ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tuyến giáp là bệnh hay gặp nhất trong ung thư các tuyến nội tiết, chiếm 3,6% các bệnh ung thư nói chung [1],[2]. Theo GLOBOCAN 2018, ung thư tuyến giáp đứng hàng thứ 5 trong số các bệnh ung thư ở nữ giới với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 10,2/100.000 dân, đứng hàng thứ 11 chung cho cả 2 giới với 567.233 ca mới mắc và 41071 ca tử vong hàng năm. Tỉ lệ mắc khoảng 3,31/100.000 dân ở cả hai giới và nữ/nam là 3/1 [1]. Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tỉ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao, đứng hàng thứ 9 với 5418 ca mới mắc, 528 ca tử vong mỗi năm, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi là 3,52/100.000 dân, đứng thứ 6 ở nữ giới với tỷ lệ 7,8/100.
Ung thư tuyến giáp được chia làm hai nhóm mô bệnh học khác nhau về lâm sàng, phương pháp điều trị và tiên lượng là ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa [3]. Ung thư tuyến giáp thể nhú là thể hay gặp nhất trong ung thư tuyến giáp thể biệt hóa, lan tràn chủ yếu qua hệ thống bạch mạch [4]. Tỷ lệ di căn hạch tiềm ẩn trong ung thư tuyến giáp biệt hóa từ 27- 90% [5], được phát hiện sau phẫu thuật và xét nghiệm mô bệnh học [6, 7]. Phẫu thuật là phương pháp điều trị quan trọng nhất trong ung thư tuyến giáp.
Mặc dù phẫu thuật cắt tuyến giáp và nạo vét hạch làm tăng tỷ lệ biến chứng sau mổ, chủ yếu là hạ can xi máu và liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược [8-10], nhưng bệnh tái phát chủ yếu tại hạch cổ và phẫu thuật vét hạch là lựa chọn ưu tiên hàng đầu khi bệnh tái phát [11-15]. Mặt khác, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng phẫu thuật vét hạch cổ trung tâm trong ung thư tuyến giáp tái phát làm tăng nguy cơ biến chứng như liệt dây thần kinh thanh quản quặt ngược và suy tuyến cận giáp [16, 17]. Để hạn chế vét hạch hệ thống, việc tìm ra phương pháp phát hiện di căn hạch tiềm ẩn trong ung thư tuyến giáp là cần thiết, quyết định chiến lược điều trị. Hạch cửa được định nghĩa là hạch 2 đầu tiên trong vùng dẫn lưu bạch huyết nhận dẫn lưu từ khối u nguyên phát, nó phản ánh tình trạng hạch vùng còn lại có hay không di căn hạch [18].
Kết quả sinh thiết hạch cửa có thể được sử dụng để quyết định việc nạo vét hạch cổ trong cùng thì với phẫu thuật cắt tuyến giáp hay không và đánh giá giai đoạn mô bệnh học [19, 20]. Gần đây, sinh thiết hạch cửa đã trở thành phương pháp được áp dụng rộng rãi trong một vài bệnh ung thư như ung thư hắc tố và ung thư vú [21, 22]. Lợi ích của sinh thiết hạch cửa trong ung thư vú là rất rõ ràng, nó làm giảm tỷ lệ vét hạch nách không cần thiết [23]. Trong ung thư tuyến giáp, lợi ích của sinh thiết hạch cửa là phát hiện di căn hạch vùng có kích thước nhỏ hơn 2-3 mm đường kính, những hạch này không thể phát hiện bởi các kỹ thuật khác như siêu âm độ phân giải cao.
Hơn nữa, ngược lại với di căn hạch cổ bên có thể phát hiện bởi siêu âm với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, di căn hạch cổ trung tâm thường bị ẩn lấp bởi thùy tuyến giáp, các khối u tuyến giáp, xương đòn và xương ức, do đó khó được phát hiện trên siêu âm [24]. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về hạch cửa trong ung thư tuyến giáp, tuy nhiên tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực này. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu giá trị sinh thiết hạch cửa trong bệnh ung thư tuyến giáp” với hai mục tiêu sau: 1. Nhận xét kết quả phương pháp hiện hình và sinh thiết hạch cửa bằng Xanh Methylen trong bệnh ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 11/2014 đến 9/2018 và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp.
