Chương 1 – Tổng quan về đơn lớp Langmuir và kỹ thuật quang phổ học dao động tần số tổng. Chương 2 – Quy trình tạo mẫu đơn lớp Langmuir AA và hệ đo tín hiệu SFG. Chương 3 – Kết quả và thảo luận. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN LỚP LANGMUIR VÀ KỸ THUẬT QUANG PHỔ HỌC DAO ĐỘNG TẦN SỐ TỔNG 1.1 Tổng quan về đơn lớp Langmuir 1.1 Đơn lớp Langmuir Đơn lớp Langmuir là một đơn lớp đơn phân tử được hình thành trên mặt phân cách không khí/chất lỏng.
Các phân tử như axit béo, lipid và rượu chuỗi dài có cả phần ưa nước và kỵ nước có thể hình thành đơn lớp Langmuir. Sự hình thành đơn lớp có thể được thực hiện bởi sự tự sắp xếp của các phân tử không hòa tan tại bề mặt của một chất lỏng. Các chất có hoạt tính bề mặt không tan trong nước có thể dễ dàng trải đều trên bề mặt nước bằng cách hòa tan chất đó vào dung môi dễ bay hơi tạo thành dung dịch lỏng. Sau một thời gian nhỏ dung dịch lỏng trên bề mặt nước, dung môi sẽ bay hơi và rồi hình thành một đơn lớp không hòa tan có độ dày một phân tử tại mặt phân cách không khí/nước [14].
Các hợp chất thông thường được sử dụng để tạo các đơn lớp Langmuir là các chất hoạt động bề mặt bao gồm một nhóm chức ưa nước và một đuôi kị nước. Các chất hoạt động bề mặt bao gồm: chất béo, axit béo, rượu, protein, và nhiều phân tử sinh học khác. Bản chất của tính vừa kị nước vừa ưa nước của các chất hoạt động bề mặt gây ra định hướng của chúng tại mặt phân cách hai môi trường: đầu ưa nước (thường là các nhóm chức phân cực) bị nhúng chìm trong nước, còn đuôi kị nước (chuỗi hidrocacbon) hướng về phía không khí (xem hình 1. Chuỗi hidrocabon của chất được dùng để nghiên cứu đơn lớp phải đủ dài để làm cho các phân tử không hòa tan trong nước và nhóm chức ưa nước phải có sự hấp thụ vừa đủ đối với nước để giữ các phân tử ở mặt phân cách, khi đó các phân tử trên bề mặt nước hình thành một hệ hai chiều kín.
Hơn nữa, các chất tạo đơn lớp phải hòa tan trong các dung môi hữu cơ dễ bay hơi như chloroform hoặc hexane và không hòa tan trong nước [4]. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chuỗi hidrocacbon Nhóm chức phân cực Hình 1. Mô hình đơn lớp Langmuir tại mặt phân cách không khí/nước [12]. Trong những năm đầu thế kỷ 20, Irving Langmuir - một nhà hóa học và vật lý học người Mỹ - là người đầu tiên thực hiện các nghiên cứu có hệ thống về các đơn lớp nổi trên mặt nước.
Ông là người đầu tiên đưa ra một sự hiểu biết hiện đại về cấu trúc đơn lớp ở cấp độ phân tử, đặc biệt là các phân tử cho thấy một sự định hướng ưu tiên. Các hệ thống để nghiên cứu đơn lớp nổi trên mặt nước hiện nay mang tên ông: Langmuir film. Năm 1932, ông được trao giải Nobel cho nghiên cứu của mình [13]. Cấu trúc, tính chất cơ học và tính chất động lực học của chúng phụ thuộc nhạy cảm vào cấu trúc hóa học của phân tử cấu tạo đơn lớp.
