Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Lê Nguyễn Diên Minh với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên động mạch mông trên và ứng dụng trong điều trị loét tỳ đè cùng cụt", được bảo vệ tại Trường Đại học Y Hà Nội năm 2021, thuộc chuyên ngành Chấn thương chỉnh hình và tạo hình (mã số: 62 72 01 29), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Thiết Sơn.

Loét tì đè vùng cùng cụt là thương tổn thường gặp ở những bệnh nhân mất khả năng vận động hoặc phải nằm bất động kéo dài do chấn thương cột sống liệt tủy, tai biến mạch máu não, suy kiệt hoặc bỏng nặng. Theo y văn quốc tế, khoảng 3% đến 4% bệnh nhân nằm viện và từ 40% đến 50% bệnh nhân được chăm sóc kéo dài có biểu hiện loét do tì đè; trong đó tổn thương vùng cùng cụt chiếm khoảng 25% tổng số các vị trí loét. Tại Việt Nam, tần suất tai nạn giao thông và tai nạn lao động cao kéo theo số lượng đáng kể các ca tổn thương thần kinh trung ương và liệt tủy, dẫn đến tỷ lệ loét tì đè gia tăng.

Về mặt phẫu thuật tạo hình, phương pháp sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch mông trên (Superior Gluteal Artery Perforator flap - SGAP) đã được phát triển nhằm thay thế các vạt da cơ mông lớn truyền thống, giúp bảo tồn chức năng vận động của khối cơ mông và hạn chế biến dạng nơi cho vạt. Tuy nhiên, các mốc giải phẫu cổ điển để xác định nhánh xuyên trên bề mặt da (dựa vào tam giác nối gai chậu sau trên, đỉnh xương cụt và mấu chuyển lớn xương đùi) thường khó xác định chính xác trên thực tế lâm sàng và dễ thay đổi tùy theo tư thế bệnh nhân. Đồng thời, tại thời điểm nghiên cứu, ở Việt Nam chưa có công trình nào sử dụng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính đa dãy 320 lát cắt (MSCT 320) để khảo sát hệ thống mạch xuyên động mạch mông trên.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Định vị nhánh xuyên động mạch mông trên ở người Việt trưởng thành.
  2. Ứng dụng kết quả định vị nhánh xuyên động mạch mông trên điều trị loét tì đè vùng cùng cụt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Nghiên cứu giải phẫu: Thực hiện phẫu tích trên thi thể người Việt trưởng thành.
  • Nghiên cứu chẩn đoán hình ảnh: Khảo sát các thông số mạch máu trên hệ thống chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt có tiêm thuốc cản quang.
  • Nghiên cứu ứng dụng lâm sàng: Thực hiện phẫu thuật tạo hình che phủ ổ loét tì đè vùng cùng cụt bằng vạt SGAP trên 8 bệnh nhân tại cơ sở điều trị ngoại khoa.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu giải phẫu và tạo hình quốc tế

Lịch sử phẫu thuật vùng mông ghi nhận kỹ thuật vi phẫu chuyển vạt da cơ mông lớn trong tạo hình tuyến vú được Fujino và cộng sự thực hiện lần đầu năm 1975. Đến năm 1988, Kroll và Rosenfield mô tả việc sử dụng vạt nhánh xuyên trong tái tạo tổn thương vùng cùng cụt. Năm 1993, Koshima và cộng sự lần đầu tiên ứng dụng vạt da nhánh xuyên động mạch mông trên có cuống liền để che phủ ổ loét cùng cụt trên 8 bệnh nhân với kết quả khả quan, ghi nhận số lượng nhánh xuyên toàn vùng mông dao động từ 20 đến 25 nhánh.

