Tổng quan nghiên cứu

Ung thư biểu mô tế bào gan là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến nhất trên phạm vi toàn cầu, đứng hàng thứ sáu về tần suất mắc mới và đứng hàng thứ tư về tỷ lệ tử vong do ung thư. Theo báo cáo từ Globocan, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư gan hàng đầu thế giới với tỷ lệ mắc mới chiếm 15,4% và tỷ lệ tử vong lên tới 22,1%, vượt qua cả ung thư phổi. Đa số các trường hợp bệnh nhân phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn hoặc xuất hiện trên nền bệnh lý xơ gan mạn tính, dẫn đến việc chỉ có khoảng 20% đến 30% bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chỉ định các can thiệp triệt căn như phẫu thuật cắt gan hay ghép gan.

Trong bối cảnh đó, phương pháp nút động mạch hóa chất đã khẳng định vai trò là kỹ thuật can thiệp nội mạch điều trị tạm thời chuẩn mực, giúp kiểm soát hiệu quả sự phát triển của khối u và kéo dài đáng kể thời gian sống thêm cho người bệnh. Nghiên cứu này được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ trên tập mẫu 79 bệnh nhân trong giai đoạn từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019. Đề tài tập trung phân tích toàn diện các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như đánh giá kết quả điều trị sớm của kỹ thuật nút mạch hóa chất. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy, chuẩn hóa quy trình can thiệp nội mạch tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nâng tỷ lệ kiểm soát khối u sớm lên trên 80% và giảm thiểu tối đa các biến chứng nặng sau thủ thuật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ chế sinh lý học mạch máu khối u gan là nền tảng cốt lõi của kỹ thuật nút mạch hóa chất. Trong khi nhu mô gan bình thường nhận 75% lượng máu nuôi dưỡng từ tĩnh mạch cửa và 25% từ động mạch gan, thì các tế bào ung thư gan nhận hơn 90% nguồn máu nuôi từ động mạch gan. Kỹ thuật nút mạch hóa chất tận dụng sự khác biệt huyết động học này để luồn vi ống thông siêu chọn lọc vào các nhánh động mạch cấp máu cho u, bơm hỗn hợp hóa chất chống ung thư như Farmorubicin, Cisplatin kết hợp với Lipiodol siêu lỏng và vật liệu gây tắc mạch Gelfoam hoặc Spongel. Hóa chất đạt nồng độ tại chỗ cao trên 85% giúp tiêu diệt tế bào ác tính cục bộ mà rất ít gây độc tính toàn thân.

Hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào gan áp dụng trong nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn của Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh lý Gan Châu Á - Thái Bình Dương, Hội Nghiên cứu Gan Mật Hoa Kỳ và Bộ Y tế Việt Nam. Chẩn đoán xác định dựa trên bằng chứng giải phẫu bệnh hoặc hình ảnh tăng sinh mạch thì động mạch và thải thuốc nhanh thì tĩnh mạch trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy hoặc cộng hưởng từ, kết hợp nồng độ Alpha Foeto Protein huyết thanh vượt ngưỡng 400 ng/ml. Khung đánh giá chức năng gan dựa trên thang điểm Child-Pugh 5 đến 15 điểm, chỉ số thể trạng toàn thân theo thang điểm của Nhóm Hợp tác Ung thư Miền Đông Hoa Kỳ từ bậc 0 đến 4, cùng tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến để phân loại mức độ hoại tử u sau can thiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang, theo dõi tiến cứu trên 79 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được chỉ định thực hiện nút mạch hóa chất tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2019, thời gian theo dõi kết quả sau can thiệp kéo dài đến tháng 07/2019. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, mức sai số cho phép 5% và tỷ lệ can thiệp thành công kỳ vọng 97%, tính toán cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 43 bệnh nhân. Thực tế đề tài đã thu thập 79 trường hợp đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chọn mẫu.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên các tiêu chí thu nhận nghiêm ngặt: bệnh nhân có chẩn đoán xác định ung thư tế bào gan, không còn chỉ định phẫu thuật cắt gan hoặc đốt sóng cao tần, chức năng gan xếp loại Child-Pugh A hoặc B, chỉ số thể trạng toàn thân từ 0 đến 2 điểm, không có huyết khối hoàn toàn thân chung tĩnh mạch cửa và không có di căn ngoài gan. Các trường hợp suy gan giai đoạn Child-Pugh C, suy thận nặng với nồng độ creatinin trên 177 micromol/l, tiểu cầu dưới 50 nhân 10 mũ 9 trên lít hoặc tỷ lệ Prothrombin dưới 50% đều bị loại trừ. Dữ liệu nghiên cứu được xử lý bằng các phương pháp thống kê y học chuyên sâu: kiểm định Wilcoxon được sử dụng để đánh giá sự biến thiên của các chỉ số không tuân theo phân phối chuẩn như nồng độ men gan transaminase và chỉ số chất chỉ điểm Alpha Foeto Protein; kiểm định so sánh cặp được lựa chọn để đánh giá sự thay đổi cân nặng và các thông số sinh hóa trước và sau can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 79 bệnh nhân nghiên cứu ghi nhận nhóm tuổi phổ biến nhất từ 51 đến 70 tuổi với tỷ lệ nam giới chiếm đa số, gấp hơn 3 lần so với nữ giới. Tác nhân nguy cơ hàng đầu là nhiễm virus viêm gan B và C mạn tính, hiện diện ở hơn 75% tổng số đối tượng nghiên cứu. Về đặc điểm lâm sàng trước can thiệp, triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau tức hạ sườn phải ghi nhận ở hơn 60% bệnh nhân, kèm theo cảm giác mệt mỏi và sụt cân. Nồng độ chất chỉ điểm khối u Alpha Foeto Protein ban đầu tăng cao trên 400 ng/ml chiếm tỷ lệ đáng kể, trong khi đa số người bệnh duy trì chức năng gan ở mức Child-Pugh A với tỷ lệ trên 70%.

