Chương 1: Các nguồn lực để xây dựng tuyến điểm du lịch sinh thái nhân văn ở tỉnh Hải Dương. Chương 2: Thực trạng kinh doanh du lịch của Hải Dương. Chương 3: Một số giải pháp cho phát triển du lịch Hải Dương. Xây dựng tuyến du lịch Hà Nội – Cẩm Giàng – Thanh Miện – Ninh Giang – Chí Linh – Thành Phố Hải Dương.
SV : Đỗ Thị Lương – VH1001 Ttran5 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ XÂY DỰNG TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH SINH THÁI NHÂN VĂN Ở TỈNH HẢI DƢƠNG. Khái quát chung về tỉnh Hải Dƣơng 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành – phát triển Hải Dƣơng là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng với diện tích tự nhiên là 1.647,52 km², Năm 2008 Hải Dƣơng có 1.319 ngƣời với mật độ dân số 1.044,26 ngƣời/km². Nông thôn: 86%, Thành thị: 14%.
Hải Dƣơng bao gồm 01 thành phố trực thuộc 01 thị xã và 10 huyện. Hải Dƣơng có 262 xã, phƣờng và thị trấn. Tỉnh Hải Dƣơng nằm trong toạ độ địa lý từ 20°36 bắc Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, Đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh. Phía đông giáp thành phố Hải Phòng.
Phía nam giáp tỉnh Thái Bình. Phía tây giáp tỉnh Hƣng Yên. Hải Dƣơng nằm trung tâm vùng du lịch Bắc Bộ, trong tam giác động lực tăng trƣởng du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tuyến du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh dù đi theo đƣờng ô tô, đƣờng sắt đƣờng sông đều đi qua địa phận tỉnh Hải Dƣơng.
Từ đó có thể thấy vị trí trung chuyển của Hải Dƣơng đối với trung tâm du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Đƣờng quốc lộ số 5 và tuyến đƣờng xe lửa nối Hà Nội với cảng Hải Phòng chạy suốt tỉnh. Trong đó thành phố Hải Dƣơng – Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật của tỉnh nằm trên trục đƣờng quốc lộ 5 cách thành phố Hạ Long 80km. Vì vậy đây là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá cũng nhƣ vận chuyển khách du lịch.
Đƣờng quốc lộ số 18 nối Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long cũng đi qua địa phận Hải Dƣơng với chiều dài là 20km đặc biệt là qua các khu di tích danh thắng của tỉnh Bắc Ninh và Côn Sơn - Kiếp Bạc. Do đó thuận lợi cho việc xây dựng các tuyến điểm du lịch giữa 2 tỉnh. SV : Đỗ Thị Lương – VH1001 Ttran6 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Hải Dƣơng cũng nằm trong hệ thống giao thông đƣờng thuỷ chính của vùng châu thổ đặc biệt là hệ thống sông Thái Bình có điểm gặp sông Đuống ở Phả Lại, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách muốn tham quan bằng đƣòng sông. Du khách có thể từ Hà Nội đi cano theo sông Đuống đến Phả Lại ghé thăm Côn Sơn - Kiếp Bạc, rồi theo sông Thái Bình, sông Kinh Môn đến với Kính Chủ (Nam thiên đệ lục động) - Đền Cao hay xuôi theo dòng sông Kinh Thầy đến khu Nhị Chiểu thăm hệ thống hang động, chùa chiền.
Từ Nhị Chiểu bằng đƣờng thuỷ du khách có thể tiếp tục đến với Hạ Long- Một di sản thiên nhiên nổi tiếng thế giới. *Đánh giá: do nằm gần Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh là những trung tâm du lịch, kinh tế lớn của cả nƣớc. Nhƣ vậy Hải Dƣơng có vị trí rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Lịch sử hình thành Hải Dƣơng là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời.