Về mặt giải phẫu mạch máu vùng mông:

  • Nguyên ủy và phân nhánh: Động mạch mông trên (ĐMMT) tách ra từ động mạch chậu trong, đi qua khuyết ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê rồi chia thành nhánh nông và nhánh sâu (Tuinder S. và cộng sự). Nhánh nông chạy giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ, cấp máu cho cơ mông lớn và phân ra các nhánh xuyên cơ-da hoặc xuyên vách-da; nhánh sâu chạy giữa cơ mông nhỡ và cơ mông bé.
  • Số lượng nhánh xuyên: Park H. và cộng sự nghiên cứu trên người Hàn Quốc ghi nhận trung bình 12,2 nhánh xuyên từ cơ mông lớn, trong đó 37% xuất phát từ ĐMMT (khoảng 4,5 nhánh). Ahmadzadeh và cộng sự khảo sát trên thi thể chỉ ra vùng mông trên nhận 5 ± 2 nhánh xuyên, phân bố 50% đi qua cơ mông lớn và 50% đi qua cơ mông nhỡ.
  • Kích thước và hướng đi: Tansatit T. và cộng sự phân loại nhánh nông ĐMMT thành ba nhánh (nhánh lên, nhánh ngang và nhánh xuống), trong đó nhánh ngang có đường kính cuống và nhánh xuyên lớn nhất. Tzeng Y. và cộng sự ghi nhận chiều dài mạch xuyên từ 3 đến 8 cm, đường kính từ 1 đến 1,5 mm; Ahmadzadeh ghi nhận đường kính 0,6 - 1,0 mm và chiều dài cuống từ cân sâu là 23 ± 11 mm.
  • Phương pháp định vị mốc bề mặt: Hallock G., Kim D., Gagnon A. và Hurbungs A. đưa ra các phương pháp kẻ đường nối giữa 3 mốc xương: gai chậu sau trên (PSIS), mấu chuyển lớn (GT) và đỉnh xương cụt (C). Nhánh xuyên chính thường nằm ở đoạn 1/3 ngoài của đường nối bờ trên cơ hình lê hoặc tập trung ở 2/3 trong đường nối PSIS - GT.
  • Ứng dụng chẩn đoán hình ảnh: Tuinder S., Granzow J.R., Giunta R.E sử dụng siêu âm Doppler để dò tìm vị trí mạch xuyên; Carruthers, Rozen và Peralta ứng dụng chụp cắt lớp vi tính đa lát cắt dựng hình MIP và xác định hệ trục tọa độ (x, y) để lập kế hoạch tiền phẫu.

Cơ chế bệnh sinh và phân loại loét tì đè

Theo Thorne C. (2007), loét tì đè hình thành do sự phối hợp giữa áp lực tăng cao (vượt quá 12 mmHg của mao mạch tĩnh mạch và 32 mmHg của mao mạch động mạch) tác động kéo dài trên 2 giờ tại các điểm tì đè có nền xương cứng. Tổn thương mô sâu luôn có diện tích lớn hơn tổn thương quan sát được ngoài da, tạo nên hình ảnh hoại tử dạng hình nón. Phân loại của Hội đồng tư vấn quốc gia về loét tì đè Hoa Kỳ (NPUAP, 2009) chia tổn thương thành 4 độ:

  • Độ I: Vùng da tì đè đỏ ửng, sung huyết, không mất màu khi ấn.
  • Độ II: Mất một phần lớp da bao gồm thượng bì và lớp đáy, biểu hiện như vết trợt hoặc phồng rộp.
  • Độ III: Mất toàn bộ bề dày lớp da, tổn thương mô dưới da nhưng chưa vượt qua lớp cân cơ.
  • Độ IV: Hoại tử toàn bộ bề dày da và tổ chức dưới da, lan rộng đến cơ, xương, khớp và tạo ngóc ngách.

Về phương pháp phẫu thuật: Ghép da cho tỷ lệ tái phát lên tới 70% (Bauer); vạt da ngẫu nhiên bị hạn chế bởi tỷ lệ chiều dài/chiều rộng và góc xoay; vạt da cơ mông lớn gây mất khối cơ và tàn phá nơi cho vạt. Do đó, vạt da nhánh xuyên ĐMMT (SGAP) là lựa chọn tối ưu giúp giải quyết tổn khuyết mà vẫn bảo toàn cơ mông lớn (Lin C., Blondeel, Verpaele, Rad, Ozmen).

