MỞ ĐẦU Bệnh tả (A00) là một bệnh tiều chẩy cấp gầy mất nước và điện giải trầm trọng trong vài giờ, có thể diễn tiến thành dịch lớn do vi trùng Vibrio ebolzrae [I]. Đây là một trong 3 bệnh tối nguy hiểm cẩn phải khai báo Quốc Tế và báo cáo định kỳ cho Tổ Chức Y tế Thể Giới. Bệnh thường xảy ra ở những nơi mà nguồn cung cấp nước sạch và tình trạng vệ sinh mới trường kém [2][3]I4]I5]. Dịch tỉ thường gầy ra những ảnh hưởng xấu đến ngành du lịch, kinh tế và xã hội.
Trên thể giới đã xẩy ra nhiều trận đại dịch gây chết hàng ngàn người như ở Ấn Độ và Ai Cập vào năm 1947. Thời gian qua tả vẫn còn xuất hiện tải rác ở nhiều nơi trền khắp thế giới như: tại Malaysia, Philippines (1996), Brasil (1999), Malawi, Mozambic (2002) với trên 50.000 người mắc và 1000 người chết. Gần đây nhất là vào 09/2005, dịch Tả đã bùng phát ở một số. quốc gia Tây Phi như: Benin, Burkina Faso, Guinea, Mali, Mauritania, Niger và Senegal với 43.279 mắc và 724 người tử vong[6].
Tại Việt Nam, tiêu chẩy cấp mà một dạng đặc biệt của nó là bệnh tả vẫn còn xẩy ra trền cả 3 miền: Bắc, Trung, Nam và là bệnh có số mắc cao trong số L0 bệnh mắc hàng đầu với suất mắc là 1124,96/L00. Tại vùng đồng bằng sóng Cửu Long thì bệnh vẫn xẩy ra quanh năm đo nơi đầy có những điều kiện thuận lợi để dịch lưu hành như: hệ thống sông ngòi chăng chị, hàng năm có mưa lũ cùng với khẩ năng tiếp cận, sử dụng nước sạch trong sinh hoạt và ý thức về vệ sinh môi trường của người đần nơi đầy còn thấp, đa số người dân nơi đầy đều có thói quen đi cầu ao cá thông với sóng hoặc đi cầu trực tiếp xuống sông tổi lại lấy nước sông sử dụng trong sinh hoạt [8][9][L0][L1][12]. Tại khu vực phía Nam dịch tả xảy quanh năm từ 18 năm 1990 đến năm 1999 và tạm ngủ yên trong năm 2000. Đến năm 2001 thì dich td tái bùng phát ở các tỉnh An Giang, Cà Mau, Kiên Giang [14].
Vấn để đặt ra là làm sao có thể dự báo được năm nào dịch tả sẽ bùng phát tại l địa phương hoặc năm nào dịch sẽ lan rộng cùng lúc nhiều địa phương? Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì việc dự báo tỉ chủ yếu dựa vào việc giám sát các ca TCC. Khi có sự tăng cao đột ngột số ca TCC, những. ca TCC nghỉ tỉ sẽ được xét nghiệm để xác định sự có mặt cia Vibrio cholerae [L3][L4][15]. Yêu cầu trong hệ thống này là số ca TCC phải được báo cáo một cách đẩy đủ, kịp thời và chính xác.
Tuy nhiên ở nước ta, hệ thống giám sát bệnh TCC chưa được quan tâm đúng mức, nhất là từ sau khi kết thúc chương trình phòng chống bệnh tiêu chẩy (CDD), việc thống ké báo cáo còn chậm trễ, số ca bệnh được báo cáo thường thiếu và khóng chính xác. Do đó nếu chỉ dựa vào giám sát số ca TCC ở nước ta, liệu có thể dự báo được dịch tả hay không? Do những hạn chế trên, thế giới đã có một số nghiên cứu nhằm xây dựng một mé hinh dy béo dich thong qua giám sát chủ động các yếu tổ vi sinh, nổi bật là hệ thống dự báo tả thông qua giám sát Kappaphage trong nước thải [L6][17][18]. Kappaphage là một thể thực khuẩn sống ký sinh trền vi khuẩn tả [19][20][21]122], vì vậy nơi nào có sự hiện diện của Kappaphage thì nơi đó có vi khuẩn tả lưu hành như trong nước sông, nước đá, nước sinh hoạt, nước thải,. Tuy nhiền, tại nước ta vẩn chưa có cổng trình nghiên cứu nào được thực hiện về vấn để này.