Theo kết quả điều tra nghiên cứu những di chỉ khảo cổ khai quật đƣợc trên Hải Dƣơng từ thời đồ đá, trên vùng đất Hải Dƣơng đã có con ngƣời sinh sống. Qua các cuộc khai quật ở sông Kinh Thầy (Kinh Môn) ngƣời ta đã tìm thấy những di vật cách đây 3000 - 4000 năm ở Tứ Thông, Ngọc Uyên, Đồng Niên (Thành phố Hải Dƣơng) cũng tìm thấy mộ táng trong đó có những di vật tuỳ táng bằng gốm từ thời Hùng Vƣơng. Năm 1965 tìm thấy đƣợc trống đồng ở làng Hữu Chung (Tứ Kỳ) có niên đại cách nay khoảng 2. Ngành khảo cổ học còn tìm thấy ở Ngọc Lặc (Tứ Kỳ) và ở nam Sách nhiều mộ táng các quan lại ngƣời Việt và ngƣời Hán thời đầu công nguyên có chôn theo vật tuỳ táng nhƣ vò, nậm rƣợu, cối giã trầu, dùi, cung, nỏ, dao, kiêm, khuôn đúc đồng….
Bằng sành sứ, bằng đồng hoặc bằng sắt… Những kết quả khai quật trên đã phần nào phản ánh đời sống vật chất, tinh thần phong phú đa dạng của cƣ dân Việt cổ sống trên vùng đất Hải Dƣơng xƣa. SV : Đỗ Thị Lương – VH1001 Ttran7 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng Hải Dƣơng là vùng đất tiếp giáp từ Kinh Đô Thăng Long (xƣa) kéo dài tới bờ biển Đông (xƣa kia vừa có biển, núi, sông…), Trong suốt chiều dài lịch sử từ khi dựng nƣớc tới nay Hải Dƣơng đã có những tên gọi khác nhau: Thời Hùng Vƣơng thuộc Bộ Dƣơng Tuyền, thời kỳ chống phong kiến Phƣơng Bắc lần I là huyện An Định, Hồng Châu thời Khúc Thừa Dụ (906). Thời Lý - Trần có tên là Nam Sách lộ, Hồng Lộ. Thời Lê có tên là Thừa Tuyên Nam Sách, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thời vua Lê Thánh Tông đổi thành Thừa Tuyên Hải Dƣơng, cuối đời Lê lại đổi thành sứ Hải Dƣơng.
Thời Nguyễn đời vua Minh Mạng, năm 1831 tỉnh Hải Dƣơng đƣợc thành lập (còn gọi là tỉnh Đông) gồm 3 phủ với 17 huyện. Lúc mới thành lập, Hải Dƣơng là một tỉnh rộng lớn bao gồm từ Bình Giang đến Thuỷ Nguyên. Đến thời vu Đồng Khánh (1888) thì tách dần một số xã của huyện Thuỷ Nguyên, Tiên Lãng… tách khỏi tỉnh Hải Dƣơng để lập tỉnh Hải Phòng. Thời Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam), năm 1952 huyện Vĩnh Bảo nhập về Kiến An, 1960 huyện Đông Triều nhập về Hồng Quảng.
Do đó từ 1960 trở đi, Hải Dƣơng có 11 huyện và 1 thị xã. Tháng 3/1968 tỉnh Hải Dƣơng hợp nhất với tỉnh Hƣng Yên thành tỉnh Hải Hƣng gồm 20 huyện và 2 thị xã, thủ phủ đóng tại thị xã Hải Dƣơng. Năm 1997, Hải Hƣng lại chia thành 2 tỉnh Hải Dƣơng và Hƣng Yên. Tỉnh Hải Dƣơng hiện nay có 1 thành phố (Thành phố Hải Dƣơng) và 11 huyện: Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Kinh môn, Kim Thành, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Ninh Giang.
Dân số và nguồn nhân lực. Hải Dƣơng là một tỉnh đông dân cƣ ở đồng bằng Sông Hồng. Hải Dƣơng có một lực lƣợng lao động dồi dào. Tại thời điểm điều tra 1/4/2009 tổng số nhân khẩu toàn tỉnh Hải Dƣơng là 1.492 ngƣời, chiếm 2% dân số cả nƣớc (dân số SV : Đỗ Thị Lương – VH1001 Ttran8 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng cả nƣớc: 85.
