CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây cam 1. Nguồn gốc và phân loại cam quýt 1. Nguồn gốc Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, hoặc Nam Á có thể từ Ấn Độ, hay miền nam Trung Quốc, trong đó có một vài loài hiện diện từ đông bắc Ấn Độ đến Myanma và trải dài tới phía nam đảo Hải Nam.
Theo Trần Thế Tục, nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3000 đến 4000 năm trước. Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã ghi chép về phân loại các giống ở Trung Quốc, điều này cũng khẳng định thêm về nguồn gốc các giống cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc Tanaka [18]. Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) và quất là ở miền Nam Việt Nam xứ Đông Dương. Quả thực ở Việt Nam địa phương nào cũng trồng cam sành với rất nhiều giống, hình dạng cùng với các tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: cam sành Bố Hạ; canh sành Hàm Yên, Yên Bái; cam sen Yên Bái, cam sen Đình Cả - Bắc Sơn, cam bù Hà Tĩnh.
Phân loại Hệ thống phân loại cam quýt rất phức tạp do vòng di thực và khả năng thích ứng rộng, ngày càng có nhiều các dạng lai tự nhiên, các đột biến 4 tự nhiên và quá trình chọn giống nhân tạo đã tạo nên nhiều giống mới, loài mới [18]. Cam, quýt, chanh, bưởi. đều thuộc họ cam (Rutaceae) họ phụ cam quýt Aurantoideae, có gần 250 loài (Varonxôp, Steiman,1982). Hệ thống phân loại đầu tiên của Liné (1753) đến nay đã được nhiều tác giả bổ sung, điều chỉnh trên căn bản thống nhất với hệ thống phân loại của Swingle (1915, 1948, 1967) như sơ đồ 1.
Họ phụ Aurantoideae được chia thành hai tộc chính là Clauseneae (1) và Citreae (2). Tộc 2 được chia thành ba tộc phụ, trong đó tộc phụ thứ 2 - Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện nay. Citrineae được chia thành ba nhóm A, B, C. Nhóm C được chia thành 6 chi phụ (subgenus): Fortunella, Eremocitrus, Poncirus, Clymenia, Microcitrus và Citrus.
Chi Forrunella có 4 loài chính, có nguồn gốc và vùng phân bố chính từ nam Trung Quốc đến Đông Dương, Malayxia (T. Chi Poncirus chỉ có một loài: Poncirus trifoliata có nguồn gốc từ nam Trung Quốc, lá chia ba thuỳ, vỏ và thịt quả có nhiều dầu đắng. Ở nước ta có nhiều giống cam quýt có nguồn gốc lai với poncirus. Poncirus thường được dùng làm gốc ghép cho các giống cam quýt ở các vùng á nhiệt đới từ vĩ độ 28 – 40o vĩ độ nam và bắc bán cầu.
Chi Citrus được chia thành hai chi phụ là Eucitrus và Papeda. Papeda có 6 loài, quan trọng nhất là Citrus Ichangensis được sử dụng làm gốc ghép và lai tạo giống mới. 9 loài quan trọng nhất của cam quýt bao gồm: quýt (Citrus reticulata Blanco); bưởi chua (Citrus maxima); cam ngọt (Citrus sinensis Osbeck); chanh (Citrus limoniae Osbeck, Reisa Ostind) [12]; Laime (Citrus aurantifolia Swingle); Tahiti laime (Citrus latifolia); cam chua (Citrus 5 aurantium); bưởi chùm (Citrus paradishi Macfe) và chanh yên (Citrus medica) [18]. Đặc điểm sinh học Một đời cây cam có thể chia thành các thời kì sau: - Thời kì cây non là thời kì kiến thiết cơ bản: tính từ khi trồng đến khi bắt đầu thu hoạch quả.
- Thời kì mới thu hoạch: là những năm đầu mới thu hoạch quả. - Thời kì cho sản lượng cao: cây đã ổn định về sinh trưởng và cho năng suất thu hoạch cao. - Thời kì suy yếu và tàn lụi. Thời gian của mỗi thời kì dài hay ngắn tuỳ thuộc vào các điều kiện thời tiết, khí hậu, đất đai, kỹ thuật thâm canh, giống và giống gốc ghép.
