CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh trĩ theo y học hiện đại 1. Định nghĩa Bệnh trĩ là một bệnh mạn tính do các tĩnh mạch trực tràng hậu môn bị giãn và xung huyết thành một búi hoặc nhiều búi, tùy vị trí tĩnh mạch ở trực tràng hay hậu môn được chia trên lâm sàng thành trĩ nội hay trĩ ngoại. Sinh lý bệnh học Cơ chế bệnh sinh bệnh trĩ vẫn chưa được thống nhất, có 2 giả thuyết vẫn được sử dụng để giải thích sự khởi phát trĩ được nhiều người chấp nhận.
- Thuyết mạch máu: bình thường tồn tại các shunt động - tĩnh mạch nhưng đóng kín. Khi một tác nhân nào đó làm các shunt mở rộng, máu động mạch chảy vào ồ ạt làm đám rối tĩnh mạch bị giãn, nếu kết hợp một yếu tố làm cản trở máu về sẽ gây chảy máu, lý giải hiện tượng chảy máu đỏ tươi trong bệnh trĩ. - Thuyết cơ học: áp lực tăng cao khi bệnh nhân rặn (táo bón, ỉa khó.) làm các bộ phận nâng đỡ tổ chức trĩ bị giãn dần và trở nên lỏng lẻo dẫn đến hiện tượng sa các búi trĩ. Máu động mạch xuống búi trĩ vẫn duy trì nhưng máu về bị cản trở làm cho trĩ sa ngày càng nặng.
Yếu tố nguy cơ Nguyên nhân gây bệnh trĩ chưa được xác định chính xác. Một số yếu tố được coi là nguồn gốc gây bệnh như [3],[10]: - Nòi giống: có những chủng tộc tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn (người Do thái). - Gia đình: trong gia đình có người mắc bệnh thì nguy cơ mắc ở những người khác thường cao hơn. [3],[10],[14] - Do tư thế làm việc: đứng quá lâu, ngồi nhiều (thợ may, lái tàu.) - Do rối loạn nhu động ruột: một số bệnh lý như lỵ, táo bón, viêm đại tràng…[15] - Tăng áp lực trong khoang bụng: những người mắc bệnh viêm phế quản mạn tính, dãn phế quản, suy tim… - Phụ nữ có thai các tháng cuối, ung thư trực tràng.
Chẩn đoán ❖ Triệu chứng lâm sàng 4 Triệu chứng lâm sàng thường gặp trên bệnh trĩ: chảy máu, đau, sa búi trĩ. Ngoài ra bệnh nhân có thể có một số biểu hiện khác như: các dấu hiệu tiết niệu, trĩ kèm nứt kẽ hậu môn, ngứa do hiện tượng xuất tiết viêm xung quanh búi trĩ sa. [10],[3],[5], [13], [17], ❖ Thăm và soi hậu môn - Thăm khám: nhìn có thể thấy trĩ ngoại (da thừa), sa búi trĩ - niêm mạc hậu môn. - Thăm trực tràng là động tác bắt buộc với bệnh nhân trĩ.
Soi trực tràng bằng ống cứng để đánh giá tổn thương của bệnh trĩ, qua soi hậu môn trực tràng bằng ống cứng để phân độ trĩ nội và cho phép đánh giá tổn thương khác như nứt kẽ, polyp trực tràng, viêm loét trực tràng và đặc biệt là phát hiện ra ung thư trực tràng về đại thể [17],[5]. Phân loại Phân loại theo giải phẫu: Lấy đường lược làm mốc người ta chia ra: Trĩ nội, Trĩ ngoại, Trĩ hỗn hợp [14], [3] Hình 1. Giải phẫu vị trí trĩ Phân loại theo vị trí: Đánh số theo mặt kính đồng hồ ở tư thế phụ khoa, có 3 búi trĩ chính ở vị trí thường gặp là 3 - 8 - 11 giờ. Ngoài ra có thể có một vài búi trĩ phụ ở 5 giờ, 7 giờ, 6 giờ, 12 giờ.
Xử trí ban đầu - Không điều trị trĩ triệu chứng, trừ khi có biến chứng - Nếu có nhiễm trùng, phải điều trị trước khi mổ. Điều trị nội khoa - Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống, lao động, vệ sinh hậu môn thường xuyên (ăn ít gia vị, tránh táo bón.) là rất cần thiết [18]. - Thuốc: dùng toàn thân hay tại chỗ có tác dụng. - Điều hoà lưu thông tiêu hoá, làm trơn ruột, tránh táo bón tuy nhiên không nên dùng thuốc nhuận tràng kéo dài.
