Chương 1 TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Vị trí phân loại và đặc điểm thực vật của chi An điền (Hedyotis L. Vị trí phân loại của chi An điền (Hedyotis L.) và loài Lưỡi rắn (Hedyotis corymbosa (L.) Chi An điền (Hedyotis L.) là chi thực vật có hoa thuộc họ Cà phê (Rubiaceae Juss. Tùy theo quan điểm của một số tác giả, số lượng taxa thuộc chi cũng có sự chênh lệch nhất định.
Tao & Taylor, (2011) cho rằng chi Hedyotis L. gồm khoảng 500 taxa, trong khi Mabberley (2008) đưa ra con số thống kê số taxa thuộc chi Hedyotis L. Tuy nhiên, theo Dutta & Deb (2004), có khoảng 515 taxa thuộc chi này, trong đó Ấn Độ có phân bố nhiều nhất với khoảng 74 taxa. Gần đây, nhiều nghiên cứu về sinh học phân tử đã được tiến hành trên các đối tượng Hedyotis, nhiều taxon trong chi đã có sự thay đổi vị trí phân loại [21].
Tính đến hiện tại, tổng số taxa ghi nhận thuộc chi Hedyotis L. là khoảng 193 loài. Các loài thuộc chi Hedyotis L.phân bố rộng ở khu vực Nhiệt đới và Cận nhiệt đới, chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á, một vài nơi trong vùng Ôn đới có khí hậu ấm áp. Ở Việt Nam, theo Trần Ngọc Ninh (2005), chi Hedyotis L.
có 65 loài, 7 thứ; phân bố rải rác trên cả nước [9]. Loài Lưỡi rắn (H.) được xếp trong nhóm (section) Oldenlandia L. thuộc chi Hedyotis L. Một số tài liệu cũng coi loài H.
như là tên đồng danh với loài Oldenlandia corymbosa L. Mặc dù, Hedyotis và Oldenlandia được mô tả là hai chi riêng biệt bởi Linnaeus (1753) và Roxburgh (1832), Lamarck (1792) là những tác giả đầu tiên coi Oldenlandia là một nhóm (section) thuộc chi Hedyotis L. Quan điểm này được củng cố bởi công trình của Dutta & Deb (2004). Trong khi, hai công trình trước đó của D.
Don (1825) và Kuntze (1891) đã sắp xếp Hedyotis L. như là chi đồng danh của Oldenlandia L. 5 Hiện nay, trong các nghiên cứu về Phân loại học thực vật, nhiều hệ thống phân loại được áp dụng, trong đó mỗi hệ thống đều có những ưu điểm và những hạn chế riêng. Một số hệ thống được các nhà thực vật sử dụng phổ biến như: A.
Qua các công trình nghiên cứ về hệ thống phân loại họ Cà phê (Rubiaceae Juss.) của các tác giả trên thế giới, nhận thấy mỗi quan điểm đều có lập luận riêng và phù hợp với thời điểm đó và lãnh thổ. Ở Việt Nam chủ yếu là các công trình có tính chất kiểm kê các taxon dựa trên các hệ thống nước ngoài; đến nay còn thiếu một công trình đầy đủ và hệ thống. Tuy nhiên, trong các hệ thống, có thể thấy hệ thống phân loại của A. Takhtajan (2009) là tương đối hợp lý, đồng thời cũng phù hợp với việc sắp xếp các taxon thuộc họ Cà phê (Rubiaceae Juss.) cũng như chi Hedyotis L.
Theo hệ thống phân loại thực vật của A. Takhtajan (2009) [48], vị trí phân loại của chi Hedyotis L. có thể được sắp xếp như sau: Giới Thực vật - Plantae Ngành Ngọc lan - Magnoliophyta Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida Phân lớp Bạc hà - Lamiidae Liên bộ Bạc hà - Lamianae Bộ Cà phê - Rubiales Họ Cà phê - Rubiaceae Juss. Chi An điền - Hedyotis L.