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam và khoảng trống học thuật

Tại Việt Nam, nghiên cứu về vạt vùng mông và vạt mạch xuyên đã được triển khai qua các công trình của Nguyễn Huy Phan, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Thái Sơn (Luận án TS năm 2002 nghiên cứu vạt da cơ mông lớn theo Paul-Dautry), Lê Diệp Linh và Nguyễn Bắc Hùng (2007), Trần Thiết Sơn (2011), Vũ Quang Vinh và Trần Vân Anh (2011 - ứng dụng 15 vạt SGAP che phủ loét cùng cụt), Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Văn Huệ (2014, 2015, Luận án TS năm 2018 trên 30 tiêu bản xác và 37 bệnh nhân), Phạm Văn Trung và Nguyễn Đức Thành (2015).

Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là:

  • Đề xuất hệ trục tọa độ hai chiều $(x, y)$ trên bề mặt vùng mông dựa trên các mốc xương ổn định để xác định vị trí phân bố của nhánh xuyên ĐMMT ở người Việt trưởng thành, thay thế các mốc đường kẻ tam giác cổ điển dễ sai lệch.
  • Ứng dụng công nghệ chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt đa dãy để đối chiếu, minh chứng cho các thông số giải phẫu và tọa độ mạch xuyên khảo sát trên thi thể.
  • Ứng dụng quy trình định vị kết hợp siêu âm Doppler và hệ tọa độ trong phẫu thuật điều trị thực tế cho các ca bệnh loét tì đè cùng cụt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung phân tích và cơ sở lý thuyết

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về giải phẫu hệ mạch xuyên (perforator flap anatomy) và huyết động học cấp máu vùng mông:

  • Phân loại cấp máu cơ: Cơ mông lớn thuộc cơ loại 3 theo phân loại của Mathes và Nahai (nhận máu từ hai nguồn chính: ĐMMT ở phần trên và động mạch mông dưới ở phần dưới).
  • Hệ thống mạch xuyên: Các nhánh xuyên tách ra từ nhánh nông ĐMMT gồm nhánh xuyên cơ (musculocutaneous perforator) đâm xuyên qua thân cơ mông lớn và nhánh xuyên vách (septocutaneous perforator) đi qua vách gian cơ giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ.
  • Hệ trục tọa độ giải phẫu $(x, y)$:
    • Trục $y$: Đường thẳng đứng chạy dọc theo khe gian mông (đường giữa cơ thể).
    • Trục $x$: Đường thẳng nằm ngang vuông góc với trục $y$, đi ngang qua hai gai chậu sau trên (PSIS).
    • Phân vùng tam giác mông: Chia vùng mông thành tam giác trên và tam giác dưới để xác định mật độ phân bố mạch xuyên.
                  Trục y (Khe gian mông)

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu kết hợp mô tả cắt ngang giải phẫu - chẩn đoán hình ảnh và can thiệp lâm sàng không đối chứng:

  1. Nghiên cứu phẫu tích trên xác:

    • Đối tượng: Các thi hài người Việt trưởng thành được bảo quản theo quy chuẩn giải phẫu.
    • Kỹ thuật: Rạch da theo các mốc định vị, bộc lộ mạc nông, phẫu tích vách gian cơ mông lớn - mông nhỡ, tìm kiếm các nhánh xuyên cơ và nhánh xuyên vách từ nhánh nông ĐMMT.
    • Thu thập chỉ số: Số lượng nhánh xuyên, nguồn gốc, đường kính ngoài tại gốc và tại vị trí qua cân, chiều dài cuống mạch, góc vào da, tọa độ điểm ra da $(x, y)$.
  2. Nghiên cứu trên hình ảnh học CLVT 320 lát cắt:

    • Thiết bị: Máy chụp cắt lớp vi tính đa dãy Toshiba 320 lát cắt, trạm xử lý hình ảnh Vitrea phiên bản 6.6.
    • Quy trình: Bệnh nhân được chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch; tái tạo hình ảnh theo không gian 3 chiều và thuật toán tái tạo theo tỷ trọng tối đa (MIP).
    • Thu thập chỉ số: Đo đạc đường kính gốc, đường đi trong cơ, chiều dài và tọa độ xuất hiện của nhánh xuyên trên hệ trục $(x, y)$.
  3. Nghiên cứu can thiệp lâm sàng:

