CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỂ THỨC NGHIÊN CỨU 1. Lich sử nghiên cứu vấn dé: Sự biến động của đạo đức trong một xã hội dang thay đổi và phát triển nhanh chóng là một vấn để thời sự được dư luận lẫn các nhà khoa học xã hỏi quan tâm. Nhiều cuộc điều tra, nghiên cứu. hội thảo về giá trị đạo đức đã được tiến hành.
Trên thế giới. năm 1985, Viện Nghiên cứu Thế giới của Nhat Bản đã lấy mẫu thanh niên trên 11 nước, lứa tuổi 18 - 24 và Viện Kiểm sat Xã hội Trung ñ Châu Au EVS lấy mẫu thanh niên 15 — 24 tuổi ở 10 nước châu Au để nghiên cứu về vấn dé giá trị và định hướng giá trị để thanh niên sẵn sàng hước vào cuộc sống. Năm 1987, ở Hungary đã có một chương trình nghiên cứu vẻ giá trị và định hướng giá trị của thành niên ( từ 14 — 30 tuổi). Năm 1986 - 1987, UNESSCO đã để nghị Club of Rome tiến hành cuộc diéu tra quốc tế về giá tri đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thé kỉ 21 nhằm hướng dẫn người làm công tác giáo dục các vấn dé về giá trị đạo đức, Một sé nước Châu Âu (Đức, Bungary, Hungary, Nga, Ba Lan, .) và các nước Châu Á Thái Bình Dương đã có nhiều cuộc hội thảo nghiên cứu về giá trị, giá trị đạo đức và đưa giáo dục gia trị vào nhà trường.
Nổi bật là chương trình giáo dục giá trị cho người Phillipin, là tập tài liệu "Giá trị trong hành đồng” của Trung tâm cải cách và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam A. Các công trình trên được nghiên cứu một cách công phu và hướng vào những giá tri mang tinh chất toàn cầu trong thời đại mới, Ở nước ta, nhiều để tài nghiên cứu về các giá trị đạo đức nói chung trong hoàn cảnh mới của xã hội đã được ra đời. - Các để tài nghiên cứu về giá trị đạo đức của Vũ Khiếu, giá trị đạo đức nhân văn của Hồ Tôn Trinh cách đây gần 20) năm (sau Đại hội toàn quốc lan VỊ của Đảng năm 1986) vẫn còn tương đổi tổng quát, chung chung và khá cũ so với xã hội ngày nay - Những để tài nhánh trong chương trình nghiên cứu con người có ma số KX-07 như: "Tổng quan về giá trị và giáo dục giá trị” nam 1993 do Lé Đức Phúc và Mac Van Trang chủ nhiệm, để tài KX-07-10 nam 1994 nghiên cứu vẻ “Anh hưởng của kinh tếthị trường đối với việc hình thành và Trang z phát triển nhân cách của con người Việt Nam” của Thái Duy Tuyên, để tài KX-07-04 năm 1995 nghiên cứu về "Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” của Nguyễn Quang Uấn - Nguyễn Thạc - Mạc Văn Trang. Cùng nhiều nghiên cứu khác như: “Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” năm 1996 của Dương Tư Đàm; “Van hoá dao đức và sự tiến bộ của xã hội” năm 1999 của Trương Lưu, nói về sự biến đổi của thang giá tri đạo đức; "Một số vấn để về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” năm 2000 của Huỳnh Khái Vinh để cap chủ yếu ở lĩnh vực lý luận hay dé tai “Dinh hướng giá trị của thanh nién sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội của đất nước” năm 2002 của Đỗ Ngọc Hà và một số nghiên cứu khác của Tran Văn Giàu, Trin Ngọc Khué, Nguyễn Chí My.
déu đã để cập tới những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của kinh tế thi trường đến những gid trị dao đức nói chung. Bên cạnh đó, các để tài trên cũng đã chỉ ra những giá trị nào chi nhối lối sống của thanh niên sinh viên trong hoàn cảnh mới của đất nước hiện nay và đã nêu lên những cơ sở để định hướng cho công tác giáo dục giả trị, trong đó có giá trị đạo đức trên phạm vi toàn xã hội. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều đi theo hướng nghiên cứu sự lựa chọn giá trị đạo đức của thanh niên, chưa do lường một cách cụ thể mức độ tồn tại của những giá trị đó trong lối sống của họ. những nghiên cứu vẻ vấn để thực trạng biểu hiện các giá trị đạo đức — đặc biệt là nhóm giá tri đạo đức trong mỗi quan hệ với người khác có số lương rat ít Gi bởi những những để tài đó thường nghiên cứu đạo đức chung chung, tổng quát.
Những công trình lấy sinh viên sư phạm làm khách thể nghiên cứu chính lại căng ít hơn, Có thể kể đến một số công trình Trung & nghiên cứu có liên quan đến thực trạng biểu hiện các đạo đức trong mất quan hệ với người khác trên khách thể là sinh viên như: - Để tài "Thực trang đạo đức, tư tưởng chính trị và lối sống của hoc sinh, sinh viên.” do Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy và một số nhà khoa học khác tiến hành trên khách thể la học sinh phổ thông, sinh viên, cán bộ, sido viên tại Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng. Nội dung là 8 chỉ số: tôn trọng nội quy - pháp luật, nhân ái — tình nghĩa, yêu lao động, bảo vệ mỗi sinh. Nhưng để tài trên không khảo sát trên sinh viên sư phạm. - Để tài “Khảo sát thực trang đạo đức của sinh viên TPHCM” của Nguyễn Ngọc Tài, nam 2000.