Mặt khác, tả là bệnh lan truyền qua đường nước, chịu tác động rất nhiều từ nguồn nước sinh hoat của người dán, đặc biệt là nguồn nước bề mặt. Nguồn nước bể mặt bị thiếu hoặc bị nhiễm bẩn sẽ là điều kiện thuận lợi cho. dịch tỉ bùng phát [23][24][25]. Vậy hiện có mới tương quan nào giữa dịch tả 19 với các yếu tế khí tượng thuỷ văn ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước khổng? Hiện nay, việc ứng dụng tỉn học trong quần lý số liệu về bệnh tật, các yếu tổ địa lý, khí tượng, thủy văn để từ đó phần tích, tìm mới tương quan giữa việc xuất hiện các loại bệnh tật với sự thay đổi khí hậu là một hướng ái hiệu quả, theo kịp xu hướng hiện đại và cẩn thiết trong việc giám sát, dự báo bệnh tật nhất là các loai bệnh truyền nhiễm.
Mặc dù đồng bằng sóng Cửu Long có vị trí quan trọng trong nền kinh tế đất nước, thế nhưng tình hình các loại dịch bệnh, đặc bi ệt là dịch tả thường diễn ra rất phức tạp, thất thường, khó dự đoán: có khi dịch xẩy ra trong nhiều năm liền tục, có khi một vài năm khóng phát hiện ca bệnh. Hơn nữa cổng tác giám sát và cảnh báo địch t hiện nay chưa được thực hiện một cách chủ động và có hiệu quả do đó mà việc phòng chống dịch thường không chủ động và lúng túng. Trước tình hình đó thì việc xảy dựng chỉ số dự báo tả thớng qua việc khảo sát tất cả các mối tương quan giữa tả với các yếu tố. TCC, vi sinh, khí tượng thuỷ văn giúp phòng chống dịch chủ động, hiệu quả là tất cần thiết.
Vì vậy để tài này được thực hiện với các mục tiều sau: MỤC TIÊU 1. Mục tiêu chưng Xây dựng chỉ số dự báo sự khả năng xảy ra dịch tả (A00) dựa vào các số liệu giám sát về dịch tễ học, vi sinh học, địa lý và khí hậu nhăm phòng chống dịch tả kịp thời và hiệu quả, khổng để dịch bùng phát, lầy lan. Mục tiêu cụ thể 2. Xây dựng số liệu nền về dịch tễ của các ca tiều chảy cấp (TCC), tả tại các điểm nghiền cứu từ năm 1995 đến năm 2003, từ đó xáy dựng đường cong TCC trung bình 5 năm để làm ngưỡng dự báo dịch.
Tìm hiểu sự thay đổi típ huyết thanh của Vibzi2 cholerae gây bệnh từ năm 1995 đến năm 2005 từ đó tìm ra chỉ số dự báo dịch dựa vào sự. thay đổi típ huyết thanh của Vibri2 cholerae. Xác định sự có mặt của Kappaphage trong phần và trong mới trường nước (Nước đá, nước uống, nước sinh hoạt, nước thải, nước sồng) tại điểm nghiền cứu để từ đó có thể tìm thấy nguy cơ của sự lan truyền dịch tả. Xây dựng số liệu nền khí tượng thuỷ văn (Nhiệt độ, mực nước sông, lượng mưa) từ năm 1995 đến năm 2005 tại các điểm nghiền cứu.
Xác định mới liền quan giữa tỉ với TCC và các yếu tế khí tượng thủy văn để từ đó tìm ra chỉ số dự báo td, TCC theo các yếu tố khí tượng, thuỷ văn. Xây dựng phần mềm ứng dụng cho việc quản lý và phần tích số liệu cho dự báo khả năng xảy ra dich ta va TCC. PHUONG PHAP NGHIÊN CỨU 1. Thời gian nghiên cứu Từ 0108/2003 đến 31/12/2005.