    • Đối tượng: 8 bệnh nhân bị loét tì đè vùng cùng cụt độ III và độ IV, đủ điều kiện phẫu thuật.
    • Quy trình can thiệp:
      • Trước mổ: Đánh giá ổ loét, sử dụng máy siêu âm Doppler cầm tay dò và đánh dấu các nhánh xuyên trong phạm vi tam giác trên theo hệ tọa độ.
      • Trong mổ: Cắt lọc triệt để tổ chức hoại tử ổ loét; thiết kế vạt da hình elip hoặc hình trám; rạch da và bóc tách vạt dưới cân; kiểm tra lại tín hiệu Doppler; cô lập cuống mạch xuyên; giải phóng vạt và xoay/chuyển đảo vạt che phủ tổn khuyết; đóng kín trực tiếp nơi cho vạt và đặt dẫn lưu kín.
      • Sau mổ: Theo dõi tình trạng sống của vạt, biến chứng sớm (chảy máu, tụ dịch, hoại tử mép) và kết quả liền sẹo, hồi phục trước 3 tháng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các kiến thức cơ bản và chuyên sâu về giải phẫu học vùng mông, giải phẫu cuống mạch mông trên, sinh lý bệnh loét tì đè và các giải pháp phẫu thuật tạo hình.

Tác giả phân tích chi tiết cấu tạo các lớp giải phẫu vùng mông từ nông đến sâu (da, tổ chức dưới da, mạc nông, lớp cơ mông lớn, cơ mông nhỡ, cơ mông bé và các cơ chậu - mấu chuyển). Về hệ thống mạch máu, ĐMMT là nhánh lớn nhất của động mạch chậu trong, sau khi thoát ra khỏi lỗ ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê sẽ chia thành nhánh nông và nhánh sâu.

Nội dung chương tổng hợp các chỉ số giải phẫu của các nhánh ĐMMT từ các nghiên cứu quốc tế tiêu biểu, đặc biệt là dữ liệu phân loại của Tansatit T. và cộng sự:

Phân nhánh ĐMMT Chiều dài cuống (mm) Đường kính ngoài cuống (mm) Đường kính nhánh xuyên (mm)
Nhánh lên 4,6 ± 0,8 (3,0 – 6,0) 2,4 ± 0,5 (1,4 – 3,5) 1,2 ± 0,3 (0,7 – 1,8)
Nhánh ngang 6,4 ± 1,3 (3,8 – 9,5) 2,7 ± 0,6 (1,2 – 4,0) 1,2 ± 0,2 (0,7 – 1,7)
Nhánh xuống 7,3 ± 1,3 (4,8 – 11,5) 2,4 ± 0,6 (0,9 – 3,6) 1,1 ± 0,3 (0,5 – 1,7)
Nhánh xuyên chung 5,3 ± 1,3 (3,0 – 8,7) 2,2 ± 0,5 (1,1 – 3,5) 1,1 ± 0,2 (0,7 – 1,7)

Chương này cũng tổng kết cơ chế hình thành vết loét theo mô hình tương quan giữa áp lực tì đè và thời gian của Thorne C. (2007), thang phân loại 4 độ loét của NPUAP (2009), các biện pháp chăm sóc bảo tồn (liệu pháp hút áp lực âm TNPT/VAC của Louis Argenta) và các kỹ thuật thiết kế vạt SGAP (vạt xoay, vạt đẩy V-Y, vạt cánh quạt).


Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về thiết kế nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn, phương tiện kỹ thuật và các bước tiến hành trên 3 nhóm đối tượng:

  1. Nhóm phẫu tích thi thể: Sử dụng bộ dụng cụ phẫu tích mạch máu chuyên dụng, thước đo milimet, compa đo góc. Thực hiện bộc lộ vùng mông từ mào chậu đến nếp lằn mông, xác lập hệ tọa độ $(x, y)$ với gốc tọa độ quy ước, tiến hành bóc tách định vị các nhánh xuyên cơ và nhánh xuyên vách của nhánh nông ĐMMT.
  2. Nhóm hình ảnh học CLVT 320 lát cắt: Khảo sát trên hệ thống MSCT Toshiba 320 dãy tại bệnh viện. Dữ liệu hình ảnh được truyền sang trạm làm việc Vitrea 6.6 để dựng hình 3D mạch máu, đo góc xuất phát, góc cắm vào da và xác định tọa độ các nhánh xuyên tương ứng với hệ trục bề mặt.
  3. Nhóm bệnh nhân lâm sàng: 8 bệnh nhân loét tì đè vùng cùng cụt (Bảng 2.1) được lập hồ sơ nghiên cứu, đánh giá mức độ khuyết hổng, chụp ảnh thương tổn, kiểm tra mạch nuôi bằng máy siêu âm Doppler mạch máu cầm tay và tiến hành phẫu thuật chuyển vạt SGAP.

Chương này quy định rõ các tiêu chí đánh giá kết quả sớm (sống hoàn toàn, hoại tử một phần, tụ máu, nhiễm trùng) và kết quả trung hạn trước 3 tháng (độ mềm mại của vạt, tình trạng liền sẹo, khả năng đóng kín nơi cho vạt).


Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận án được chia thành 2 phần tương ứng với 2 mục tiêu:

1. Đặc điểm giải phẫu và định vị nhánh xuyên ĐMMT ở người Việt trưởng thành

  • Đặc điểm phân nhánh ĐMMT: ĐMMT sau khi ra khỏi khung chậu chia từ 2 đến 4 nhánh chính. Nhánh nông luôn hiện diện và đi giữa cơ mông lớn và mông nhỡ, phân ra các nhánh lên, nhánh ngang và nhánh xuống để cấp máu cho cơ mông lớn và cho các mạch xuyên ra da.
  • Số lượng và phân loại mạch xuyên: Số lượng nhánh xuyên của ĐMMT dao động từ 1 đến 5 nhánh trên mỗi bên mông. Về phân loại, gồm hai dạng chính là nhánh xuyên cơ (đi xuyên qua các bó sợi của cơ mông lớn) và nhánh xuyên vách (chạy trong vách gian cơ giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ).
  • Kích thước mạch xuyên:
    • Đường kính gốc mạch xuyên dao động từ 0,6 mm đến 1,5 mm.
    • Chiều dài cuống mạch xuyên dao động từ 3,0 cm đến 8,0 cm tùy thuộc vào dạng xuyên cơ hay xuyên vách và vị trí xuất phát.
    • Hình ảnh CLVT 320 lát cắt cho thấy sự tương đồng cao với kết quả phẫu tích thi thể về đường kính mạch và hướng đi chếch của mạch xuyên khi tiến vào lớp da và mô dưới da.
  • Phân bố không gian và tọa độ:
    • Khi phân chia vùng mông thành tam giác trên và tam giác dưới, phần lớn các nhánh xuyên có kích thước lớn và hằng định đều phân bố tập trung tại tam giác trên vùng mông (nằm phía trên đường nối mấu chuyển lớn với điểm giữa đường nối PSIS - xương cụt).
    • Tọa độ điểm ra da của các nhánh xuyên chính trên hệ trục $(x, y)$ trên thi thể và trên hình ảnh CLVT 320 lát cắt có sự tập trung cao trong khoảng phân bố xác định (khoảng 5), tạo cơ sở tin cậy cho việc thiết kế vạt trên lâm sàng.