Trong tổng số khách thể nghiên cứu có 192 khách thể là sinh viên sư phạm. Nội dung khảo sát là một số biểu hiện như: kỉ luật, nếp sống van hoá, tệ nan xã hội, tính dân tộc, vi nhạm pháp luật. - Riêng nghiên cứu về đạo đức lấy khách thể đặc trưng là sinh viên sư phạm, có để tài 96/08 năm 1997 của tập thể các nhà khoa học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do Nguyễn Quang Liển làm chủ nhiệm mang tên: “Xây dưng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên sư phạm, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước” đã xác định lối sống dao đức chung của sinh viên sư phạm trên nhiều mặt biểu hiên và những biện pháp giáo dục dao đức cho sinh viễn. Ở pham vi nghiên cứu về đạo đức do sinh viên thực hiện, những để tài như “Binh hướng giá trị đạo đức và các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức của sinh viên TPHCM” năm 2002, Hỗ Đắc Hải Miễn; "Định hướng gid trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Sư pham TPHCM” năm 2003,.
déu đi theo hướng nghiên cứu định hướng giá trị của cá nhân Trang 9 mà chưa nghiên cứu một cách cụ thể và khách quan thực trạng biểu hiện dao đức hiện tai của sinh viên sư phạm. Qua các điểm nêu trên, chúng ta thấy rằng vấn để xác định thực trạng đạo đức của sinh viên, mà đặc biệt là sinh viên sư phạm - thế hệ sẽ đảm nhận công tác giáo dục nhân cách cho trẻ em sau này vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có các công trình nghiên cứu cụ thể. Mặt khác, các nghiên cứu về định hướng gid trị đều có kết luận rằng đa số sinh viên đều lựa chọn những giá trị tích cực, có thái độ tích cực đối với các giá trị, lựa chọn những phương thức hành vi đạo đức tốt, nhưng sự lựa chọn chỉ mang tính chất lý tưởng. Trong thực tế, sự lựa chọn chưa đủ để đảm bảo rằng nó sẽ dẫn đến biểu hiện trong thực tiễn.
Những yêu cầu về đạo đức mà xã hội đặt ra, các cá nhân đã biểu hiện tới đâu, đó là diéu mà các dé tài nghiên cứu trước đây chưa có câu tra lời. Chưa có công trình nào nghiên cứu mức độ biểu hiện các giá trị đạo đức trong mối quan hệ với người khác của sinh viên sư phạm TPHCM. Chưa có công trình nào nghién cứu sự liên hệ giữa nhu cầu giao tiếp, tính cởi mở với mức độ biểu hiện các giá trị đạo đức trong mỗi quan hệ với người khác. Đây là điểm đóng góp mới của để tải.
Giá trị đạo đức trong mỗi quan hệ với người khác: 1. Phạm tro giá trị. Trong thời cổ đại và trung cổ, giá trị là thành phan tri thức gan chat với đạo đức học — một bộ phận của triết học. Từ nửa sau thé kỉ XIX.
Trang ft} bộ môn giá trị học độc lập tương đối với đạo đức học bat đầu hình thành va thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học. Phạm trù giá trị được thừa nhân rộng rãi trong triết học, xã hội học, tâm lý học, kinh tế học, gido dục học. - Trong triết học duy vật biện chưng, giá trị là những định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong thể giới xung quanh nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của các khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, cái thiện và ác, cái đẹp và xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội và tự nhiên). Xét bể ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc của hiện tượng, tuy nhiên chúng không phải là cái vốn do thiên nhiên bạn cho sự vật hiện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào pham vi tổn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định.
Đối với chủ thể con người, các giá trị là những đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò những vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể va xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với các sự vật và hiện tượng xung quanh |39, 207]. - Trung xã hội học. phạm trù giá trị tham gia vào những lĩnh vực nghiên cứu xã hội - lịch sử cụ thể. Trong xã hội, giá trị được chú trọng ở mặt nội dung, nguyên nhân, điểu kiện kinh tế xã hội trong việc hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội.
Giá trị ở đây chỉ ý nghĩa nhãn bản, xã hội và văn hoá. - Trang kinh tế học, phạm trù giá trị trong các khoa học kinh tế chỉ gắn với hàng hoá và sản xuất hàng hoá, và phía sau nữa là luo động xã hội trữu tượng được kết tinh trong hang hoá. Là một phạm trù lịch sử, có tiền để triết Trang ff học, giá trị không đẳng nhất với giá thành, giá cả, Khi gạt bỏ thuộc tính giá tri sử dụng của hàng hoá thì hàng hoá là kết tinh sự hao phi sức lao động của người sản xuất hàng hoá, và các vat ấy đều là giá trị, giá trị hàng hoá |33.