ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tế bào gan nguyên phát (hepatocellular carcinoma-HCC, UTTBGNP) là bệnh lý ác tính hay gặp hàng đầu trên thế giới. Theo tổ chức Y Tế thế giới, hàng năm có hơn nửa triệu trường hợp mắc mới trên toàn cầu. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao, đứng thứ hai trong các nguyên nhân tử vong do ung thư ở nam giới, chỉ sau ung thư phổi. Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ công bố, năm 2012 thế giới có khoảng 745.500 người chết vì ung thư gan [1],[2].
Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan virus cao nên có số người mắc UTTBGNP tương đối lớn. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca UTTBGNP mới phát hiện, tỷ lệ này thuộc hàng cao nhất thế giới [3],[4],[5]. Các yếu tố nguy cơ gây UTTBGNP từ lâu đã được biết đến như viêm gan virus B, C, nghiện rượu, aflatoxin B1, tình trạng xơ gan, gan nhiễm mỡ không do rượu. Gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của chuyên ngành sinh học phân tử, vai trò của yếu tố gen-di truyền đã được đề cập.
Một trong những hướng nghiên cứu là tìm kiếm các kiểu gen có nguy cơ cao phát sinh ung thư gan từ các gen tiềm năng. Các kiểu gen nguy cơ, sau đó sẽ phát triển thành các phương tiện sàng lọc sớm và tư vấn cho cộng đồng, để phòng tránh UTTBGNP. Hầu hết các nhóm gen tiềm năng, liên quan với ung thư gan đã được nghiên cứu, chúng bao gồm gen mã hoá các enzym chuyển hoá rượu (ADH, ALDH), gen mã hoá các enzym chuyển hoá hợp chất xenobiotic (CYP…), các gen β-catenin trong sự tăng trưởng tế bào, gen mã hoá các cytokin gây viêm (IL, TNF-α.) các gen ức chế khối u (TP53, MDM2. TP53 là một trong những gen được nghiên cứu nhiều nhất, và có tần số đột biến lớn nhất trong ung thư gan [9].
Gen TP53 là nhạc trưởng trong con đường tín hiệu p53, một cơ chế chống ung thư quan trọng của con người. Khi các yếu tố có hại làm tổn thương bộ gen, TP53 sẽ được hoạt hóa gây dừng 2 chu kỳ phân bào cho đến khi DNA được sửa chữa hoặc gây chết tế bào theo chương trình nếu DNA tổn thương không sửa chữa được. Vì vậy, TP53 được xem như trạm gác của bộ gen tế bào (guardian genome) [10],[11],[12],[13]. Tuy nhiên sự biểu hiện của TP53 lại chịu sự kiểm soát của MDM2.
Một gen điều hoà trong con đường tín hiệu p53. MDM2 kiểm soát TP53 thông qua quá trình giáng hóa protein TP53. Ngược lại, TP53 hoạt hóa lại thúc đẩy quá trình phiên mã MDM2. Sự điều hòa ngược của hai gen này đảm bảo cho sự ổn định bộ gen tế bào [14],[15].
Nếu một trong hai gen bị biến đổi, sẽ dẫn đến sự mất kiểm soát quá trình phân chia tế bào, tạo cơ hội để các dòng tế bào ung thư xuất hiện và phát triển. Hiện tượng thay thế các nucleotid đơn của TP53 và MDM2 tạo ra các kiểu gen khác nhau trong cộng đồng [11]. Sự phân bố các kiểu gen này liên quan đến bệnh sinh của nhiều loại hình ung thư, trong đó có ung thư tế bào gan nguyên phát [16],[17],[18],[19],[20]. Việc xác định khả năng mắc bệnh của các kiểu gen TP53 và MDM2 rất có giá trị trong sàng lọc sớm, phòng tránh, theo dõi, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển khối u gan.