Để hiểu rõ về tính chất này tôi sẽ trình bày trong phần tiếp theo.2 Tính chất nhiệt động lực học của đơn lớp Langmuir 1.1 Sức căng bề mặt - áp suất bề mặt của đơn lớp Langmuir Các phân tử trong chất lỏng luôn chịu ảnh hưởng của các lực phân tử từ các phân tử xung quanh. Với các phân tử nằm ở giữa chất lỏng, chúng được bao quanh một cách đối xứng bởi các phân tử chất lỏng cùng loại khác, nên lực tổng cộng được cân bằng hay có độ lớn bằng không. Ở trên bề mặt chất lỏng, một bên các phân tử bị các phân tử cùng loại tương tác với lực khác bên kia do các phân tử 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác loại. Do đó, các phân tử này có khuynh hướng bị hút vào trong khối chất lỏng và tạo ra một sức căng tại bề mặt (Hình 1.
Trong vật lý học, sức căng bề mặt (còn gọi là năng lượng bề mặt hay ứng suất bề mặt, thường viết tắt là σ hay γ) là mật độ dài lực xuất hiện ở bề mặt giữa chất lỏng và các chất khí, chất lỏng hay chất rắn khác. Sức căng bề mặt được định nghĩa là lực căng trên một đơn vị chiều dài cắt ngang bề mặt. Trong hệ đo lường quốc tế, sức căng bề mặt được đo bằng Newton trên mét (N·m-1). Sức căng bề mặt có bản chất là chênh lệch lực hút phân tử khiến các phân tử ở bề mặt của chất lỏng thể hiện đặc tính của một màng chất dẻo đang chịu lực kéo căng như trường hợp bề mặt giọt nước trong không khí, hay đẩy nó ra phía ngược lại, như trường hợp giọt nước bám vào thành ống mao dẫn.
Đây là hiệu ứng làm cho giọt nước trong không khí có hình cầu, hỗ trợ thực vật vận chuyển nước từ rễ lên đến lá thông qua hệ mạch dẫn phloem bằng hiện tượng mao dẫn, giúp nhện nước bò trên mặt nước, giải thích trạng thái cân bằng của nhũ tương (từ nước từ đến phế nang trong phổi) cũng như tác dụng tẩy rửa của xà phòng nói riêng hay hoạt tính nói chung của chất hoạt hóa bề mặt [30]. Mô hình lực tác dụng của các phân tử nằm trong (A) và trên (B) bề mặt chất lỏng. Các đặc tính sức căng bề mặt của một chất lỏng cơ bản luôn ổn định nhưng có thể được thay đổi bằng cách thay đổi nhiệt độ, thêm hóa chất để thay đổi các đặc tính liên kết của các phân tử, quá trình oxy hóa và sự có mặt của các tạp chất. Khi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệt độ giảm, sức căng bề mặt tăng lên.
Ngược lại, khi sức căng bề mặt giảm mạnh; các phân tử trở nên hoạt động hơn với sự gia tăng nhiệt độ, sức căng bề mặt bằng không tại điểm sôi của nó và dần biến mất ở nhiệt độ giới hạn. Khi thêm hoá chất vào chất lỏng sẽ thay đổi các đặc tính sức căng bề mặt của nó. Ảnh hưởng của việc thêm một hóa chất không liên quan đến các chất, và do đó làm thay đổi sức căng bề mặt của nó, được chứng minh bằng những ví dụ về việc đưa xà phòng (bề mặt) trong nước để giảm sức căng bề mặt, cho phép các bụi bẩn trên bàn tay dễ dàng hơn trong pha trộn với nước. Quá trình oxy hóa trực tiếp ảnh hưởng đến sức căng bề mặt.
Khi sức căng bề mặt tăng lên, lực giữa các phân tử tăng. Oxy trong không khí được biết là làm giảm sức căng bề mặt của các chất khác nhau. Sự xuất hiện của các tạp chất trên bề mặt, hoặc hòa tan trong một chất trực tiếp ảnh hưởng đến sức căng bề mặt của chất lỏng. Sức căng bề mặt sẽ tăng khi các tạp chất hòa tan cao được thêm vào nó [30].