Ở nước ta các giống cam nhanh chóng bước vào thời gian kinh doanh khai thác hơn ở các vùng khác trên thế giới, nhưng tuổi thọ thường ngắn hơn. Ở điều kiện nước ta, một năm cây cam có thể cho từ 3 - 4 đợt lộc: - Lộc xuân: từ cuối tháng 2 đến đầu thàng 3 và có thể sớm hơn. Nhiều năm từ đầu tháng 1 đã có lộc xuân và nụ hoa thấy rõ. Ở các tỉnh phía Bắc, 50 - 60% lộc xuân cây cam là cành hoa, cành quả (tỷ lệ này thay đổi tuỳ theo giống).
- Lộc hè: từ cuối tháng 5 đến tháng 7. Lộc hè bắt đầu sớm hay muộn, nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào giống và điều kiện thời tiết từng năm. - Lộc thu: từ tháng 8 đến tháng 9. Hai đợt lộc hè và lộc thu chủ yếu hình thành các cành sinh dưỡng và cành quả.
Người ta có thể nhìn vào lộc hè và lộc thu mà dự đoán năng suất của năm sau. Có thể dùng kỹ thuật bón phân, tưới nước để xúc tiến mạnh số lượng cũng như chất lượng của các loại cành này [18]. Rễ cam Các giống cam thường trồng bằng hạt có một rễ cái và nhiều rễ nhánh, từ rễ nhánh mọc ra các rễ lông yếu ớt. Nếu đất tơi xốp và thoát nước tốt rễ có thể mọc sâu trên 4m [16].
Rễ cam thuộc loại rễ nấm (Micorhiza). Nấm Micorhiza kí sinh trên lớp biểu bì của rễ hút, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các chất hữu cơ cho cây. Vai trò của Micorhiza như những lông hút ở các cây trồng và thực vật khác. Cũng do đặc điểm này nên cam không ưa trồng sâu và do đó bộ rễ cam phân bố rất nông và phát triển mạnh chủ yếu là rễ bất định, phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt.
Sự phân bố các tầng rễ cam tuỳ thuộc vào từng loại đất: độ dày tầng đất mặt, thành phần hoá học và mực nước ngầm, đặc biệt là các biện pháp kỹ thuật canh tác như làm đất, bón phân và hình thức nhân giống, giống gốc ghép và giống cây trồng. Các cây cam nhân giống bằng hạt và ghép lên gốc ghép gieo hạt có bộ rễ ăn sâu nhưng phân bố hẹp và ít rễ hút. Cây chiết và cây giâm cành có bộ rễ ăn nông nhưng nhiều rễ hút, phân bố rộng và tự điều tiết được tầng sâu phân bố theo sự thay đổi của điều kiện sinh thái đặc biệt là mực nước ngầm. Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất.
Khi rễ hoạt động mạnh, các rễ lông phát triển thì thân cành sẽ hoạt động chậm và ngược lại. Sự hoạt động của bộ rễ thường kéo dài sau các đợt cành mọc rộ, do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triển đầy đủ sẽ có tác dụng cung cấp tốt dinh dưỡng cho cây [18]. Đất vùng đồng bằng sông Cửu long thường là đất thấp, do đó các giống cam quýt trồng bằng hạt hay gốc thấp có rễ mọc sâu thường dễ bị ảnh hưởng do mực nước ngầm cạn làm rễ cây bị suy yếu. Ngược lại, các cây chiết hay giâm cành thường có rễ ăn cạn hơn nên ít bị ảnh hưởng.
