ĐẶT VẤN ĐỀ Thiên nhiên Việt Nam là một kho tàng các loài cây thuốc quý giá, trong đó có họ Nhân sâm (Araliaceae) hay họ Ngũ gia bì là họ có thành phần loài khá đa dạng, phân bố rộng; thường tập trung nhiều ở các khu vực núi cao, có khí hậu mát lạnh, ôn hòa. Hầu hết các loài trong họ đều được nghiên cứu và sử dụng làm thuốc trong Y học cổ truyền ở nhiều nước Á-Âu, đặc biệt là các nước Đông-Bắc Á. Nhiều loài như Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv.), Đinh lăng (Polycias fruticosa (L.) Harms), Ngũ gia bì gai (Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu)…được coi là những cây thuốc có giá trị, hiện đang được sử dụng rộng rãi trong Y học cổ truyền dân tộc ở Việt Nam [8]. Trong số những loài đã biết, đáng chú ý có cây Ngũ gia bì gai tên khoa học là Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu, phân bố tương đối tập trung ở các tỉnh dọc theo biên giới phía Bắc như Lạng Sơn (huyện Bắc Sơn, Tràng Định), Lai Châu (huyện Phong Thổ Sìn Hồ)… Dân tộc Dao đã sử du ̣ng vỏ thân, vỏ rễ của loài cây này để chữa các bệnh đau nhức xương khớp rất hiệu quả.
Theo Đông y, ngũ gia bì gai còn là một vị thuốc có tác dụng mạnh gân cốt, khu phong hóa thấp chủ trị đau bụng [7]. Theo một số nghiên cứu, terpenoid từ dịch chiết ether dầu hỏa và ethyl acetat của Ngũ gia bì gai có tác dụng chống ung thư [25]; polyphenol trong Ngũ gia bì gai có tác dụng chống viêm [21], [32]; polysaccharid trong Ngũ gia bì gai có tác dụng chống oxy hóa [18]. Điều đó cho thấy rằng Ngũ gia bì gai là một cây thuốc vô cùng tiềm năng để khai thác, nghiên cứu và việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho dược liệu này là điều cần thiết. Để góp phần cung cấp cơ sở tiền đề cho các nghiên cứu sau này, chúng em tiến hành đề tài nghiên cứu “Kiểm định sơ bộ dược liệu Ngũ gia bì gai (Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu) thu hái tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” với mục tiêu: - Mô tả đă ̣c điể m hình thái, đă ̣c điể m hiể n vi của dươc̣ liê ̣u Ngũ gia bì gai (Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu) thu hái tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Nghiên cứu sơ bộ thành phầ n hóa ho ̣c của dươc̣ liê ̣u Ngũ gia bì gai (Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu) thu hái tại huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Tổng quan về Ngũ gia bì gai 1. Tên khoa học và phân loại Ngũ gia bì gai hay còn gọi là Tam gia bì, Tam diệp ngũ gia,. có tên khoa học là Eleutherococcus trifoliatus (L.Hu (syn: Acanthopanax trifoliatus (L.) Merr) Cây Ngũ gia bì gai có vị trí phân loại (bậc taxon [3]) như sau: Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp Hoa hồng (Rosidae) Bộ Nhân sâm (Araliales) Họ Nhân sâm (Araliaceae) Chi Ngũ gia bì (Eleutherococcus) 1.
Phân bố và sinh thái Ngũ gia bì gai tập trung chủ yếu ở dọc theo các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn (Bắc Sơn, Tràng Định), Cao Bằng (Quảng Hòa, Trùng Khánh), Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ),… Ngũ gia bì gai thuộc loại cây ưa ẩm, ưa sáng; thường mọc ở ven rừng núi đá vôi ẩm, dọc theo các bờ suối hoặc còn sót lại ở các bờ nương rẫy. Cây ra hoa quả nhiều hằng năm, quả chín và rụng xuống đất trong mùa đông. Cây trồng sau 2-3 năm có thể cho thu hoạch [11]. Đặc điểm thực vật – Bộ phận dùng Cây bụi nhỡ, cao 1-7 m, mọc dựa.
Cành vươn dài có gai. Lá kép chân vịt, mọc so le, gồm 3-5 lá chét. Lá hình bầu dục hoặc thuôn, gốc tròn, đầu nhọn, dài 5-8 cm, rộng 2-4 cm, lá chét giữa lớn hơn. Mép lá khía răng to, gân lá có gai, 2 mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng.
