vay hoặc tất cả các công ty bán tài sản cùng một lúc.
(Nguồn: Qfinance - The Ultimate Financial Resource) Giám sát thận trọng vĩ mô tập trung vào các vấn đề chi tiết càng nhiều càng tốt. Ví dụ: một trong những mục tiêu liên quan đến chính sách thận trọng vĩ mô là để đảm bảo bong bóng về giá đƣợc định hƣớng (nhƣ thị trƣờng bất động sản), hoặc làm nguội chúng trƣớc khi gây hại đến sự ổn định của tài chính. Từ đó các tổ chức có nhiệm vụ đánh giá các rủi ro đối với sự ổn định của hệ thống tài chính và ƣu tiên các đề nghị để kìm chế hoặc loại bỏ chúng.