Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Quan điểm và vai trò của truy xuất nguồn gốc sản phẩm 1. Quan điểm của truy xuất nguồn gốc “Truy xuất nguồn gốc giúp Việt Nam xử lý vấn đề hàng giả hàng nhái” đây là khẳng định của Thứ trưởng Bộ Công thương Đặng Hoàng An tại Hội thảo “Truy xuất nguồn gốc hàng hóa góp phần tạo thuộn lợi trong thương mại” do Cục xuất nhập khẩu phối hợp với Trung tâm thông tin công nghiệp và Thương mại, Bộ Công thương tổ chức ngày 24/8/2019 tại Hà Nội. Tổng cục Quản lý thị trường, Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức Diễn đàn "Thực trạng hàng giả, hàng nhái tại Việt Nam: Thách thức và giải pháp".
Đây là hoạt động chính nằm trong Tuần lễ Phòng, chống hàng giả, hàng nhái năm 2019, diễn ra từ ngày 25-11 đến ngày 1-12-2019 tại Hà Nội. Theo số liệu từ Ban Chỉ đạo 389 quốc gia, trong 9 tháng đầu năm 2019, các cơ quan, lực lượng chức năng đã xử lý 149.502 vụ việc vi phạm (giảm 18% so với cùng kỳ năm 2018), thu nộp ngân sách Nhà nước đạt 12.388 tỷ 709 triệu đồng (giảm 11% so với cùng kỳ 2018), khởi tố 1. Qua một số khảo sát cho thấy, hiện nay hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng có mặt ở nhiều phân khúc của thị trường, từ các cửa hàng tạp hóa trên các phiên chợ vùng sâu, vùng xa đến hè phố các đô thị, thậm chí len lỏi, trà trộn vào cả những siêu thị cao cấp ở những đô thị lớn nhằm "thử thách" mức độ sành sỏi của khách hàng. Một số mặt hàng nổi cộm trong thời gian qua bao gồm thực phẩm, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng, mặt hàng phụ tùng ô tô xe máy, mặt hàng tiêu dùng, thời trang… 6 Có thể nói nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng là một trong những vấn đề nhức nhối của xã hội.
Hệ lụy tiêu cực mà nó mang lại cho xã hội là không nhỏ, như ảnh hưởng đến sức khỏe, tài chính của người tiêu dùng, làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng đến tính minh bạch của thị trường hàng hóa, làm giảm uy tín của các nhà sản xuất chân chính, làm suy yếu sự phát triển kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng trước thị trường quốc tế trong nền kinh tế hội nhập. Khái niệm Truy xuất nguồn gốc xuất xứ sản phẩm là khái niệm được đề cập bởi nhiều học giả, các cơ quan quản lý, pháp luật, các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác nhau do sự tiếp cận và cấp độ quản lý vấn đề truy xuất nguồn gốc trong chuỗi thực phẩm. Golan và cộng sự (2004) đã cho rằng việc định nghĩa truy xuất nguồn gốc xuất xứ hàng hóa là quan trọng bởi vì truy xuất nguồn gốc xuất xứ hàng hóa được xem là công cụ để đạt được rất nhiều các mục tiêu khi thực phẩm được xem là một mặt hàng phức. Theo tiêu chuẩn chất lượng ISO 8402 (1994) truy xuất nguồn gốc xuất xứ được định nghĩa đó là “khả năng truy tìm về lịch sử, ứng dụng hay vị trí của một thực thể bởi những công cụ xác minh được ghi chép lại”.