Loài Lưỡi rắn – H. Đặc điểm thực vật chi An điền (Hedyotis L.) Cây thảo, nửa bụi, hoặc bụi, hàng năm hoặc lâu năm, mọc bò lan trên mặt đất đến đứng hoặc leo, không có cạnh sắc nhọn. Lá đơn, mọc đối hoặc hiếm khi mọc vòng, đôi khi mọc thành cụm ở đầu thân; cuống lá từ dài đến gần như không cuống; phiến lá hình bầu dục, thuôn hẹp, nhẵn hoặc có lông 6 tơ; gốc lá tù đến tròn hoặc cụt, đầu lá nhọn hoặc có mũi dài; mép lá nguyên hoặc không, có lông hoặc nhẵn; gân bên vài cặp; lá kèm giống như bao quanh thân, hình tam giác, hình tam giác rộng hoặc hẹp, có 2 cánh ở mép. Cụm hoa mọc ở ngọn, ở nách lá, dạng xim hoặc chùy ngắn; nhẵn hoặc có lông; lá bắc hình đường-hình mác, hoặc hình bầu dục hẹp đến rộng.
Hoa có cuống đến gần như không cuống. Đài hoa có thùy xẻ nông hay sâu; các thùy hình tam giác đến hình thìa, đôi khi khác thùy đài không bằng nhau. Tràng màu trắng hoặc xanh nhạt, dạng hình phễu hoặc hình ống-hình phễu. Bao phấn thò ra khỏi ống tràng.
Vòi nhụy thò ra khỏi ống tràng và cao đến khoảng giữa ống tràng. Quả nang, hình cầu đến hình trứng; nhẵn hoặc có lông. Hạt ít hoặc nhiều, hạt màu đen nâu, có cạnh. Mùa hoa quả của các taxa Hedyotis L.
gần như quanh năm. Cây mọc trong rừng, ven nơi đất ẩm ướt gần thung lũng và khe núi,… 1. Lược sử chi An điền (Hedyotis L. Trên thế giới Một số nước lân cận với Việt Nam cũng có các công trình nghiên cứu từng taxon, nhóm taxon hay các công trình thực vật chí riêng biệt.
Một số các công trình nghiên cứu đáng chú ý ở châu Á và các nước lân cận Việt Nam có thể kể dưới đây. Thực vật chí Trung Quốc (Flora of China) (19: 147–174. 2011) theo thực vật chí Trung Quốc có khoảng 500 loài phân bố thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới, nhiều nhất ở Châu Phi và Châu Á, một số ít ở vùng ôn đới ấm áp; 67 loài (38 loài đặc hữu) ở Trung Quốc. Tác giả đã ghi nhận và mô tả được 67 loài trong chi Hedyotis, không có hình vẽ minh họa [21].
Thực vật chí Pakistan (Flora of Pakistan): Nhiều nhà thực vật học (Torrey & Gray in Fl. 1841, Fosberg in Va. 1954, Lewis trong Rhodora 63: 216- 223.) cho rằng Oldenlandia L. nên được hợp nhất, tuy nhiên, theo Verdcourt (ở Polhill, Fl.
Rubiaceae-I, 1976), 7 chúng tôi đã giữ chúng riêng biệt. Hơn nữa ở Pakistan Oldenlandia và Hedyotis có các hình thái riêng biệt mặc dù sự khác biệt trong hai chi thường không đáng kể. Một chi gồm khoảng 150 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Á; đại diện ở Pakistan bởi các loài sau đây. Đơn vị phân loại thấp hơn Hedyotis hirsuta (L.
Thực vật chí Thái Lan (Flora of Thailand): Theo các nhà nghiên cứu học đã phát hiện ra vài trăm loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; 22 loài được biết đến từ Thái Lan. Ở Việt Nam Nguyễn Tiến Bân, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003,2005) đã mô tả các đặc điểm chính của chi Hedyotis L. và nêu danh sách 65 loài thuộc chi Hedyotis L. Đây là tài liệu quan trọng giúp cho việc tra cứu và nhận biết các chi thuộc họ Rubiaceae nói chung và các loài thuộc chi Hedyotis L.
nói riêng ở Việt Nam [2]. Công trình của người Việt Nam đáng chú ý là “Cây cỏ miền Nam Việt Nam (1972)” và “Cây cỏ Việt Nam (1993, 2000)” của Phạm Hoàng Hộ. Năm 2000, tác giả đã mô tả 73 loài trong chi Hedyotis trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tác giả không nêu các đặc điểm của chi mà mô tả loài và hình vẽ minh họa còn rất đơn giản [5].
