Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên và ứng dụng trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên, ứng dụng hiệu quả trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

185
4
2

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên

Nghiên cứu tập trung vào giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên, đặc biệt là nguồn gốc, số lượng, đường kính và hướng đi của các nhánh xuyên. Các nhánh xuyên này có vai trò quan trọng trong việc cấp máu cho vùng mông và được ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phẫu tích trên thi hài và hình ảnh học CLVT để xác định vị trí chính xác của các nhánh xuyên. Kết quả cho thấy các nhánh xuyên thường tập trung ở phần giữa của vùng mông, với số lượng và kích thước đa dạng tùy thuộc vào từng cá thể.

1.1. Nguồn gốc và số lượng mạch xuyên

Các mạch xuyên của động mạch mông trên thường bắt nguồn từ nhánh nông và nhánh sâu của động mạch này. Số lượng mạch xuyên dao động từ 2 đến 5 nhánh, với đường kính từ 0.5 đến 1.5 mm. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các mạch xuyên này có xu hướng tập trung ở phần giữa và dưới của vùng mông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế vạt da trong phẫu thuật.

1.2. Đường kính và chiều dài mạch xuyên

Đường kính và chiều dài của các mạch xuyên được đo đạc chi tiết trên cả thi hài và hình ảnh CLVT. Kết quả cho thấy đường kính trung bình của các mạch xuyên là 0.8 mm, với chiều dài trung bình khoảng 4 cm. Các thông số này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn và thiết kế vạt da phù hợp cho từng bệnh nhân.

II. Ứng dụng trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt

Nghiên cứu ứng dụng giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt, một bệnh lý phổ biến ở bệnh nhân bất động. Phương pháp sử dụng vạt da có cuống từ nhánh xuyên động mạch mông trên đã được áp dụng trên 8 bệnh nhân, cho kết quả khả quan với tỷ lệ thành công cao. Vạt da được thiết kế dựa trên vị trí và kích thước của các mạch xuyên, đảm bảo cấp máu đầy đủ và che phủ hiệu quả vết loét.

2.1. Đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị

Loét tỳ đè cùng cụt thường xảy ra ở bệnh nhân bất động lâu ngày, với nguyên nhân chính là áp lực kéo dài lên vùng cùng cụt. Các phương pháp điều trị bao gồm chăm sóc vết thương, phẫu thuật tái tạo mô, và sử dụng vạt da có cuống. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của vạt da từ nhánh xuyên động mạch mông trên trong việc che phủ vết loét và thúc đẩy quá trình lành thương.

2.2. Kết quả và biến chứng

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của phương pháp sử dụng vạt da từ nhánh xuyên động mạch mông trên là 87.5%, với thời gian lành thương trung bình là 3 tuần. Các biến chứng như nhiễm trùng hoặc hoại tử vạt da xảy ra ở 12.5% trường hợp, nhưng đều được xử lý kịp thời. Nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt.

III. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phẫu tích trên thi hài và hình ảnh học CLVT để xác định vị trí và đặc điểm của các mạch xuyên động mạch mông trên. Kết quả cho thấy các mạch xuyên thường tập trung ở phần giữa và dưới của vùng mông, với số lượng và kích thước đa dạng. Nghiên cứu cũng ứng dụng kết quả này trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt, với tỷ lệ thành công cao và ít biến chứng.

3.1. Phương pháp phẫu tích và hình ảnh học

Phương pháp phẫu tích trên thi hài và hình ảnh học CLVT được sử dụng để xác định vị trí và đặc điểm của các mạch xuyên động mạch mông trên. Kết quả cho thấy các mạch xuyên thường tập trung ở phần giữa và dưới của vùng mông, với số lượng và kích thước đa dạng. Phương pháp này cung cấp thông tin chính xác và chi tiết, hỗ trợ hiệu quả cho việc thiết kế vạt da trong phẫu thuật.

3.2. Kết quả ứng dụng lâm sàng

Kết quả ứng dụng lâm sàng cho thấy phương pháp sử dụng vạt da từ nhánh xuyên động mạch mông trên đạt tỷ lệ thành công cao, với thời gian lành thương nhanh và ít biến chứng. Nghiên cứu khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp này trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt, đồng thời mở ra hướng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn lâm sàng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên và ứng dụng trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu mạch xuyên động mạch mông trên 1. Đặc điểm giải phẫu vùng mông 1. Giới hạn và cấu tạo vùng mông Mông là một vùng quan trọng vì có nhiều thành phần mạch máu và thần kinh quan trọng từ chậu hông đi qua để xuống chi dưới [11], [12], [13].,vùng mông có hình gần vuông, lồi ở giữa do cơ mông lớn đội lên.