Trong tiêu chuẩn ISO 9000 (2005), định nghĩa trên được mở rộng đó là “khả năng truy tìm về lịch sử, ứng dụng hay vị trí của một vật thể được xem xét” (Điều 3. Còn theo ISO 22005: 2007 (điều 3.6) truy xuất nguồn gốc xuất xứ là “khả năng truy theo sự lưu chuyển của thức ăn chăn nuôi hoặc thực phẩm qua (các) giai đoạn xác định của quá trình sản xuất, chế biến và phân phối”. Các hướng dẫn của ISO còn đi vào cụ thể hơn khi cho rằng “truy xuất nguồn gốc có thể xem xét đến nguồn gốc của vật liệu và các bộ phận, thành phần, lịch sử quy trình và sự phân phối và vị trí của sản phẩm sau khi đã chuyển đưa đi”. Quy tắc 178/2002 của Ủy ban Châu Âu (EU) (EU, 2002) đã thu hẹp phạm vi định nghĩa trong ngành công nghiệp thực phẩm bằng việc định nghĩa 7 truy xuất nguồn gốc là “khả năng truy tìm và theo dõi thực phẩm, thức ăn gia súc, động vật, sản xuất thực phẩm hoặc hợp chất muốn bổ sung vào thức phẩm hoặc thức ăn gia súc, thông qua toàn bộ giai đoạn sản xuất, chế biến và phân phối”.
Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế Codex (CAC, 2005) đã định nghĩa một cách ngắn gọn truy xuất nguồn gốc đó là “khả năng theo dõi sự di chuyển của một thực phẩm thông qua các giai đoạn cụ thể của sản xuất, chế biến và phân phối”. Một số học giả cũng đã định nghĩa truy xuất nguồn gốc xuất xứ sản phẩm. Theo Olsen và Borit (2013) truy xuất nguồn gốc đó là “khả năng truy cập vào bất cứ hay tất cả các thông tin liên quan đến những gì mà được xem xét xuyên suốt toàn bộ chu kỳ sống của nó bằng sự nhận dạng đã được ghi chép lại”. Còn theo Bosona và Gebresenbet (2013) “truy xuất nguồn gốc thực phẩm là một phần của việc quản lý hệ thống hậu cần thương mại mà cho phép ghi nhận, lưu giữ và truyền đi thông tin đầy đủ về thực phẩm, thức ăn gia súc, động vật hay các chất tại các giai đoạn của chuỗi cung ứng thực phẩm để sản phẩm có thể được kiểm tra tính an toàn và kiểm soát chất lượng, theo dõi tiến và lùi tại bất cứ thời điểm nào”.
Như vậy, các định ghĩa về truy xuất nguồn gốc xuất xứ sản phẩm tập trung vào các điểm đó là theo dõi lùi và theo dõi tiến trong chuỗi cung ứng sản phẩm. Nguyên lý của truy xuất nguồn gốc Một tổ chức độc lập giám sát an toàn thực phẩm- Food Standard Agency (FSA, 2002) đã đưa ra 3 đặc tính cơ bản của hệ thống truy xuất nguồn gốc đó là (1) tập hợp các thông tin xác minh về nguyên liệu và sản phẩm, (2) thông tin về thời điểm và nơi chúng di chuyển và biến đổi, (3) một hệ thống kết nối các dữ liệu này. Để thực hiện việc truy xuất nguồn gốc, một thực thể được theo dõi phải trở thành một đơn vị mẫu để theo dõi. Có 3 loại đơn vị mẫu thdõi: lô hàng, mẫu thương mại và mẫu hậu cần thương mại.
Một lô hàng được định nghĩa đó là một lượng hàng sử dụng trong cùng các quy trình. Một đơn vị hàng thương 8 mại đó là một mẫu được gửi đến từ một công ty đến một công ty kế tiếp trong chuỗi cung ứng (chẳng hạn một hộp, một chai hoặc một két). Mẫu hậu cần thương mại là một dạng của mẫu thương mại và nó chỉ thị một nhóm mà doanh nghiệp tạo ra trước khi vận chuyển hoặc lưu kho (chẳng hạn như công-ten-nơ) (Karlsen và cộng sự, 2010). Golan và cộng sự (2004) đã cho rằng một hệ thống truy xuất nguồn gốc hiệu quả nên được thể hiện thông qua các đặc tính đó là độ rộng (như khối lượng thông tin được thu thập), độ sâu (mức độ theo dõi thông tin liên quan về tiến phía sau hay về phía trước trong chuỗi) và tính chính xác (mức độ đảm bảo chỉ ra những bước di chuyển cụ thể của một sản phẩm thực phẩm) để có thể cân bằng được chi phí và lợi ích.