Khi một đơn lớp chất hoạt tính trải rộng trên bề mặt nước để làm tăng diện tích bao phủ, sức căng bề mặt bị giảm bởi sự tương tác với không khí của chuỗi hidrocabon kém hơn so với các phân tử nước. Điều này có thể hiểu là khi diện tích/phân tử càng lớn thì khoảng cách giữa các phân tử liền kề càng lớn, nên tương tác giữa các phân tử đó yếu. Áp suất bề mặt chính là sự chênh lệch giữa sức căng bề mặt thực γ0 (chưa có đơn lớp hình thành) và sức căng bề mặt của mặt phân cách có đơn lớp γ. Áp suất bề mặt được cho bởi công thức dưới đây [16]: 0 – (1.1) Đặc trưng của đơn lớp của một chất có thể dễ dàng thu được bằng phép đo đường đẳng nhiệt áp suất–diện tích/phân tử -A tại mặt phân cách nước/không khí.
Điều này được trình bày trong phần tiếp theo.2 Sơ đồ trạng thái của đơn lớp Langmuir Đơn lớp Langmuir đã được các nhà khoa học cơ bản quan tâm vì chúng là các hệ mô hình 2 chiều (2D) mà hiện tượng nhiệt động lực học có thể nghiên cứu. Ví dụ, tương tự như áp suất (p) và thể tích (V) trong hệ 3 chiều, người ta thấy các số lượng tương ứng của sức căng bề mặt ( ) và diện tích/ phân tử (A) trong hệ 2D. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giống như đường đẳng nhiệt p-V của hệ 3D, đường đẳng nhiệt -A của hệ 2D đi qua các pha khác nhau của hệ [14]. Đường đẳng nhiệt -A được đặc trưng bởi các trạng thái khác nhau được xác định thông qua cấu trúc của đơn lớp ở mức độ phân tử, cũng ảnh hưởng đến cấu trúc nước ở mặt phân cách bên dưới đơn lớp.
Đường đẳng nhiệt liên hệ giữa áp suất ( ) và diện tích /phân tử (A) và các trạng thái khác nhau của một đơn lớp Langmuir điển hình được thể hiện ở hình 1. Đường đẳng nhiệt thể hiện sự liên hệ giữa áp suất bề mặt ( ) và diện tích /phân tử (A) [14]. Trong pha khí (A ≥ 400 Ǻ2 - không chỉ ra trên hình 1.3) nghĩa là các phân tử chiếm một diện tích lớn, với các phân tử có một chuỗi alkyl đơn, cấu trúc của chuỗi này rất hỗn loạn và tương tác giữa các phân tử rất yếu. Với A đủ nhỏ khi giảm diện tích đơn lớp trên số phân tử, đơn lớp tồn tại ở pha lỏng mở rộng LE , trong đó sự tương tác giữa các chuỗi alkyl trở nên đáng kể.
Sự sắp xếp của các phân tử vẫn còn lỏng lẻo, vẫn có khoảng trống làm cho cấu trúc mất trật tự. Khi A giảm, trạng thái của đơn lớp chuyển sang pha lỏng mở rộng (LE) và pha lỏng xếp chặt (LC). Tại đây áp suất gần như không đổi với sụ thay đổi đáng kể của A. Khi A giảm tới một 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá trị cụ thể, áp suất bề mặt bắt đầu tăng bởi các phân tử gây ra hiệu ứng đẩy lẫn nhau.
Tại điểm đó, đơn lớp bắt đầu ở pha LC, các phân tử sắp xếp chặt hơn với tương tác liên chuỗi mạnh. Khi đó, áp suất tăng rất nhanh với chỉ sự thay đổi nhỏ giá trị A. Các đơn lớp ở pha LC có thể trải qua các dịch chuyển pha như trạng thái xếp chặt không nghiêng và trạng thái xếp chặt nghiêng để làm tối thiểu hóa năng lượng tự do của hệ. Hệ sẽ ở trạng thái cân bằng với các phân tử sắp xếp một cách trật tự.