2. Kết quả ứng dụng vạt SGAP trong điều trị loét tì đè cùng cụt (8 ca lâm sàng)

  • Đặc điểm thương tổn: Các bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu bị loét tì đè vùng cùng cụt độ III và độ IV do nằm liệt lâu ngày (chấn thương cột sống, tai biến mạch máu não). Kích thước ổ loét dao động từ mức trung bình đến lớn.
  • Thiết kế và phẫu tích vạt:
    • Vạt da được thiết kế theo hình elip hoặc hình trám nằm trong phạm vi tam giác trên vùng mông, bao quanh nhánh xuyên chính đã được định vị trước mổ bằng siêu âm Doppler.
    • Kích thước vạt thiết kế nhỏ nhất là 6,5 × 6 cm, lớn nhất phù hợp với kích thước khuyết hổng sau cắt lọc.
    • Số lượng mạch xuyên nuôi vạt trên thực tế phẫu tích là 1 đến 2 mạch xuyên có cuống mạch tốt.
    • Hình thức sử dụng vạt: Vạt xoay đảo hoặc chuyển vạt che phủ toàn bộ nền xương cùng cụt bị lộ.
  • Kết quả điều trị và theo dõi:
    • 100% vạt da sống hoàn toàn, được cấp máu tốt, hồng ấm sau mổ.
    • Vết mổ liền thì đầu, cắt chỉ sau 10 đến 14 ngày.
    • Nơi cho vạt được đóng kín trực tiếp hai lớp, không cần ghép da bổ sung, không có biến chứng toác vết mổ hay hoại tử vạt.
    • Đánh giá trước 3 tháng: Vạt mềm mại, tạo lớp đệm dày che phủ tốt vùng tì đè, không có trường hợp nào bị tái phát ổ loét trong thời gian theo dõi.

Chương 4: Bàn luận (và Hạn chế đề tài)

Tác giả đối chiếu các phát hiện giải phẫu với y văn quốc tế và trong nước:

  • Về đường đi và đặc điểm cuống mạch: Nhánh xuyên ĐMMT có đường đi trong cơ một đoạn trước khi đâm chếch vào da (quan sát rõ trên hình ảnh MSCT 320). Các nhánh xuyên vách chạy dọc giữa bờ cơ mông lớn và mông nhỡ cho phép bóc tách cuống mạch dài mà không cần cắt xẻ nhiều vào nhu mô cơ.
  • Về mô hình định vị: So sánh với mô hình xác định mạch xuyên hình chữ nhật của Gagnon A. hoặc mô hình 3 mốc xương của Hallock G., việc sử dụng hệ trục tọa độ $(x, y)$ và tam giác trên vùng mông giúp phẫu thuật viên dễ dàng xác định vùng chứa mạch nuôi ngay cả khi bệnh nhân thay đổi tư thế nằm sấp hoặc thể trạng béo phì che lấp mốc xương.
  • Về giá trị của siêu âm Doppler và MSCT 320: Siêu âm Doppler cầm tay là phương tiện thuận tiện, có độ nhạy cao để khẳng định lại vị trí nhánh xuyên đã dự kiến trên hệ tọa độ; trong khi MSCT 320 cung cấp bản đồ mạch máu 3 chiều chính xác, hỗ trợ lập kế hoạch an toàn trước mổ.
  • Về ưu điểm lâm sàng: Vạt SGAP cung cấp tổ chức da - mỡ dày, sức sống cao nhờ nguồn cấp máu chuyên biệt, bảo tồn hoàn toàn chức năng cơ mông lớn, khắc phục nhược điểm teo lép mông và hạn chế vận động của vạt cơ mông lớn truyền thống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  1. Xác lập cơ sở dữ liệu giải phẫu nhánh xuyên ĐMMT: Luận án cung cấp hệ thống số liệu giải phẫu hoàn chỉnh về nguyên ủy, số lượng (1 - 5 nhánh), đường kính gốc (0,6 - 1,5 mm), chiều dài cuống và góc vào da của các nhánh xuyên cơ và xuyên vách từ nhánh nông ĐMMT ở người Việt trưởng thành.
  2. Đề xuất hệ trục tọa độ $(x, y)$ trong định vị mạch xuyên: Luận án xây dựng phương pháp xác định vị trí nhánh xuyên ĐMMT dựa trên hệ trục tọa độ $(x, y)$ (với trục $y$ là khe gian mông, trục $x$ đi qua hai gai chậu sau trên), chứng minh các mạch xuyên chính hằng định tập trung tại vùng tam giác trên của mông, giúp khắc phục nhược điểm khó xác định của các mốc xương cổ điển.
  3. Ứng dụng công nghệ chẩn đoán hình ảnh hiện đại: Luận án là công trình trong nước ứng dụng hệ thống cắt lớp vi tính 320 lát cắt đa dãy để khảo sát, dựng hình và đo đạc các thông số mạch xuyên ĐMMT, tạo sự đối chiếu và chuẩn hóa giữa chẩn đoán hình ảnh và thực tế phẫu tích.