Phân loại truy xuất nguồn gốc Truy xuất nguồn gốc được phân loại dựa trên các hoạt động và hướng đi mà thông tin được truy xuất trong chuỗi thực phẩm. Dựa vào hoạt động trong chuỗi thực phẩm, ba thể loại truy xuất nguồn gốc được phân biệt đó là truy xuất nguồn gốc lùi hay đó chính là truy xuất nguồn gốc của người cung ứng; truy xuất nguồn gốc nội bộ hay truy xuất nguồn gốc quy trình; truy xuất tiến hay là truy xuất khách hàng (Perez-Aloe và cộng sự, 2007). Opara (2003) chia việc truy xuất thành sáu phần quan trọng đó là truy xuất nguồn gốc sản phẩm, truy xuất nguồn gốc tiến trình, truy xuất nguồn gốc mối liên hệ, truy xuất nguồn gốc đầu vào, truy xuất nguồn gốc dịch bệnh côn trùng và truy xuất nguồn gốc đo lường tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và chuỗi cung ứng thực phẩm. Dựa vào hướng và thông tin được truy xuất trong chuỗi, truy xuất lùi hay truy tìm đó là khả năng tìm ra nguồn gốc và đặc tính của một sản phẩm tại bất kỳ điểm nào trên chuỗi cung dựa trên một hoặc và vài tiêu chí đưa ra.
Ngược lại, truy xuất tiến hay theo dõi đó là khả năng tìm thấy vị trí của sản phẩm tại bất cứ điểm nào trên chuỗi cung dựa vào một hoặc vài tiêu chí đưa 9 ra. Điều quan trọng đó là hệ thống thông tin hỗ trợ cho cả hai loại truy xuất trên vì tính hiệu quả cho loại truy xuất nguồn gốc này không chỉ ra sự hiệu quả của loại kia (Kelepouris, Pramatari, & Doukidis, 2007).5 Quy trình truy xuất nguồn góc: Bước 1: Tiến hành khảo sát: Về quy mô, nơi sản xuất, chế biến, vận chuyển và hoàn thiện ra thị trường, đảm bảo những thông tin cung cấp tới khách hàng được chính xác, rõ ràng. Bước 2: Lên quy trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm: Đảm bảo phù hợp với quá trình hoạt động và các quy chuẩn của nhà sản xuất.khi truy xuất người tiêu dùng sẽ biết được từng công đoạn, từng thời điểm của quá trình hình thành, chế biến và phân phối. Bước 3: Xây dựng biểu mẫu: Giúp nhà sản xuất nhập thông tin sản xuất, đầu vào nguyên liệu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
Dựa vào biểu mẫu này, nhà cung cấp giải pháp sẽ xây dựng sao cho phù hợp với đặc thù sản phẩm. Bước 4: Nhà cung cấp thiết lập hệ thống phần mềm: Theo đúng mục tiêu của mỗi doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Sử dụng phần mềm để, thông qua thiết bị thông minh cầm tay người dùng dễ thực hiện tìm kiếm, kiểm tra đầy đủ thông tin mà nhà cung cấp muốn gửi tới khách hàng. Bước 5: Đào tạo sử dụng hệ thống phần mềm: Khi tiếp cận với bất cứ một phần mềm nào, người dùng sẽ thường gặp phải những bỡ ngỡ khó khăn ban đầu.
Khi sử dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc hàng hóa, người dùng sẽ được hướng dẫn, đào tạo để có thể dễ dàng tiếp cận cũng như sử dụng. Hơn nữa, người dùng sẽ được chỉ dẫn các quy chuẩn về nhập liệu thời gian thực để tạo hiệu quả cao nhất cho công việc kinh doanh. Bước 6: Nhà cung cấp giải pháp triển khai: Để khách hàng sử dụng thuận tiện, dễ dàng tìm kiếm thông tin và được bảo hành và hỗ trợ phần mềm lâu dài.