Đánh giá giá trị của phương pháp sinh thiết hạch cửa trong chẩn đoán di căn hạch cổ tiềm ẩn của bệnh ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phôi thai học, giải phẫu, mô học và sinh lý tuyến giáp 1. Phôi thai học Tuyến giáp được bắt nguồn từ lá mầm giữa của ống nguyên nội bì.
Ống nguyên nội bì trong quá trình biệt hóa tạo thành một dải gọi là dây lưỡi giáp, dây lưỡi giáp sau này biệt hóa tạo thành 1 dải, phần dưới của dải này sẽ tạo thành lá mầm giữa và hai mầm bên ở tháng thứ 2 của thời kì thai nghén, sau này lá mầm giữa sẽ biệt hóa thành hai thùy và eo tuyến giáp. Có nhiều trường hợp bất thường biệt hóa ở thời kì này sẽ tạo thành tuyến giáp lạc chỗ có thể ở đáy lưỡi, trên và dưới xương móng hoặc trong trung thất. Hai mầm bên sau này sẽ biệt hóa thành hai tuyến cận giáp trên. Hai tuyến cận giáp dưới thì xuất phát từ túi mang nội bì thứ 3 [25].
Giải phẫu tuyến giáp Tuyến giáp là một cơ quan giống hình con bướm ôm quanh phần cao của khí quản đoạn sát với thanh quản, có 2 thùy bên và eo giáp, đôi khi eo giáp có 1 thùy phụ hướng lên trên và thường lệch về bên trái giống hình tháp được gọi là thùy tháp [26]. Mỗi thùy bên của tuyến giáp hình tam giác, gồm có 3 mặt. Mặt trước ngoài liên quan với các cân cơ dưới móng của vùng cổ. Mặt sau có 2 cực trên và dưới là nơi các tuyến cận giáp trên và dưới, liên quan với bao cảnh trong đó chứa động mạch cảnh chung, tĩnh mạch cảnh trong và thần kinh X.
Mặt trước trong ôm sát mặt bên của khí quản, liên quan với khí quản ở trước và thực quản ở sau, thần kinh quặt ngược thanh quản ở giữa thùy bên tuyến giáp và khí quản. Khối u tuyến giáp đủ lớn có thể gây nuốt khó, khó thở, và gây khàn tiếng nếu gây chèn ép hoặc xâm lấn vào dây thần kinh quặt ngược thanh 4 quản. Eo giáp là phần nhu mô tuyến giáp mỏng ôm phía trước vòng sụn khí quản số 2-3 và ở ngay vùng cổ trước [26]. Tuyến giáp nhận cấp máu từ 3 động mạch chính là động mạch giáp trên, giáp dưới và 1 nhánh nhỏ giáp giữa, Động mạch giáp trên tách ra từ động mạch cảnh ngoài chạy vào tới cực trên thùy bên tuyến giáp cấp máu cho phần trên của tuyến giáp và 2 tuyến cận giáp trên.
Động mạch giáp dưới xuất phát từ động mạch dưới đòn, chạy vào cực dưới thùy bên tuyến giáp, cấp máu cho phần thấp tuyến giáp và hai tuyến cận giáp dưới. Động mạch giáp giữa, cấp máu ít, chạy từ ngoài vào trong bắt chéo trước thần kinh quặt ngược thanh quản đi vào phần giữa thùy bên tuyến giáp. Tĩnh mạch nhận máu từ tuyến giáp tạo thành mạng lưới tĩnh mạch chạy trên bề mặt tuyến, giữa tổ chức tuyến và lớp vỏ tuyến giáp, sau đó tập trung thành 2 nguồn mạch chính là tĩnh mạch giáp trên và giáp dưới đổ vào tĩnh mạch cảnh trong [26]. Hình ảnh giải phẫu tuyến giáp [26] 1.