7 Các cây ghép trên gốc ghép chấp Thái Bình, gốc bưởi chùm và bưởi chua, gốc cam chua Hải Dương, cam voi Quảng Bình và cam chua Đạo Sử có bộ rễ ăn sâu hơn. Ghép trên các gốc ghép là quýt Cleoparte, chanh sần, chanh ta và chanh Eureka có bộ rễ ăn nông hơn, nhưng rộng hơn và nhiều rễ hút hơn [18]. Giống cam trồng trên đất Phủ Quỳ (phù sa cổ và bazan) có bộ rễ phân bố sâu hơn ở các vùng đất khác (Trần Thế Tục, 1980 - 1984) [18]. Nhìn chung rễ cam phân bố ở tầng sâu từ 10 – 30cm.
Rễ hút tập trung ở tầng sâu 10 – 25cm. Rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 – 8 năm tuổi sau khi trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém. Ở nước ta từ tháng 2 đến tháng 9 dương lịch rễ cam sinh trưởng và hấp thu dinh dưỡng mạnh nhất [18]. Thân và cành cây cam Cây cam thuộc dạng thân gỗ, dạng bụi hay nửa bụi.
Một cây trưởng thành có thể có 4 – 6 cành chính. Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì cam sẽ rất ít khi có thân chính. Tuỳ theo tuổi cây và điều kiện sống, hình thức nhân giống cây có thể có chiều cao và hình thái khác nhau. Ví dụ như: Cam sành Lạng Sơn 25 tuổi cao 17cm, cây phân cành hướng ngọn, tán hình chổi sể và phân cành thưa; Cam Vân Du 9 năm tuổi trồng ở Nghệ An, Hà Tĩnh có chiều cao 4,82m, đường kính tán 4,28m, đường kính gốc 16cm, tán hình trụ hoặc hình cầu, phân cành nhiều [18].
Ở hai huyện Phủ Quỳ và Hương Sơn - Hà Tĩnh, một số giống cam ghép trên gốc bưởi chua có đặc điểm sinh trưởng về thân và cành rất khác nhau: 8 Bảng 2. Sinh trưởng của một số giống cam ở Phủ Quỳ và Hương Sơn - Hà Tĩnh ghép trên gốc bưởi chua Tuổi Chiều Đường Đường kính TT Nơi trồng Tên giống cây cao cây kính thân tại gốc (năm) (m) tán (m) (cm) 1 Phủ Quỳ Cam Vân Du 9 4,82 4,28 16,24 2 Phủ Quỳ Cam Xã Đoài 9 3,53 4,18 12,45 3 Phủ Quỳ Cam Sông Con 9 3,76 3,45 12,25 4 Phủ Quỳ Cam Hamlin 9 4,84 3,79 11,10 5 Phủ Quỳ Orlidar 9 4,74 3,96 11,57 Valencia 6 Hương Cam Bù CB1 11 3,28 3,75 12,70 Sơn 7 Hương Cam Bù CB2 11 3,60 3,80 13,70 Sơn Hình thái tán cây cam rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa, phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình tròn, hình cầu, hình tháp hoặc hình chổi sể. Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể có gai khi còn non và rụng gai khi cây đã lớn, già. Một số giống loài không có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện rất nhiều gai trên thân và cành, nhưng càng ở cấp cành cao thì càng ít gai và gai ngắn [18].
9 Trong một năm cây có thể cho 3 - 4 đợt cành. Tuỳ theo chức năng của cành trên cây thì trên cây cam có các loại cành chủ yếu sau: - Cành mẹ: Là những cành tạo ra cành cho trái, thường phát triển mạnh trong mùa hè và mùa thu. Cành to khoẻ, lâu tròn mình. Cần nắm vững thời vụ ra cành mẹ để có biện pháp bồi dưỡng tích cực giúp cây tạo được nhiều cành cho trái hơn trong mùa xuân.
- Cành dinh dưỡng: Chỉ chung tất cả các loại cành trong giai đoạn chưa ra hoa, trái, thường mọc ra ở các mùa trong năm. - Cành vượt: Là loại cành mọc thẳng lên trong tán cây từ những cành chính hay thân. Cành mọc trong mùa hè, phát triển mạnh, dẹp, màu xanh, lá to bóng láng, đôi khi có gai dài.