Đây được xem như một hướng tiếp cận mới đầy triển vọng, góp phần làm giảm tỷ lệ mắc ung thư tế bào gan nguyên phát. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiểu gen TP53 và MDM2 trong ung thư tế bào gan nguyên phát” với các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau: 1. Xác định tỷ lệ phân bố kiểu gen TP53 ở bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát và nhóm chứng. Xác định tỷ lệ phân bố kiểu gen MDM2 ở bệnh nhân ung thư tế bào gan nguyên phát và nhóm chứng.
Đánh giá mối tương quan giữa các kiểu gen TP53, MDM2 và một số yếu tố nguy cơ gây ung thư tế bào gan nguyên phát. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. UNG THƢ TẾ BÀO GAN NGUYÊN PHÁT Ung thư tế bào gan nguyên phát hay còn có tên là ung thư biểu mô tế bào gan. Đây là một bệnh lý ác tính khởi phát từ những tế bào gan (hepatocellular carcinoma).
Dịch tễ học Theo số liệu trên Global Cancer Facts & Figures, ung thư gan đứng hàng thứ năm ở nam giới và thứ chín ở nữ giới về tỷ lệ mắc, trong các loại hình ung thư. Châu Á và Bắc Phi là những vùng có tỷ lệ mắc cao nhất.500 trường hợp mắc mới trên toàn cầu trong năm 2012, châu Á chiếm đến 76%. Đặc biệt riêng Trung Quốc chiếm gần 50% tổng số ca. Các vùng Đông-Đông Nam Á và Bắc Phi ghi nhận tỷ lệ mắc hơn 20/100.000 người dân.
Các vùng bắc Mỹ và châu Âu có tỷ lệ mắc thấp nhất, dưới 10/100.000 người dân. Tuổi trung bình mắc UTTBGNP tại châu Á là 45 tuổi trong khi thống kê ở Châu Âu là 60 và châu Phi là 35. Nam giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nữ, gấp từ 2 đến 20 lần so với nữ giới. Ung thư biểu mô tế bào gan chiếm gần 90% trường hợp ung thư gan nguyên phát [1],[2],[3].
Phân bố tỷ lệ UTTBGNP trên thế giới. (Số liệu: IARC, 2012) 4 UTTBGNP tiến triển rất nhanh, nếu không được điều trị thì bệnh nhân thường tử vong sau khoảng 6 tháng đến 2 năm kể từ khi có triệu chứng đầu tiên. Tiên lượng cũng không khá hơn ngay cả ở các nước phát triển. Tại Hoa Kỳ, sự tồn tại một năm là dưới 50%, và sống sót sau năm năm chỉ có 10% [3].
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ này thậm chí còn thấp hơn. Tỷ lệ tử vong cao hơn so với tỷ lệ mắc mới được ghi nhận tại một số vùng. Điều này được lý giải do gan là một cơ quan ưa thích để di căn của nhiều bệnh ung thư, và không dễ dàng để tách riêng số liệu tử vong do ung thư gan thứ phát hay nguyên phát, nhất là ở những nước đang phát triển. Số liệu của thống kê năm 2012 cho biết, trong nguyên nhân gây tử vong của các loại hình ung thư, thì UTTBGNP chiếm 30-40% ở châu Phi và châu Á trong khi tỷ lệ này với châu Âu là 1%.
Trên phạm vi toàn cầu, ung thư gan đứng hàng thứ hai ở nam giới và thứ sáu ở phụ nữ, trong tổng số ca tử vong do ung thư. Ước tính có khoảng 745.500 ca tử vong trong năm 2012 [1],[3]. Xu hướng mắc UTTBGNP trên toàn cầu có nhiều thay đổi trong những thập kỷ gần đây. Những khu vực có tỷ lệ mắc thấp như châu Âu, Bắc Mỹ đang gia tăng nhanh chóng.