- Giảm đau, chống viêm, chống co thắt, tăng sức bền thành mạch - Thuốc dùng tại chỗ dạng mỡ hay dạng viên đạn đặt hậu môn như Titanoreine, Suppositoire Midy. - Thuốc dùng toàn thân đặc biệt tốt cho các đợt kịch phát là những thuốc làm tăng sức bền thành mạch (Daflon, Gincor.) - Điều trị nội khoa có tác dụng tốt ở giai đoạn đầu (độ 1-2) và rất tốt cho trước và sau phẫu thuật [3],[5] 1. Điều trị bằng thủ thuật Có rất nhiều phương pháp khác nhau (Tiêm xơ, tia hồng ngoại, đốt điện, đốt nhiệt, laser, liệu pháp lạnh.) với ưu điểm là đơn giản, nhanh, gọn, ít đau, có thể điều trị ngoại trú, rẻ tiền và hiệu quả khá cao. Tuy nhiên các phương pháp này cũng có những nhược điểm: kết quả điều trị tiệt căn không bằng phẫu thuật, có một số chống chỉ định.
6 Điều trị bằng thủ thuật thường áp dụng cho trĩ độ 2 - 3 với các búi riêng rẽ, chống chỉ định cho sa trĩ tắc mạch, viêm hậu môn, trĩ kèm nứt kẽ. Điều trị ngoại khoa Điều trị ngoại khoa có thể là tạm thời thường trong cấp cứu đối với các tắc mạch trĩ hay điều trị triệt để với bệnh trĩ. Đối với tắc mạch trĩ động tác chính là rạch búi trĩ để lấy máu tụ có tác dụng giảm đau nhanh chóng cho bệnh nhân. Chỉ định điều trị ngoại khoa: - Khi các phương pháp điều trị khác thất bại (nội khoa hay thủ thuật) - Sa trĩ thường xuyên.
- Sa trĩ tắc mạch. Phương pháp phẫu thuật: - Cắt trĩ riêng lẻ từng búi theo Milligan-Morgan được đa số phẫu thuật viên ứng dụng. - Những thay đổi kỹ thuật của phương pháp Milligan-Morgan như kỹ thuật cắt trĩ dưới niêm mạc của Parks, kỹ thuật cắt trĩ kín của Fergusson nhưng ít được ứng dụng nhiều trong thực tế. - Phương pháp Whitehead kinh điển là lấy bỏ toàn bộ niêm mạc ống hậu môn cùng với các búi trĩ ngày nay rất ít dùng vì những nhược điểm của nó.
- Cắt trĩ sa bằng máy khâu bấm (stapler): Còn gọi là phẫu thuật Longo, MIPH (Minimally Invasive Hemorrhoid Surgery), PPH (procedure for prolapsed hemorrhoids). Bệnh trĩ theo y học cổ truyền 1. Quan niệm về bệnh trĩ theo Y học cổ truyền Theo y văn cổ của YHCT, bệnh trĩ được phát hiện trên 2000 năm, qua các thời đại đã có nhiều nhà y học nghiên cứu viết sách hoặc lưu truyền trong dân gian. Trong đó có một số y văn kinh điển như: Nội kinh, Y tông kim giám, Thần nông bản thảo.
Đến năm 1400, Trần Thực Công là tác giả cuốn “Ngoại khoa chính tông” đã đúc kết lý luận và kinh nghiệm của người xưa và bản thân mình mới nêu lên phương pháp điều trị toàn diện của 7 YHCT về bệnh trĩ [19], [20]. Bệnh trĩ theo YHHĐ được YHCT mô tả thuộc phạm vi các chứng “Lòi dom”, “Tiện huyết”, “Thấp nhiệt hạ trú”, “Trung khí hạ hãm”. Theo Đại y thiền sư Tuệ Tĩnh : “Lòi dom là đầu ruột cùng lòi ra ngoài”[21]. Trong Bách bệnh cơ yếu - Hải Thượng Y tông tâm lĩnh cũng có viết “Mọc mụn ở bên hậu môn sưng đau là bệnh trĩ.