Đóng góp về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Quy trình phẫu thuật vạt SGAP: Chuẩn hóa quy trình thiết kế, bóc tách và chuyển vạt nhánh xuyên ĐMMT có hỗ trợ của siêu âm Doppler mạch máu để điều trị loét tì đè vùng cùng cụt độ III, IV.
  2. Hiệu quả điều trị: Chứng minh tính an toàn và hiệu quả của vạt SGAP với tỷ lệ sống 100%, bảo tồn nguyên vẹn cơ mông lớn, cung cấp lớp đệm dày chống tì đè, nơi cho vạt được đóng trực tiếp thì đầu, rút ngắn thời gian điều trị.
  3. Khả năng ứng dụng rộng rãi: Phương pháp định vị và kỹ thuật tạo vạt có thể chuyển giao và áp dụng tại các cơ sở ngoại khoa tuyến tỉnh, giúp nâng cao chất lượng điều trị tại chỗ và giảm tải cho các bệnh viện trung ương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Cỡ mẫu lâm sàng: Số lượng bệnh nhân được phẫu thuật ứng dụng vạt SGAP trong nghiên cứu còn khiêm tốn (8 bệnh nhân), do tiêu chuẩn chọn bệnh chặt chẽ và điều kiện triển khai kỹ thuật chuyên sâu.
  • Phạm vi khảo sát mạch máu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào nhánh nông và nhánh xuyên của động mạch mông trên, chưa mở rộng đánh giá chi tiết mạng lưới nối mạch giữa động mạch mông trên với động mạch mông dưới và hệ mạch lân cận trên cùng một tiêu bản.
  • Thời gian theo dõi sau mổ: Thời gian đánh giá kết quả lâm sàng tập trung ở giai đoạn sớm và trung hạn (trước 3 tháng), chưa có dữ liệu theo dõi dài hạn qua nhiều năm về tỷ lệ tái phát loét khi bệnh nhân sinh hoạt tại cộng đồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu lâm sàng với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều trung tâm phẫu thuật tạo hình.
  • Nghiên cứu ứng dụng vạt SGAP tự do trong tạo hình tái tạo các tổn khuyết ở các vùng cơ thể khác (như tạo hình tuyến vú vi phẫu).
  • Theo dõi dài hạn tình trạng hồi phục cảm giác thần kinh của vạt da và đánh giá áp lực tì đè tại vùng vạt sau phẫu thuật.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Phẫu thuật viên Tạo hình - Thẩm mỹ và Chấn thương Chỉnh hình: Tham khảo kỹ thuật thiết kế, phẫu tích cuống mạch xuyên ĐMMT, kỹ thuật bóc tách bảo tồn cơ mông lớn và cách xử lý chuyển vạt (vạt xoay, vạt đẩy, vạt đảo) che phủ khuyết hổng cùng cụt.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo quy trình chụp và xử lý hình ảnh mạch máu nhỏ trên hệ thống cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT 320 lát cắt) và kỹ thuật định vị mạch xuyên bằng siêu âm Doppler.
  • Giảng viên và Nghiên cứu sinh Y học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về giải phẫu hệ mạch xuyên, phương pháp kết hợp nghiên cứu giải phẫu tử thi với chẩn đoán hình ảnh và lâm sàng.

Câu hỏi thường gặp

1. Động mạch mông trên phân nhánh như thế nào để cấp máu cho cơ mông lớn và lớp da bên trên?

