Chương 1 Học thuyết Grice 1.1 Hai loại suy luận Hiện tượng một câu có khả năng chuyển tải nhiều thông tin hơn những gì nằm trong “nghĩa đen” của nó có thể được minh hoạ bằng ví dụ sau. Hãy tưởng tượng bạn là một người trong ban tuyển sinh và đọc được (1) trong bức thư giới thiệu sinh viên X do giáo sư của X viết. (1) X viết chữ đẹp và đi học đều Chúng ta đều có thể đồng ý rằng (1) trong hoàn cảnh trên mang những ý nghĩa sau. X viết chữ đẹp b.
X đi học đều Tuy nhiên, ngoài (2a) và (2b), chúng ta còn suy được từ (1) thêm ít nhất một ý nữa, đó là (3). (3) (Người nói tin rằng) X không phải là một sinh viên giỏi Trực giác ngôn ngữ cho phép chúng ta chia ba suy luận trên thành hai loại. Loại thứ nhất gồm (2a) và (2b), và là những suy luận “bất khả huỷ” (“non- cancelable”), tức những suy luận mà ta không thể phủ định mà không đồng thời phủ định mệnh đề được phát ngôn. Điều này có thể thấy rõ qua sự mâu thuẫn của hai biểu thức sau.
#X viết chữ đẹp và đi học đều, và X viết chữ rất xấu. #X viết chữ đẹp và đi học đều, và X rất hay nghỉ học. Loại suy luận thứ hai là những suy luận “khả huỷ” (“cancelable”), tức những suy luận mà ta có thể phủ định mà không đồng thời phủ định mệnh đề được 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát ngôn. (5) X viết chữ đẹp và đi học đều, và đồng thời là một sinh viên giỏi Trong luận văn này, tôi sẽ theo giả định chung trong cộng đồng chuyên môn và coi những suy luận bất khả huỷ là những suy luận nảy sinh từ “nghĩa gốc” của câu, tức nảy sinh từ nghĩa từ điển của các từ và cách thức chúng kết hợp với nhau trong câu.
Nói cách khác, những suy luận bất khả huỷ, mà từ đây ta sẽ gọi là những “hàm ý” (“entailments”), sẽ được coi là hệ quả trực tiếp của cú pháp học (syntax), hệ thống những quy tắc xác định hình thức của câu, và ngữ nghĩa học (semantics), hệ thống những quy tắc xác định nội dung của câu dựa trên cấu trúc cú pháp của nó, với khái niệm “nội dung” được hiểu là thông tin về những điều kiện cần và đủ cho chân trị (“truth conditions”) của câu (xem Wittgenstein 1921, Montague 1974, Partee 1975, Bach 1989, Heim and Kratzer 1998, v.1 Ngoài ra, tôi cũng sẽ theo giả định chung trong cộng đồng chuyên môn và coi những suy luận khả huỷ, mà từ đây ta sẽ gọi là những “hàm ngôn” (“implicatures”), là những suy luận nảy sinh từ những suy luận bất khả huỷ và những giả thiết về hội thoại nói riêng hoặc/và hoạt động trao đổi thông tin nói chung (xem Levinson, Geurts, Spector.2 Những giả thiết này là một chủ đề nghiên cứu quan trọng của bộ môn “ngữ dụng học” (“pragmatics”). Ta có thể nói một cách hình ảnh rằng ngữ dụng học nghiên cứu con đường đi từ những suy luận bất khả huỷ tới những suy luận khả huỷ (trong số những thứ khác). Sơ đồ sau minh hoạ những gì vừa được nói. (7) Suy luận của người nghe từ (1) đến (3) 1 Xuất phát điểm của cách tiếp cận ngữ nghĩa này là tiên đề mang tính hết sức trực giác sau: hiểu nghĩa của một câu S có nghĩa là biết khi nào S đúng, tức biết nội dung của “.” trong mệnh đề “S đúng khi và chỉ khi .” 2 Lưu ý rằng trong những phần trước, tôi sử dụng khái niệm “hàm ngôn” với cái nghĩa được diễn tả trong một số tài liệu khác, trong đó có Grice (1967), bằng khái niệm “hàm ngôn hội thoại.” Tôi làm như vậy một phần vì muốn theo cách gọi của nhiều tác giả hiện nay (xem Fox 2007b, Katzir 2007, Chierchia G.