Nguyên nhân gây bệnh Trong Hoàng đế nội kinh Tố Vấn Bạch Thoại giải đã ghi chép nguyên nhân sinh ra bệnh trĩ là do “cân mạch hoành giải trường tích thành trĩ”. Ngoài ra phát sinh bệnh trĩ còn do âm dương khí huyết không điều hòa, bên ngoài do lục dâm, bên trong do thất tình gây nên [16],[20]. Trong Nam dược thần hiệu, Đại y Tuệ Tĩnh đã viết về bệnh trĩ như sau: “Sách Nội Kinh có chia làm 5 chứng, tuy tình trạng cùng tên gọi khác nhau nhưng căn bản đều do ham ăn đồ hậu vị cay nóng, hoặc do rượu trà dâm dục, lo nghĩ uất nhiệt tích độc mà sinh ra”.[21],[23] Theo Hải Thượng Lãn Ông: “Nguyên nhân mắc phải bệnh này, trước do khí táo, sau do thấp nhiệt.” theo đó bệnh trĩ “mắc bệnh do khí táo, thành bệnh do vị thấp”. Trong Trung Y ngoại khoa học giảng nghĩa tóm tắt có các loại nguyên nhân: - Nguyên nhân về ăn uống: Ăn quá nóng, no đói thất thường, ăn đồ ăn sống lạnh, uống nhiều rượu, ăn béo ngậy, ăn quá cay.
- Nguyên nhân khởi cư: Đứng lâu, ngồi lâu, vác nặng đi xa, phòng sự quá độ. - Nguyên nhân khác: Ỉa chảy mạn, táo bón kéo dài, thể chất quá suy yếu, mang thai nhiều lần.[19] Các nguyên nhân trên có thể làm khí huyết hành lung tung, kinh lạc giao cắt dẫn đến huyết ứ, trọc khí hạ trú hậu môn gây nên trĩ. - Sau mắc các bệnh làm rối loạn chức năng của các tạng phủ như can, tâm, tỳ, thận (can khắc tỳ, can tâm thận âm hư, tâm tỳ hư…) gây khí hư, huyết ứ làm trung khí hư hạ hãm sinh ra trĩ.[16],[19] Trong Trung Quốc truyền thống Y học đề cập đến nguyên nhân gây ra trĩ nội và trĩ ngoại: 8 - Nguyên nhân gây trĩ nội: Ăn uống không điều độ, đứng ngồi lâu, vác nặng đi xa, mang thai nhiều lần, có thể làm nội sinh táo nhiệt hạ xuống đại tràng, kinh lạc bị giao cắt tuần hoàn trở ngại uất tích thành trĩ. - Nguyên nhân gây trĩ ngoại: Thấp nhiệt hạ trú, đi lị nhiều lần hoặc nứt hậu môn độc tà xâm nhập, làm vận hành khí huyết bị trở ngại, kinh mạch bị tắc gây nên; nhiệt làm tổn thương huyết lạc, ứ kết không tan gây nên.[19] Hiện tượng chảy máu từ búi trĩ có thể do: - Hạ trĩ thể khí huyết hư, trong đó do Tỳ hư không thống nhiếp huyết làm huyết vọng hành, gây xuất huyết.
- Hạ trĩ thể huyết nhiệt và thấp nhiệt: do nhiệt bức huyết vong hành, gây xuất huyết. - Hạ trĩ do sang thương, phân táo kết rặn nhiều gây xuất huyết. Phân loại trĩ theo Y học cổ truyền Hải Thượng Lãn Ông chia bệnh trĩ thành 5 loại: mẫu trĩ, tẫn trĩ, khí trĩ, tửu trĩ, huyết trĩ.[24],[22] Tuệ Tĩnh phân chia trĩ làm 5 loại: Trĩ ngoại, trĩ nội, thử trĩ, nung sang, trùng trĩ.[21] ❖ Hiện nay đa phần các sách Y học cổ truyền chia trĩ làm 3 thể theo nguyên nhân gây bệnh: - Trĩ thể thấp nhiệt: trĩ sưng, nóng, đỏ, loét chảy mủ hoặc chảy nước vàng, có thể sốt, táo bón, tiểu tiện vàng, mạch hoạt sác, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng dày. - Trĩ thể huyết nhiệt huyết ứ: trĩ nằm trong hậu môn, cảm giác đau tức nặng hậu môn, đại tiện máu tươi, có thể có táo bón, mạch tế sác, lưỡi có điểm ứ huyết.
- Trĩ thể khí huyết hư: búi trĩ lồi ra ngoài, ra máu kéo dài, người gầy yếu mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, ù tai, hay quên, sắc mặt xanh xao, đoản hơi, mạch trầm tế. Các phương pháp điều trị trĩ theo Y học cổ truyền Các phương pháp điều trị theo y học cổ truyền cũng ngày càng được cải tiến và phát triển hoàn thiện hơn. Điều trị trĩ theo YHCT hiện nay có 3 nhóm phương pháp là nội khoa, thủ thuật và kết hợp YHCT và YHHĐ.