Địa điểm nghiên cứu an on Hình 1: Bản đồ vị trí các tỉnh tham gia nghiên cướ ở khu vực phía Nam - Chon 3 tinh An Giang, Cà Mau và Kiền Giang là những tỉnh năm ở vị trí thượng nguồn sông Cửu Long, giáp ranh với Cam Pu Chia, thuộc vùng tứ giác Long Xuyến và bán đảo Cả Mau. —_ Những tỉnh này có đặc điểm địa lý và sinh thái thuận lợi để bệnh tả lưu hành và có khẩ năng bùng phát thành dịch. 2 —_ Trong mỗi tỉnh chọn 3 huyện có sổ TCC cao và từng xấy ra dịch tỉ trong vòng từ 5 đến 10 năm qua. ~— Mỗi huyện chọn 2 xã tưởng đồng với nhau vẻ điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong đó một xã có dịch tả trong quá khứ và một xã không có dịch tả.
Các tỉnh, huyền, xã của 3 tỉnh được chọn theo tiéu chuẩn trên gồm: Tinh Huyén/Thanh pho | Xa c6 td Xã không có tả Long Xuyên Mỹ Phước Mỹ Thới An Giang Châu Thành Cần Đăng Vĩnh An Châu Phú Binh Long ‘Vinh Thanb Trung Thới Bình. Trí Phải Tần Lộc Ca Mau U Minh Khánh Hoà Khánh Tiến Cái Nước Đông Thới Mỹ Hưng Hon Dat Thổ Sơn Bình Sơn Kiền Giang Châu Thành Vĩnh Hoà Hiệp | Mong Thọ A Tả Tiền Thuận Yên Mỹ Đức 23 2. Tỉnh Án Giang nh So tn Thay Sơn Hình 2: Bản đồ hành chính tỉnh Án Giang Tỉnh An Giang có tổng di tích là 36.735 Km”, dần số: 2. An Giang là tỉnh thuộc vùng sinh thái nước ngạt, tuy nhiền Án Giang lại có chung đường biên giới với Cam Pu Chia nén việc giám sát và phòng chống tả là hết sức khó khăn.
Trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến năm. 1999 thì dịch tả xảy ra thường xuyên tại tỉnh An Giang, đặc biệt là vào năm. 1995 thì dịch tỉ bùng phát tại đầy với số nh nhân cao kỷ lục là 99 người. Mặc dù dịch tẩ ngủ yên trong các năm 2000 và 2001 nhưng đến năm 2002 dịch lại tái xuất hiện với 43 người mắc bệnh.
Tinh Ca Mau -* “rx ca Nu Tein Ve Tro get Hinh 3: Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau Tỉnh Cà Mau có tổng diện tích là 52.104 Km’, dần số:. Mặc dù tỉnh Cà Mau có vị trí địa lý thuộc vùng sinh thái nước mặn nhưng do tình trạng ngọt hoá cho nền trên thực tế tỉnh Cà Mau mang nhiều đặc điểm sinh thái của vùng nước mặn và nước lợ. Đáy là điều kiện thuận lợi để phẩy khuẩn tả tổn tại lầu trong mới trường và có khả năng phát dịch. Theo số liệu thống kê từ năm 1995 đến năm 2002 thì dịch tả thường xuyên xdy ra tại đây.
Tỉnh Kiên Giang She cute a Hinh 4: Ban đồ hành chính tỉnh Kiên Giang Tỉnh Kiên Giang có tổng diện tích là 63.306 Km”, dần số: 1. Đây là một tỉnh vừa có đặc điểm sinh thái của vùng nước lợ như tỉnh Cà Mau, vừa tấp ranh với Cam Pu Chia nền tình hình dịch tả ở đầy hết sức phức tạp. Mặc dù từ năm 1995 đến năm 2001 dịch tỉ không xảy ra tại đẩy nhưng, đến năm 2002 thì lại bùng phát thành dịch lớn với 52 người bị mấc bệnh. Thiết kế nghiên cứu — Hồi cứu số liệu của các bệnh nhân tả và tiêu chảy cấp vẻ dịch tế, vi sinh và các yếu tố khí tượng thuỷ văn (nhiệt độ, lượng mưa và mức nước sóng) của 3 tỉnh: Án Giang, Cà Mau, Kiên Giang từ năm 1995 đến năm 2003, từ đó xây dựng đường cong trung bình 5 năm của các chỉ số này để có thể xây dựng chỉ số dự báo dịch.
26 — Tiển cứu các chỉ số trên để dự báo dịch trong các năm nghiền cứu (2004 ~ 2005). Bất đầu nghiên Kết thúc nghiền.