Ở vùng mông có 4 mốc xương lớn có thể sờ được: gai chậu sau trên ở phía trên trong; ụ ngồi ở phía dưới trong; gai chậu trước trên ở phía trên ngoài và mấu chuyển lớn ở phía dưới ngoài [14]. Vùng mông được giới hạn ở phía trên là mào chậu, đi từ gai chậu trước trên đến gai chậu sau trên, phân chia vùng mông với vùng thắt lưng. Ở phía dưới, nếp lằn mông ngăn cách vùng mông với vùng đùi sau. Ở phía trong là mào giữa xương cùng ngăn cách vùng mông với bên đối diện.

Ở phía ngoài là đường nối từ gai chậu trước trên đến mấu chuyển lớn [11]. Vùng mông nằm phía sau ngoài của xương chậu và đầu gần của xương đùi. Các cơ trong vùng này có chức năng chính là khép, duỗi và xoay ngoài đùi so với xương chậu. Ở mặt trước trong, vùng mông thông với hố chậu và phúc mạc qua lỗ ngồi lớn và lỗ ngồi bé.

Mặt dưới tiếp tục bởi phần sau của đùi.2 Da và tổ chức dưới da Trong lớp da và tổ chức dưới da có các thần kinh cảm giác, các thần kinh bì mông trên thuộc các thần kinh thắt lưng, các thần kinh bì mông giữa thuộc các thần kinh cùng và cụt. Các thần kinh bì mông dưới thuộc thần kinh bì đùi sau [1]. Mạc nông Mạc nông của vùng mông chia làm hai lá bọc lấy cơ mông lớn, mạc nông đi xuống dưới dính vào mạc đùi và đi ra ngoài dính với dải chậu chày và cơ căng mạc đùi [1]. Cơ vùng mông Theo Tuinder S.

và cộng sự, cơ ở vùng mông gồm ba cơ mông và các cơ khác đi từ xương chậu đến mấu chuyển lớn (các cơ chậu - mấu chuyển, gồm cơ hình lê, cơ bịt trong, các cơ sinh đôi, cơ vuông đùi). Phần trên cơ mông lớn trùm lên hai cơ mông khác còn phần dưới trùm lên các cơ chậu mấu chuyển. Mặt phẳng giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ chứa động mạch và thần kinh mông trên và là mặt phẳng dễ bóc tách. Mặt phẳng giữa cơ mông lớn và các cơ chậu hông mấu chuyển chứa nhiều mạch máu - thần kinh hơn (thần kinh ngồi, các mạch thần kinh mông dưới, mạch thẹn…) và khó bóc tách.

Cơ hình lê ngăn cách bó mạch - thần kinh mông trên với các mạch thần kinh còn lại của vùng mông. Cơ mông lớn được cấp máu bởi cả hai động mạch của vùng mông và thuộc cơ loại 3 theo phân loại của Mathes và Nahai. Phần trên được cấp máu bởi nhánh nông động mạch mông trên, phần dưới bởi động mạch mông dưới [15]. Cơ mông lớn là cơ mạnh nhất trong cơ thân người, hình chữ nhật, che phủ gần hết mông chỉ để hở phần trên phía ngoài, phần dưới phía trong của mông [12], [13].

Cơ mông lớn có nguyên ủy từ bờ ngoài xương cùng và phần sau mào chậu, và một phần bám vào xương cụt. Các sợi cơ chạy ra trước tới bám vào dải chậu chày và mấu chuyển lớn. Phần lớn sợi cơ bám vào dải chậu chày. Không giống với cơ mông nhỡ và cơ căng mạc đùi có sợi cơ chạy theo chiều thẳng đứng và có tác dụng dạng và xoay trong đùi, cơ mông lớn là cơ xoay ngoài mạnh nhất và là cơ duỗi đùi.

Các cơ vùng mông (lớp sâu) * Nguồn: theo Netter F. Động mạch máu cấp máu vùng mông Cơ mông lớn được cấp máu bởi động mạch mông trên và dưới. Động mạch mông trên là cuống mạch của vạt nhánh xuyên động mạch mông trên. + Động mạch mông trên Theo Tuinder S.

và cộng sự, động mạch mông trên là nhánh của động mạch chậu trong. Từ chậu hông, động mạch mông trên đi qua khuyết ngồi lớn để đi vào mông ở bờ trên cơ hình lê, dưới mặt sâu cơ mông lớn và tĩnh mạch mông trên [2]. Ở mông, động mạch mông trên chia ngay thành hai nhánh [11]: + Nhánh nông: đi giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ, phân nhánh vào cơ mông lớn và các nhánh xuyên cơ-da đi vào da phần trên của mông. + Nhánh sâu: đi giữa cơ mông nhỡ và cơ mông bé.