Trong đó nam chiếm 48,9%, nữ chiếm 51,1%, nhân khẩu thành thị chiếm 19,1%, nhân khẩu nông thôn chiếm 80,9%. Trình độ dân trí và trình độ lao động ngày càng đƣợc nâng cao. Hải Dƣơng đã phổ cập giáo dục tiểu học và đang từng bƣớc tiến tới phổ cập giáo dục phổ thông trung học cơ sở, số ngƣời đƣợc đào tạo ngày càng cao trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm gần 23%, lao động phổ thông có trình độ văn hóa cấp 3 chiếm gần 65% đây có thể coi là một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong đó có ngành du lịch. Với lực lƣợng lao động đông đảo có nhiều kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp qua nhiều đời nhất là lại có kinh nghiệm sản xuất ra nhiều loại sản xuất ra nhiều loại sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu của du khách nhƣ: Thâm canh cây vải thiều và nhiều nông sản nhiệt đời khác.
Chế biến các món đặc sản (Bánh đậu xanh, bánh gai) và nhiều sản phẩm thủ công truyền thống. Đây là một nguồn lực để phát triển du lịch của Hải Dƣơng. Kiểm kê đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên. Địa hình - Địa hình của Hải Dƣơng đƣợc chia thành 2 phần rõ rệt: + Vùng đồng bằng: có diện tích 1.466,3 km² chiếm 89% diện tích tự nhiên của tỉnh do phù sa sông Thái Bình bồi đắp gồm các huyện: Cẩm Giàng, Nam Sách, Thanh Hà, Kim Thành, Thành phố Hải Dƣơng, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Thanh Miện và một phần diện tích của huyện Kim Môn, Chí Linh.
Nhìn chung địa hình đồng bằng tƣơng đối bằng phẳng, đơn điệu, đất đai khá màu mỡ, tuy không có giá trị cho phát triển du lịch, nhƣng cũng tạo nên những bức tranh thuỷ mặc, trữ tình. Đây lại là nơi định cƣ rất sớm nên đã tạo ra nhiều công trình kiến trúc: Đình, đền, chùa, miếu và cũng là nơi cung cấp nguồn lƣơng thực, thực phẩm, những món ăn đặc sản phục vụ cho nhu cầu ăn uống của du khách. + Vùng đồi núi thấp: Có diện tích 181,22km² chiếm 11% diện tích tự nhiên của tỉnh thuộc 2 huyện Chí Linh và Kim Môn. Đây là khu vực địa hình SV : Đỗ Thị Lương – VH1001 Ttran9 Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Dân lập Hải Phòng đựơc hình thành trên miền núi tái sinh có nền địa chất trầm tích Trung Sinh.
Trong vận động tân kiến tạo đƣợc nâng lên với cƣờng độ trung bình đến yếu. Hƣớng núi chính chạy theo hƣớng Tây Bắc - Đông Nam. Địa hình bị chia cắt khá mạnh, những đỉnh núi cao > 500m còn phủ đầy rừng. Các dạng đại hình có phong cảnh đẹp, có giá trị đối với hoạt động du lịch của Hải Dƣơng.
+ Dạng địa hình đồi núi: Vùng đồi núi Chí Linh cao ở phía Bắc, thấp dần xuống phía nam. Phía bắc của huyện là dãy núi Huyền Đính chạy theo hƣớng Tây Bắc – Đông Nam, có độ cao trung bình 300m, có một số đỉnh cao trên 500m, cao nhất là đỉnh Dây Diều 618m, Đèo Chê 533m, Núi Đai 508m. Địa hình phân cắt phức tạp, có nhiều dòng suối chảy xuống sông Lục Đầu và Hồ Bến Tắm. Dãy núi này có nhiều rừng bao phủ với nhiều loại sinh vật quý.
Vùng đồi núi Côn Sơn- Kiếp Bạc tuy địa hình không cao nhƣng nhiều đỉnh núi có thể nhìn toàn cảnh nhƣ đỉnh Côn Sơn cao gần 200m (tục gọi là Bàn Cờ Tiên), từ đây có thể nhìn đuợc toàn cảnh Côn Sơn và vùng núi kế cận. Các núi Ngũ Nhạc (238m), ngọn Nam Tào, Bắc Đẩu đều là những địa danh có giá trị đối với du lịch. Dãy núi Yên Phụ (Kim Môn) có hƣớng Tây Bắc - Đông Nam với chiều dài 14km, chạy gần song song với quốc lộ 5.