and Spector 2012, Chemla and Singh 2014, Tue Trinh 2015, v.), nhưng phần chính là vì hàm ngôn hội thoại là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn này. Cái mà Grice gọi là “hàm ngôn quy ước” (“conventional implicatures”), còn được gọi là “tiền giả định” (“presuppositions”) bởi một số các tác giả khác, không nằm trong phạm vi của thảo luận về vấn đề đối xứng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (i) nếu S tin rằng X giỏi, S sẽ nói là X giỏi BS (p) → AS (p) (ii) S không nói là X giỏi ¬AS (p) (iii) S không tin là X giỏi ¬BS (p), suy từ (i) & (ii) (iv) S biết X có giỏi không BS (p) ∨ BS (¬p) (v) S tin là X không giỏi BS (¬p), suy từ (iii) & (iv) Đây là một miêu tả có phần dễ dãi và thiếu sót ở nhiều khía cạnh, nhưng nó đủ, ít nhất là tại thời điểm này, để cho thấy sự khác nhau về vị trí trong kiến trúc lý thuyết giữa hàm ý và hàm ngôn, hay nói khái quát hơn và đơn giản hơn là sự phân chia lao động (division of labour) giữa ngữ nghĩa học và ngữ dụng học.2 Những phương châm hội thoại Grice (1967) đưa ra giả thiết rằng hội thoại diễn ra dưới tiền giả định rằng người nói tuân theo và biết là người nghe biết là mình tuân theo “Nguyên tắc Hợp tác” (“Cooperative Principle”) sau. Phần này sẽ giới thiệu những phương châm hội thoại của Grice bằng cách cho thấy chúng là những yếu tố cần thiết trong một lý thuyết có khả năng giải thích một tập hợp những quan sát thực tế liên quan đến trực giác về ngôn ngữ và không giải thích được bằng cú pháp và ngữ nghĩa học.1 Quan hệ (Relation) Chúng ta sẽ bắt đầu với phương châm mang tên “Quan hệ”.
Hãy quay lại với bức thư giới thiệu ở phần trước, và hãy đặt câu hỏi tại sao không ai đọc nó và đi đến kết luận rằng S không tin là X hút thuốc, bằng lập luận sau (q = X hút thuốc). 3 Tiếng Anh: “Make your conversational contribution such as is required, at the stage at which it occurs, by the accepted purpose or direction of the talk exchange in which you are engaged.” 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (9) (i) nếu S tin rằng X hút thuốc, S sẽ nói như vậy BS (q) → AS (q) (ii) S không nói là X hút thuốc ¬AS (q) (iii) S không tin là X hút thuốc ¬BS (p), từ (i) & (ii) Rõ ràng, đây là lập luận của một người “không bình thường”. Câu hỏi chúng ta cần phải đặt ra là tại sao người bình thường lại không lập luận như vậy. Câu trả lời, theo giả thiết của Grice, là người bình thường tuân theo, và tin rằng người khác biết rằng mình tuân theo, nguyên tắc đối thoại sau.
(10) Quan hệ Đừng nói những gì không quan yếu Trong ngữ cảnh một bức thư giới thiệu, câu hỏi liệu X có hút thuốc hay không không phải là một câu hỏi được đưa ra thảo luận. Vậy, thông tin X hút thuốc không phải một thông tin quan yếu. Nếu người nghe tin rằng S không nói những gì không quan yếu, tức chỉ nói những gì quan yếu, người nghe sẽ không thể có được lập luận (9), vì anh ta sẽ không tin rằng (9)-i là đúng. Cụ thể, anh ta sẽ tin rằng kể cả S nghĩ là X hút thuốc, S sẽ không nói gì về việc hút thuốc của X cả, đơn giản vì đây không phải là một thông tin quan yếu.2 Chất (Quality) Moore (1942) quan sát thấy hiện tượng sau của ngôn ngữ tự nhiên: câu (11a) nghe có vẻ mâu thuẫn, không như (11b) là một câu hoàn toàn bình thường.