Có sự tiếp nối trong cơ mông lớn giữa nhánh của các động mạch mông trên và dưới. Các động mạch vùng mông *Nguồn: theo Netter F. (2006) [16] + Động mạch mông dưới Theo Tuinder S. và cộng sự, động mạch mông dưới là nhánh tận lớn của đoạn trước của động mạch chậu trong.

Động mạch mông dưới hướng xuống dưới, ra trước từ đám rối cùng và cơ hình lê, bên cạnh động mạch thẹn trong. Bên trong khung chậu nó cấp máu cho cơ hình lê, sàn chậu, lớp mỡ quanh hậu môn và các nhánh đến đáy bàng quang và đến túi tinh và tiền liệt tuyến. Nó đi ra khỏi lỗ chậu hông lớn dưới cơ hình lê, cấp máu cho cơ mông lớn, cơ bịt trong, cơ sinh đôi, cơ tứ đầu đùi và các dây chằng trên. Phần chậu ngoài của ĐM mông dưới thông nối với ĐM mông trên và với động mạch thẹn trong, động mạch bịt và động mạch mũ đùi giữa [15].

Đặc điểm mạch xuyên động mạch mông trên 1. Nguồn gốc và số lượng mạch xuyên Theo Park H. và cộng sự, trong một nghiên cứu trên người Hàn Quốc, số mạch xuyên trung bình từ cơ mông lớn ghi nhận được là 12,2 nhánh; với 37% các nhánh động mạch bắt nguồn từ động mạch mông trên (tức khoảng 4,5 nhánh), và các nhánh còn lại bắt nguồn từ động mạch mông dưới [17]. Theo Nguyễn Văn Thanh và cộng sự [18], [108], về mặt giải phẫu học mạch xuyên động mạch mông trên cấp máu cho vạt đã được nhiều nhà nghiên cứu như Koshima (1993), Boustred (1998), Tanvaa Tansatit (2008).

Trên đường đi, động 8 mạch đều cho nhánh nuôi cơ và nhánh xuyên nuôi da, chính các nhánh xuyên này sẽ cấp máu cho các vạt nhánh xuyên động mạch mông trên [19]. Số lượng nhánh xuyên cung cấp cho vạt nhánh xuyên động mạch mông trên để che phủ cho ổ loét cùng cụt thường là 2-3 nhánh trong nghiên cứu của Vũ Quang Vinh, Trần Vân Anh (2011) [20]. Các nghiên cứu phẫu tích trên thi thể cho thấy số lượng mạch xuyên từ động mạch mông trên dao động lớn, trung bình từ 3 đến 5 (dao động từ 1 đến 7) [15], [21]. Theo tác giả Ahmadzadeh và cộng sự thực hiện trên thi thể, đã đưa ra các kết luận: (a) vùng mông trên được cấp máu bởi 5±2 nhánh xuyên dưới da xuất phát từ động mạch mông trên, (b) với 50% mạch xuyên đi qua cơ mông lớn trong khi 50% còn lại đi qua cơ mông nhỡ [22].

Đường kính và chiều dài mạch xuyên Theo Tzeng Y. và cộng sự, chiều dài mạch xuyên dao động từ 3 đến 8cm và đường kính từ 1 đến 1,5mm [23]. Theo Ahmadzadeh và cộng sự, đường kính của các mạch xuyên mông trên trong khoảng từ 0,6-1,0mm và chiều dài cuống trung bình từ cân sâu là 23±11mm [22]. và cộng sự, phân loại nhánh động mạch mông trên được xếp thành 3 loại, đó là nhánh lên, ngang và xuống.

Đường kính ngoài trung bình của cuống và nhánh xuyên của nhánh ngang là lớn nhất (2,7 ± 0,6mm và 1,2 ± 0,2mm, lần lượt). Những nhánh xuyên thường được sắp xếp thành 1 hàng ở bờ ngoài cơ mông lớn [21]. Điều này trái với nghiên cứu của tác giả Koshima, ông đã mô tả những nhánh chính có đường kính lớn được tìm thấy ở vùng cận xương cùng và trung tâm của cơ mông. Bên cạnh đó, tác giả Koshima còn báo cáo số lượng nhánh xuyên cung cấp cho toàn bộ vùng mông là vào khoảng 20 tới 25 nhánh ở mỗi thi thể.