Trong cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, các loài cây thuốc thuộc chi Hedyotis, học Cà phê (Rubiaceae) để chữa rắn cắn, suy nhược thần kinh, đau xương cốt, các bệnh viêm nhiễm,…đặc biệt là dùng chữa bệnh viêm gan, các bệnh về gan và ung thư [8]. Mới đây, theo Trần Ngọc Ninh (2005) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, chi Hedyotis có 65 loài, 7 thứ. Trong quá trình nghiên cứu các mẫu vật của chi này ở Việt Nam [9]. Khái quát về loài Hedyotis corymbosa (L.
Hedyotis corymbosa (Linnaeus) Lamarck, Tabl. Loài Lưỡi rắn (Hedyotis corymbosa (L.) Lam) là synonym của Oldenlandia corymbosa L., được mô tả lần đầu tiên năm 1753 bởi Linnaeus. 8 Từ cơ sở đó được Lamarck mô tả chi tiết và trích dẫn đầy đủ các thông tin bởi Lamarck vào năm 1792, loài Lưỡi rắn thuộc chi An điền thuộc họ Cà phê. Ở Việt Nam, phần lớn tài liệu vẫn đang sử dụng tên Hedyotis corymbosa (L.
Phân bố Trong số khoảng 73 loài thuộc chi Hedyotis L. ở Việt Nam, Lưỡi rắn thuộc nhóm những loài cây có kích thước nhỏ, phân bố tương đối phổ biến ở vùng đồng bằng, trung du và núi thấp. Trên thế giới vùng phân bố của cây cũng bao gồm hầu hết các nước trong khu vực có khí hậu nhiệt đới ở Nam Á và Đông Nam Á như: Ấn Độ, Xrilanca, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Campuchia, Lào, và đảo Hải Nam Trung Quốc. Cây còn có ở Châu Phi [6].
Lưỡi rắn thuộc loại cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc thành đám, đôi khi thuần loại trên các bãi hoang, vườn, ruộng cao và nương rẫy. Cây có thể sống được trên nhiều loại đất, sinh trưởng phát triển nhanh trong vụ hè – thu và tàn lụi trước mùa đông. Cây ra hoa quả nhiều, khi quả già tự mở để hạt phấn tán ra xung quanh [6]. Phân bố loài Hedyotis corymbosa (L.
Tổng quan về mã vạch ADN (DNA barcodes) 1. Giới thiệu về mã vạch ADN Trong quá trình nghiên cứu về giới thực vật thì phương pháp phân loại thực vật dựa trên những đặc điểm hình thái từ lâu đã chứng minh được vai trò quan trọng trong việc làm nền tảng cho các nghiên cứu về sinh thái, tiến hóa và đa dạng thực vật. Phân loại thực vật căn cứ vào đặc điểm hình thái của các cơ quan bộ phận, chủ yếu dựa vào sự khác biệt hình thái của các cơ quan đặc biệt là cơ quan sinh sản của thực vật, đây là cách thức phân loại truyền thống đã được xây dựng và phát triển từ rất xưa cho tới ngày nay. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy đó chưa phải là phương pháp hiệu quả trong việc phân loại các mẫu đang trong giai đoạn phát triển, các mẫu có đặc điểm giống nhau, hay các mẫu không đủ các bộ phận [7].
Bên cạnh đó, hiện nay các phương pháp phân loại hình thái thường chỉ được thực hiện bởi các chuyên gia về hình thái học, việc phân loại cần nhiều năm kinh nghiệm và khó thực hiện đối với những sinh viên ít kinh nghiệm hoặc những nhà nghiên cứu không chuyên [28] [29]. Một phương pháp phân loại mới dựa trên lĩnh vực sinh học phân tử đã được ra đời từ những năm 1990, đã hỗ trợ đắc lực phương pháp phân loại thực vật truyền thống dựa trên hình thái được gọi với thuật ngữ “ADN mã vạch” lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 1993. Đó là phương pháp dựa trên các dữ liệu thông tin về hệ gen trong và ngoài nhân (hay ADN). Tùy mục đích hoặc đối tượng nghiên cứu, người ta có thể lựa chọn các gen hoặc các vùng gen khác nhau trong hệ gen [40].