Điều này được giải thích do tỷ lệ nhiễm virus viêm gan C tăng trong những năm 1960 – 1970 liên quan đến tiêm chích ma tuý. Ngoài ra còn có sự gia tăng nhanh chóng của bệnh lý gan nhiễm mỡ không do rượu, béo phì, đái tháo đường type II. Ngược lại một số quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư gan cao liên quan đến HBV sẽ có sự suy giảm trong thời gian sắp tới do hiệu quả của chương trình tiêm phòng vacxin HBV từ những năm 1980 [3]. Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan virus cao nên có tỷ lệ ung thư gan mới phát hiện thuộc hàng cao nhất thế giới.
Tại hội thảo quốc gia về phòng chống ung thư tổ chức tại Hà Nội tháng 10/2004 cho thấy, tỷ lệ mắc UTTBGNP đứng ở vị trí thứ 3 sau ung thư phổi và ung 5 thư dạ dày. Ước tính mỗi năm có trên 10.000 trường hợp mắc mới. Tỷ lệ mắc bệnh ở các tỉnh phía Nam cao hơn phía Bắc. UTTBGNP có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu là lứa tuổi trung niên (40-50 tuổi).
Tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao gấp 3–4 lần so với nữ. Tại thành phố Hồ Chí Minh, ung thư gan đứng thứ nhất trong số 10 loại ung thư thường gặp ở nam giới (với tần xuất 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm), thứ sáu ở nữ (với tần suất 8,3 trường hợp trên 100. Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ ba ở nam giới và thứ bảy ở nữ [4],[5]. Các yếu tố nguy cơ 1.
Xơ gan Phần lớn UTTBGNP phát triển trên nền gan xơ. Xơ gan càng nặng thì khả năng UTTBGNP càng cao. Ở châu Á, tỷ lệ xơ gan trên các bệnh nhân ung thư lên đến 70 - 90% [21]. Đã có nhiều nghiên cứu tiến hành trên thế giới cũng như tại Việt Nam đều kết luận, có một tỷ lệ lớn UTTBGNP phát triển trên nền gan xơ.
Nghiên cứu của Okuda (2007) và Nordenstedt (2010) cho thấy tỷ lệ này là khoảng 70%-90% [21],[22]. Ở Việt Nam, tỷ lệ này là khoảng 80% - 90% [23]. Các tổn thương mạn tính của gan tạo ra một nhu cầu thay đổi các tế bào gan mới với số lượng lớn, để hàn gắn tổn thương và tái sinh. Đây là điều kiện để những bất thường về di truyền tế bào xảy ra như: biến đổi nhiễm sắc thể, kích hoạt các gen sinh ung thư, bất hoạt các gen ức chế khối u… Viêm gan virus, nghiện rượu, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là các nguyên nhân gây xơ gan, tiến triển thành ung thư theo con đường này.
Mặt khác, hầu hết các trường hợp UTTBGNP xảy ra sau nhiều năm của bệnh viêm gan mạn tính. Tình trạng này cung cấp môi trường làm biến đổi nhiễm sắc thể và đột biến gen. Sự tích tụ ngẫu nhiên, sau nhiều năm những tổn thương gen và nhiễm sắc thể, cuối cùng sẽ dẫn đến sự phát triển của các dòng tế bào gan 6 không nguyên bản, kém biệt hoá hoặc không biệt hoá. Đây là nguồn gốc ung thư tế bào gan nguyên phát [21].
Nghiện rượu Năm 1988, tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế - IARC kết luận rằng, có một mối quan hệ nhân quả giữa việc lạm dụng rượu và ung thư gan. Đến năm 2007, quỹ nghiên cứu ung thư thế giới và Viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ trong một nghiên cứu đánh giá các chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, kết luận rằng nghiện rượu là một nguyên nhân trực tiếp của bệnh ung thư gan [24],[25]. Các nghiên cứu chỉ ra, khi lượng alcohol dùng trên 80g/24h và kéo dài, nguy cơ ung thư gan sẽ hình thành. Tuy nhiên, cơ chế trực tiếp gây bệnh còn chưa thống nhất.
Quan điểm được ủng hộ nhiều nhất là rượu gây UTTBGNP thông qua xơ gan, hoặc hiệp đồng với các virus viêm gan B, C.