Động mạch mông trên xuất phát từ động mạch chậu trong, đi qua lỗ ngồi lớn ở bờ trên cơ hình lê ra vùng mông rồi chia thành hai nhánh chính: nhánh nông và nhánh sâu. Nhánh nông đi ở mặt phẳng giữa cơ mông lớn và cơ mông nhỡ, phân ra các nhánh nuôi dưỡng cơ mông lớn và tách ra các nhánh xuyên cơ (xuyên qua cơ mông lớn) cùng nhánh xuyên vách (chạy trong vách gian cơ giữa cơ mông lớn và mông nhỡ) để đi thẳng ra cấp máu cho lớp mỡ dưới da và da vùng mông.

2. Tác giả luận án đề xuất hệ trục tọa độ $(x, y)$ định vị nhánh xuyên ĐMMT dựa trên những mốc nào?

Tác giả xác lập hệ trục tọa độ hai chiều trên bề mặt vùng mông gồm:

  • Trục $y$: Trục thẳng đứng đi dọc theo khe gian mông (đường giữa cơ thể).
  • Trục $x$: Trục nằm ngang vuông góc với trục $y$, đi ngang qua hai gai chậu sau trên (PSIS). Các nhánh xuyên chính của ĐMMT được xác định phân bố chủ yếu trong vùng tam giác trên của mông, nằm phía ngoài trục $y$ và phía dưới trục $x$.

3. Ưu điểm của chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt (MSCT 320) trong nghiên cứu này là gì?

Máy MSCT 320 lát cắt kết hợp trạm xử lý Vitrea 6.6 và kỹ thuật dựng hình MIP cho phép quan sát chi tiết toàn bộ đường đi của nhánh xuyên trong không gian 3 chiều, bao gồm đoạn đi trong cơ, góc cắm vào da, chiều dài cuống và đường kính mạch máu. Phương pháp này giúp xác nhận độ chính xác của các mốc tọa độ định vị trên xác và hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật an toàn trước mổ.

4. Vạt da nhánh xuyên ĐMMT (SGAP) có ưu điểm gì vượt trội so với vạt da cơ mông lớn truyền thống?

Vạt SGAP chỉ lấy lớp da và tổ chức mỡ dưới da cùng cuống mạch nuôi là nhánh xuyên, bảo tồn hoàn toàn khối cơ mông lớn và dây thần kinh vận động. Nhờ đó, phương pháp này giúp giảm mất máu, tránh làm suy giảm chức năng vận động (duỗi, xoay ngoài đùi), hạn chế tình trạng teo lõm vùng mông và cho phép đóng kín trực tiếp nơi cho vạt mà không cần ghép da.

5. Số lượng và kích thước nhánh xuyên ĐMMT ghi nhận trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Nghiên cứu ghi nhận số lượng nhánh xuyên ĐMMT dao động từ 1 đến 5 nhánh trên mỗi bên mông, phần lớn tập trung ở tam giác trên vùng mông. Đường kính gốc của nhánh xuyên dao động trong khoảng 0,6 đến 1,5 mm và chiều dài cuống mạch từ mặt phẳng cân sâu ra da dao động từ 3,0 đến 8,0 cm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của Lê Nguyễn Diên Minh đã hoàn thành toàn diện hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc mô tả chi tiết các đặc điểm giải phẫu học và xác lập hệ trục tọa độ $(x, y)$ định vị nhánh xuyên động mạch mông trên ở người Việt trưởng thành với sự hỗ trợ của kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính 320 lát cắt. Đồng thời, nghiên cứu đã ứng dụng thành công kỹ thuật sử dụng vạt da nhánh xuyên động mạch mông trên (SGAP) phối hợp siêu âm Doppler để điều trị triệt để tổn thương loét tì đè vùng cùng cụt trên lâm sàng, đạt tỷ lệ sống vạt tuyệt đối và bảo tồn cấu trúc cơ mông lớn. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp tài liệu chuyên môn chuẩn xác cho chuyên ngành phẫu thuật tạo hình và chấn thương chỉnh hình tại Việt Nam.