Mô học tuyến giáp Cấu trúc vi thể: Nhu mô tuyến giáp được cấu tạo bởi các nang tuyến. Thành nang là phần lớn là các tế bào nang, các tế bào cận nang nằm xem kẽ giữa các tế bào nang tuyến giáp. Các tế bào nang thường là hình trụ, hình khối vuông hay hình dẹt tùy theo tình trạng hoạt động của tuyến giáp. Trong lòng nang chứa chất keo do các tế bào nang tuyến giáp tiết ra.
Bản chất của chất 5 keo là Thyroglobulin. Các tế bào cận nang kích thước lớn, mặc dù nằm trong thành nang tuyến nhưng không bao giờ tiếp xúc trực tiếp với các nang tuyến. Tế bào cận nang tiết ra Calcitonin và là nguồn gốc của ung thư tuyến giáp thể tủy. Tất cả các loại ung thư biểu mô tuyến giáp còn lại bắt nguồn từ từ tế bào nang.
Xen kẽ giữa các nang tuyến là tổ chức liên kết của tuyến giáp. Trong tổ chức liên kết chứa hệ thống mạch máu và các tế bào lympho. Các nang tuyến phân cách với mô liên kết này bởi lớp màng đáy [27]. Sinh lý học Tuyến giáp là tuyến nội tiết, có chức năng tiết ra Triiodothyroxin (T3) và Tetraiodothyroxin (T4).
Hai loại hormon này tham gia vào rất nhiều hoạt động của cơ thể. Tham gia vào sự phát triển và hình thành não bộ của thai nhi trong thời kì thai nghén và trong thời kì sơ sinh. T3, T4 tham gia vào quá trình chuyển hóa của cơ thể, hệ thống điều nhiệt và tham gia vào điều hòa hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm, trong đó quan trọng nhất là ảnh hưởng tới nhịp tim. Nếu cường giáp thì chuyển hóa cơ bản của cơ thể sẽ tăng, cường giao cảm, tim nhịp nhanh và hay vã mồ hôi [28].
Điều hòa hormon của tuyến giáp chịu sự chi phối của trục dưới đồi, tuyến yên thông qua 2 loại hormon là TSH của tuyến yên và TRH của vùng dưới đồi. Khi nồng độ T3, T4 trong máu thấp, sẽ kích thích tuyến dưới đồi sinh ra TRH. TRH kích thích tuyến yên sinh ra TSH từ đó kích thích tế bào tuyến giáp hoạt động tạo ra T3, T4. Và ngược lại khi T3, T4 tăng sẽ tạo ra 1 vòng điều hòa ngược làm giảm TRH và TSH, từ đó làm tuyến giáp giảm hoạt động và giảm sản sinh ra T3, T4.
Đó là cơ sở của liệu pháp hormon thay thế trong điều trị ung thư tuyến giáp [28]. Tế bào C (tế bào cận nang) của tuyến giáp tiết ra Calcitonin tham gia vào quá trình chuyển hóa canxi của cơ thể thông qua tác động lên các tạo cốt 6 bào và hủy cốt bào ở tổ chức xương. Do đó ung thư tuyến giáp thể tuyến giáp thể tủy có thể gây rối loạn chuyển hóa canxi của cơ thể, tác động tới mật độ xương và nồng độ canxi máu, thông qua đó ảnh hưởng lên tim mạch và huyết áp [28]. Dịch tễ học, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ ung thƣ tuyến giáp 1.
Dịch tễ học Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 3,6% tất cả các loại ung thư trên thế giới. Kết quả thống kê tại Mỹ năm 2011 có khoảng 48000 ca mới mắc trong đó 36500 ca nữ và 11500 ca nam và có khoảng 1000 ca nữ, 750 ca nam tử vong do ung thư tuyến giáp, tỉ lệ nữ/nam khoảng 3,1/1 [29]. Trên thế giới, tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp khác nhau tùy theo khu vực địa lý. Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp cao nhất ở Sao Paolo, Brazil (149/ 1000.