Cuống lá kép dài 4-7 cm, có gai. Cụm hoa mọc đầu cành, gồm 3-10 tán, cuống dài 3-4 cm. Hoa nhỏ, mẫu 5, màu trắng lục, lá đài không rõ, cánh hoa hình tam giác. Nhị 5, chỉ nhị mảnh; bầu dưới, 2 ô.
2 Quả mọng, hình cầu dẹt, mang vòi tồn tại, đường kính khoảng 2,5 mm. Khi chín màu đen, có 2 hạt. Toàn cây có tinh dầu thơm. Mùa hoa: tháng 9-11.
Mùa quả tháng 12-1 năm sau [11]. Bộ phận dùng: Vỏ rễ, vỏ thân, lá đã phơi hay sấy khô của cây Ngũ gia bì gai [11], [19]. Trong nghiên cứu này, chúng em sử dụng thân cây Ngũ gia bì gai. Thành phần hóa học Ngũ gia bì gai chứa acid 3α, 11α- dihydroxy-23-oxylup-20-en-28-oic, acid 24-nor-11α-hydroxy-3-oxolup-20-en-28-oic, acid 24-nor-3α, 11α-hydroxylup-20- en-25-oic, acid 3α-11α-dihydroxylup-20-en-28-oic và acid 3α, 11α-23- trihydroxylup-20-en-28-oic, nevadensin, taraxerol; tinh dầu gồm hơn 60 thành phần, trong đó các chất chính là α-pinen, sabinen, terpinen-4-ol, β-pinen và p-cymen [11].
Tác giả Pongtip Sithisarn (2014) đã phân tích được thành phần chính trong các mẫu rễ cây Ngũ gia bì gai là các dẫn xuất của acid caffeoylquinic bao gồm acid chlorogenic, cynarin, acid 3,5-dicaffeoylquinic, acid 1,4-dicaffeoylquinic và acid 4,5-dicaffeoylquinic [32]. Huaqian Wang và cộng sự (2015) đã xác định được thân và lá của Ngũ gia bì gai có chứa acid chlorogenic, acid isochlorogenic A, acid isochlorogenic C, và rutin [34]. Dong-Li Li, Xi Zheng và cộng sự (2015) đã tìm ra hai triterpenoid mới là acid acantrifoic C và acid acantrifoic D [25]. Zefeng Chen, Shupeng Cheng và cộng sự (2021) đã phân tích được thành phần dịch chiết ethyl acetat của Ngũ gia bì gai có chứa lượng lớn rutin, acid chlorogenic, acid isochlorogenic A và acid isochlorogenic C [17].
Ling - Yun Cai, Feng – Shiang Shi, Xia Gao tiến hành định tính bằng phản ứng hóa học cho thấy trong Ngũ gia bì gai có chứa anthranquinone, coumarin, flavonoid, saponin, đường khử, polyphenol, polysaccharid và acid amin; nồng độ các nhóm hợp chất như polyphenol, polysaccharid, flavonoid có nhiều hơn ở lá so với thân, rễ [15]. Tác dụng – Công dụng - Ngũ gia bì gai có tác dụng giảm đau nhức xương khớp, ngoài ra còn kích thích tâm thần; tăng cường tác dụng gây co giật của strychnin [11]. Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng terpenoid từ dịch chiết ether dầu hỏa và ethyl acetat của Ngũ gia bì gai có tác dụng chống ung thư [25]; polyphenol từ dịch chiết ethyl acetat của Ngũ gia bì gai có tác dụng chống viêm trên chuột thực nghiệm [32]. - Theo kinh nghiệm dân gian, Ngũ gia bì gai là một vị thuốc bổ, làm mạnh gân xương, thấp khớp, lưng gối mỏi đau [11].
Tiêu chuẩn đã công bố về dược liệu Ngũ gia bì gai Theo DĐVN V, tiêu chuẩn dược liệu Ngũ gia bì gai [1] như sau: Bảng 1. Một số chỉ tiêu đã công bố của dược liệu Ngũ gia bì gai STT Tiêu chí Yêu cầu 1 Mô tả Mảnh vỏ cuộn hình lòng máng, dài 10 cm đển 20 cm, chiều rộng 0,5 cm đến 1 cm, dày khoảng 1 mm đến 3 mm. Mặt ngoài có lóp bần mỏng, màu vàng nâu nhạt có một số đoạn rách nứt, đê lộ lớp trong màu nâu thầm. Mặt cắt ngang lởm chởm.