Về kỹ thuật can thiệp, tỷ lệ tiếp cận thành công cuống mạch nuôi u qua đường động mạch đùi phải bằng phương pháp Seldinger đạt 100%. Quá trình chụp mạch máu số hóa xóa nền phát hiện khoảng 15% các trường hợp có biến thể giải phẫu động mạch gan, đặc biệt là động mạch gan phải xuất phát từ động mạch mạc treo tràng trên hoặc động mạch gan trái xuất phát từ động mạch vị trái. Đánh giá đáp ứng khối u sau 1 đến 3 tháng theo tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến cho thấy tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt trên 85%, trong đó nhóm đáp ứng hoàn toàn và đáp ứng một phần chiếm hơn 65%. Nồng độ Alpha Foeto Protein sau nút mạch giảm trên 50% so với trước can thiệp ở hơn 70% bệnh nhân có tăng chất chỉ điểm ban đầu. Tỷ lệ sống còn tích lũy tại các thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng sau can thiệp lần lượt duy trì ở mức 95%, 85% và 78%.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu được cấu trúc hóa trực quan thông qua các bảng thống kê ghép cặp và biểu đồ tương quan, minh chứng sự phục hồi tích cực của người bệnh sau can thiệp. Biểu đồ diễn tiến chỉ số Alpha Foeto Protein thể hiện sự sụt giảm rõ rệt ở nhóm có đáp ứng khối u tốt, đồng thời đường cong sống còn xác nhận hiệu quả kiểm soát tiến triển khối u vượt trội của kỹ thuật nút mạch. Bảng so sánh chỉ số men gan AST và ALT trong 1 đến 3 ngày đầu sau thủ thuật ghi nhận sự tăng cao thoáng qua do hiện tượng hoại tử tế bào khối u dưới tác động của hóa chất và tắc mạch, sau đó dần hồi phục về mức ổn định sau 1 tháng.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu trong nước tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Chợ Rẫy cũng như các y văn quốc tế của Yamada và Ohishi, kết quả của luận văn thể hiện sự đồng thuận cao về hiệu quả và mức độ an toàn. Hội chứng sau nút mạch với các biểu hiện sốt nhẹ 37,5 đến 38,5 độ C, đau tức vùng gan và buồn nôn xảy ra ở khoảng 55% bệnh nhân nhưng đều ở mức độ nhẹ đến trung bình, được kiểm soát tốt bằng điều trị nội khoa thông thường mà không ghi nhận trường hợp nào tử vong sớm trong tháng đầu tiên do tai biến kỹ thuật. Điều này khẳng định quy trình thực hiện can thiệp mạch siêu chọn lọc tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ đạt độ chính xác cao, giúp tối ưu hóa liều lượng thuốc ngấm vào u và bảo tồn tối đa nhu mô gan lành xung quanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình kỹ thuật can thiệp mạch siêu chọn lọc tại các trung tâm tim mạch can thiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Ban giám đốc bệnh viện cùng đơn vị can thiệp nội mạch cần trang bị đồng bộ hệ thống máy chụp mạch số hóa xóa nền hiện đại và vi ống thông kích thước nhỏ 2.7F, hướng tới mục tiêu đạt tỷ lệ thuyên tắc khối u triệt để trên 90% ngay trong 6 tháng đầu triển khai quy chuẩn.

Thứ hai, thiết lập phác đồ theo dõi định kỳ nghiêm ngặt sau can thiệp nút mạch hóa chất. Bác sĩ chuyên khoa cần chỉ định xét nghiệm kiểm tra nồng độ Alpha Foeto Protein, men gan và chụp cắt lớp vi tính đa dãy hoặc cộng hưởng từ tại các mốc 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau thủ thuật nhằm phát hiện sớm hiện tượng tái tưới máu khối u, giảm tỷ lệ bỏ sót tái phát xuống dưới 5% trong vòng 12 tháng theo dõi.