#Trời mưa nhưng tôi không tin là trời mưa b. Trời mưa nhưng mẹ tôi không tin là trời mưa Câu hỏi ở đây là (11a) mâu thuẫn ở chỗ nào. Rõ ràng, ngữ nghĩa học không phải câu trả lời: nếu ta thay các danh ngữ “tôi” và “mẹ tôi” bằng tên của người nói và của mẹ người nói, sự tương phản giữa hai câu sẽ biến mất, mặc dù nội dung ngữ nghĩa học của chúng không thay đổi. Cú pháp học cũng không phải câu trả lời, vì cả (11a) lẫn (11b) đều không có vấn đề gì về mặt hình thức.
Và tất nhiên là ngữ âm học cũng không có gì để nói ở đây. Vậy, khả năng còn lại là ngữ dụng học. Hãy giả sử rằng khi đối thoại, chúng ta tuân theo nguyên tắc (12). Đây là phương châm mang tên “Chất” (“Quality”) do Grice đưa ra.
(12) Chất (Quality) Chỉ nói những gì bạn tin là đúng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ giả định rằng người nói tuân theo phương châm này, ta có thể suy ra rằng người nói câu (11a), S, phải tin (11a) là đúng. Và nếu S tin (11a) là đúng, S phải tin là trời mưa và tôi không tin là trời mưa, tức BS ((rain)∧¬BS (rain)) (với rain = trời mưa). Điều này đồng thời tương đương với việc người nói tin trời mưa và tin là người nói không tin là trời mưa, tức BS ((rain)∧BS ¬BS (rain)4. Thêm vào đó, giả sử người nói ý thức được niềm tin của mình, tức tin là mình tin là trời mưa, tức BS (BS (rain)).
Vì vậy, ta có thể thấy rằng S, người nói (11a), tin cả mệnh đề ‘BS (rain)’ lẫn phủ định của nó là ‘¬BS (rain).’ Và điều này giải thích sự mâu thuẫn của (11a): nó mâu thuẫn với giả định của chúng ta về lý trí nói chung, tức là không ai có thể vừa tin một mệnh đề vừa tin phủ định của nó. Ta có thể tóm lược lập luận trên như (13) dưới đây. Điều quan trọng cần chú ý ở đây là nếu không có giả thiết rằng người nói tuân theo phương châm Chất, chúng ta sẽ không thể có được lập luận trên, và vì thế sẽ không thể giải thích được sự mâu thuẫn của (11a). Nam có học toán không? b.
Nam có học vật lý không? Nói cách khác, người nói câu (14), S, (i) không tin là Nam học toán, tức ¬BS (math), (ii) không tin là Nam không học toán, tức ¬BS (¬math), (iii) không tin là Nam học vật lý, tức ¬BS (physics), và (iv) không tin là Nam không học vật lý, tức ¬BS (¬physics). Anh ta tin vào mệnh đề được phát ngôn, p, tức tin Nam học toán hoặc vật lý, nhưng không chắc được là Nam học môn nào trong hai môn đó5. 4 Lập luận này dựa trên một số định lý về niềm tin (belief) trong đó có Định lý Phân bố, tức BS (p ∧ q) ⇔ BS p ∧ BS q. Một số định lý này là hệ quả của lý thuyết về niềm tin mà tôi sẽ phác thảo ở mục 1.
5 Với quy ước mệnh đề lần lượt là: math = Nam học toán, physics = Nam học vật lý, p = Nam học toán hoặc vật lý 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.