Vị chát nhẹ, giòn, hơi xốp. Mùi thơm nhẹ. 2 Vi phẫu Nhiều tế bào mô cứng hình chữ nhật hoặc hình nhiều cạnh màu vàng nhạt, thành rất dày, ống trao đổi rõ, đứng riêng lẻ hoặc tụ lại từng đám. Sợi thành dày, có ống trao đổi rõ.
Mảnh bần với tế bào hình nhiều cạnh, thành dày, màu vàng nhạt. Tế bào mô mềm hình nhiều cạnh, thành mỏng, chứa nhiều hạt tinh bột nhỏ hình nhiều cạnh, đơn hoặc kép. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai, có đường kính 12 µm đến 40 µm. 3 Bột Lớp bần gồm một sổ hàng tế bào hình chữ nhật, xếp chồng lên nhau thành dãy xuyên tâm đều đặn.
Tầng phát sinh bần lục bì gồm một lớp tế bào hình chữ nhật. Mô mềm gồm những tế bào thành mỏng, hình dạng méo mó. Trong mô mềm vò rải rác có ống tiết và tinh thể calci oxalat hình cầu gai. Sợi mô cứng 4 STT Tiêu chí Yêu cầu xếp thành từng đám rải rác theo một vòng không liên tục giữa ranh giới mô mềm và libe.
Vùng libe dày có các tia tủy xuyên tâm. Tầng sinh libe-gỗ. 4 Định tính Phương pháp sắc ký lớp mỏng. - Bản mỏng: Silica gel G.
- Dung môi khai triển: n – Butanol – ethanol – dung dịch amoniac (7:2:5). - Dung dịch thử. Ngâm 0,5 g bột dược liệu với 5 ml ethanol 80 % (TT), đun trong cách thủy khoảng 15 phút, lọc lấy phần dịch trong. - Dung dịch đối chiếu: Hòa tan acid oleanolic chuẩn trong cloroform (TT) để được dung dịch chứa 0,5 mg/ml.
- Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 20 µl dung dịch thử và 10 µl dung dịch đối chiếu. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra để khô ở nhiệt độ phòng. Phun dung dịch vanilin 1 % (TT) trong hỗn hợp đồng thể tích methanol (TT) và acid phosphoric (TT). sấy bản mỏng ở 120 °C khoảng 5 phút.
Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử xuất hiện 3 vết màu tím trong đó có 1 vết cùng giá trị màu và cùng Rf với vết của acid oleannolic trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu. 5 Độ ẩm Không quá 12,0 % 6 Tro toàn Không quá 6,5 % phần 7 Tro Không quá 4 % không tan trong acid 5 STT Tiêu chí Yêu cầu 8 Tạp chất Không quá 1,0 % Theo một số nghiên cứu, người ta chỉ ra rằng trong lá và rễ của Ngũ gia bì gai có chứa acid chlorogenic (CGA) [17], [32], [34], nên trong khóa luận này em tổng quan về CGA và các phương pháp định lượng CGA bằng HPLC. Tổng quan về CGA 1.
Công thức hóa học Hình 1. Cấu trúc hóa học của acid chlorogenic - Công thức phân tử: C16H18O9 - Trọng lượng phân tử: 354, 31 g/mol - Tên khoa học theo hệ thống IUPAC: (1S,3R,4R,5R)-3-[(E)-3-(3,4- dihydroxyphenyl) prop-2-enoyl] oxy-1,4,5-trihydroxycyclohexane-1-carboxylic acid - Tên khác: 3-O-Caffeoylquinic acid 3-(3,4-Dihydroxycinnamoyl) quinic acid 3-Caffeoylquinic acid (E)-chlorogenic acid [39]. Tính chất vật lý - Acid chlorogenic (CGA) là chất rắn, dạng bột màu trắng hoă ̣c hơi ngả vàng, tan được trong nước và trong dung môi hữu cơ như ethanol, methanol, dimethyl sulfoxyd, dimethylformamid. Đây là một chất khá bền vững, điều kiện bảo quản tốt nhất là 4 °C [10].
- Nhiệt độ nóng chảy: 205 – 209 °C; Độ hòa tan: 40 mg/mL ở 25 °C [40]. Tác dụng dược lý - CGA là một trong những hợp chất có nhiều trong tự nhiên, nhất là cà phê và trà xanh. Nó mang hoạt tính sinh học quan trọng, đóng vai trò như chất chống oxy hóa, chống viêm kháng khuẩn, chống viêm, bảo vệ một số cơ quan của cơ thể [29]. - Nghiên cứu của Lin Li, Congping Su và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng CGA có thể làm giảm nguy cơ tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, béo phì và tiểu đường loại 2 [26].