Thứ ba, tăng cường phối hợp đa mô thức giữa can thiệp nút mạch hóa chất với các phương pháp điều trị bổ trợ khác. Khoa Ngoại tổng quát và Trung tâm Ung bướu cần xây dựng quy trình hội chẩn đa chuyên khoa để kết hợp nút mạch với đốt sóng cao tần hoặc điều trị thuốc ức chế đích nhằm nâng tỷ lệ sống còn sau 1 năm lên trên 80% cho nhóm bệnh nhân có khối u kích thước lớn trên 5 cm.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác truyền thông và sàng lọc sớm ung thư biểu mô tế bào gan tại y tế cơ sở. Sở Y tế các tỉnh khu vực miền Tây cần triển khai chương trình quản lý chặt chẽ bệnh nhân viêm gan virus B và C mạn tính, thực hiện siêu âm và định lượng chất chỉ điểm khối u định kỳ 6 tháng một lần, nhằm nâng tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm lên thêm 30% trong lộ trình 2 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Gan Mật và Can thiệp tim mạch: Tài liệu cung cấp chi tiết các bước thao tác kỹ thuật qua đường động mạch đùi, kinh nghiệm xử trí các biến thể giải phẫu mạch máu gan phức tạp và phương pháp kiểm soát tai biến trong quá trình can thiệp.

Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh ngành Ngoại khoa, Chẩn đoán hình ảnh: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu tiến cứu, cách áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế như mRECIST, Child-Pugh, ECOG và phân tích thống kê y sinh học.

Cán bộ quản lý y tế và lãnh đạo các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh: Nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn về hiệu quả điều trị, tính khả thi trong đầu tư trang thiết bị phòng can thiệp mạch số hóa xóa nền và định hướng phát triển kỹ thuật cao tại địa phương.

Bác sĩ Nội tiêu hóa và Truyền nhiễm: Nắm bắt các tiêu chuẩn sàng lọc, theo dõi diễn tiến sau can thiệp mạch và chỉ định phối hợp các phương pháp điều trị nội khoa bảo vệ tế bào gan cho bệnh nhân viêm gan virus mạn tính.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp nút động mạch hóa chất chỉ định cho những trường hợp nào? Phương pháp này được chỉ định cho bệnh nhân ung thư tế bào gan không còn khả năng phẫu thuật cắt u hay ghép gan, có chức năng gan Child-Pugh A hoặc B, thể trạng ECOG 0 đến 2 điểm và không bị huyết khối hoàn toàn thân tĩnh mạch cửa.

Hội chứng sau nút mạch có nguy hiểm đến tính mạng không? Hội chứng này gồm sốt nhẹ, đau tức hạ sườn phải và buồn nôn do hoại tử khối u, xuất hiện ở trên 50% bệnh nhân nhưng thường lành tính và tự thoái lui sau 3 đến 5 ngày điều trị nội khoa nâng đỡ.

Làm thế nào để đánh giá khối u đã đáp ứng tốt sau khi can thiệp? Hiệu quả được đánh giá dựa trên phim chụp cắt lớp vi tính đa dãy 3 thì theo tiêu chuẩn mRECIST sau 1 đến 3 tháng kết hợp với mức giảm trên 50% nồng độ Alpha Foeto Protein huyết thanh so với trước điều trị.

Khi nào bệnh nhân cần tiến hành nút mạch hóa chất lần tiếp theo? Bệnh nhân được chỉ định nút mạch bổ sung khi kết quả chụp cắt lớp vi tính định kỳ sau 1 đến 3 tháng phát hiện phần khối u còn tăng sinh mạch hoặc xuất hiện thêm các tổn thương thứ phát mới trong gan.

Tỷ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư gan sau khi can thiệp nút mạch là bao nhiêu? Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sống còn tích lũy sau can thiệp nút mạch đạt 95% ở mốc 3 tháng, 85% ở mốc 6 tháng và 78% ở mốc 9 tháng, cải thiện vượt bậc so với điều trị triệu chứng đơn thuần.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính hiệu quả và độ an toàn cao của phương pháp nút động mạch hóa chất trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.
  • Tỷ lệ kiểm soát khối u theo tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng khối u rắn cải tiến đạt trên 85% sau 1 đến 3 tháng can thiệp, với tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn và đáp ứng một phần chiếm đa số.
  • Các chỉ số lâm sàng, thể trạng toàn thân và nồng độ chất chỉ điểm khối u Alpha Foeto Protein có sự cải thiện rõ rệt và mang ý nghĩa thống kê y học sau can thiệp.
  • Tỷ lệ tai biến kỹ thuật nghiêm trọng ở mức rất thấp, không ghi nhận tử vong sớm trong tháng đầu, các triệu chứng của hội chứng sau nút mạch đều được kiểm soát hiệu quả.
  • Các đơn vị y tế tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần tiếp tục duy trì, nhân rộng quy trình kỹ thuật can thiệp nội mạch này và tăng cường phối hợp đa mô thức để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh ung thư gan.