Độ dài của những mạch này vào khoảng từ 3 tới 8cm và đường kính chúng từ 1 tới 1,5mm [4]. Nghiên cứu này cho thấy rằng độ dài cuống từ 3 tới 11,5cm và đường kính ngoài của cuống từ 0,9 tới 4,0mm. Kết quả khác biệt có lẽ xuất phát từ mẫu khảo sát nhỏ của Koshima so với nghiên cứu hiện tại. Những nhánh này đi sâu vào trong và cấp máu cho cơ mông lớn và vùng da phủ 9 trên nó bằng những nhánh động mạch xuyên cơ da và vách da.

Ba trong 7 nhánh chính này là hằng định và phân phối nhánh cho cơ trong mặt phẳng mạc cơ giữa mặt dưới của cơ mông lớn và mặt trên của cơ mông nhỡ. Những nhánh xuyên được sắp xếp thành 1 đường thẳng dọc theo bờ tự do trên ngoài của cơ mông lớn. Những nhánh xuyên (p) xếp thành 1 hàng dọc theo bờ tự do trên ngoài cơ mông lớn * Nguồn: theo Tansatit T. Độ dài và đường kính ngoài của nhánh xuyên Nhánh Chiều dài (mm) Đường kính (mm) Đường kính (mm) Lên 4,6±0,8 (3,0-6,0) 2,4 ± 0,5 (1,4-3,5) 1,2 ± 0,3 (0,7-1,8) Ngang 6,4±1,3 (3,8-9,5) 2,7 ± 0,6 (1,2-4,0) 1,2 ± 0,2 (0,7-1,7) Xuống 7,3 ± 1,3 (4,8-11,5) 2,4 ± 0,6 (0,9-3,6) 1,1 ± 0,3 (0,5-1,7) Xuyên 5,3 ± 1,3 (3,0-8,7) 2,2 ± 0,5 (1,1-3,5) 1,1 ± 0,2 (0,7-1,7) * Nguồn: theo Tansatit T.

Hướng đi của mạch xuyên Theo Hashimoto I. và cộng sự, Động mạch mông trên cho các mạch xuyên nằm theo chiều dọc, đi thẳng vào mô nông trên cơ. Thông thường nhánh xuyên nằm ngoài được ưa chuộng hơn vì chúng cho một cuống mạch dài hơn sau bóc tách nhánh xuyên và mạch máu chính [24]. và cộng sự, các nhánh xuyên nuôi dưỡng phần giữa mông đi trong cơ đoạn ngắn trong khi các nhánh xuyên nuôi dưỡng phần ngoài 10 được vùng da phủ lên phải đi trong cơ một đoạn chéo.

Vì vậy, các cuống dựa trên các nhánh xuyên từ phần bên ngoài của vùng da có khuynh hướng dài hơn so với từ các nhánh xuyên trong [25]., các nhánh xuyên đi ngang qua cơ mông lớn và cơ mông nhỡ ở nhiều góc và khoảng cách khác nhau [26]. Cách xác định vị trí mạch xuyên động mạch mông trên ra da + Dựa vào 3 mốc gai chậu sau trên, mấu chuyển lớn xương đùi và đỉnh xương cụt - Theo Kim D. và cộng sự, nhánh xuyên động mạch mông trên thường được tìm thấy ở khoảng 2/3 trong đường thẳng nối gai chậu sau trên với mấu chuyển lớn [27].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên và ứng dụng điều trị loét tỳ đè cùng cụt là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích cấu trúc giải phẫu của nhánh xuyên động mạch mông trên, đồng thời đề xuất các phương pháp điều trị hiệu quả cho loét tỳ đè ở vùng cùng cụt. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp kiến thức chi tiết về giải phẫu mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong điều trị, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng hiểu biết về các phương pháp điều trị tiên tiến trong y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng điều trị phẫu thuật thoát vị bẹn bằng tấm lưới nhân tạo có nút mesh plug, hoặc khám phá Luận án tiến sĩ structure and properties of electrospun polymer fibers and applications in biomedical engineering để hiểu rõ hơn về vật liệu y sinh hiện đại. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật nghiên cứu thiết bị và tính toán liều kỹ thuật xạ trị áp sát liều cao trị bệnh ung thư cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp bạn tiếp cận sâu hơn về công nghệ y học hiện đại.