ĐẶT VẤN ĐỀ May mặc là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn ở Việt Nam. Trong năm 2013, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 17,95 tỉ đô la Mỹ, đưa Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu dệt may đứng thứ 5 trên thế giới. Ngành may là ngành nghề sử dụng lao động nhiều nhất tại Việt Nam, cung cấp việc làm cho gần 2,5 triệu lao động, người lao động chủ yếu là nữ công nhân trẻ từ các vùng nông thôn nghèo lên thành thị làm việc [99]. Trong những năm qua, Hưng Yên là một trong những tỉnh thu hút rất nhiều đầu tư về lĩnh vực may mặc từ Tập đoàn Dệt May, các công ty may tư nhân trong và ngoài nước ngoài.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Anh và công ty cổ phần Tiên Hưng là 02 công ty may công nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên được đầu tư với qui mô lớn, với lực lượng lao động tập trung có khoảng 1000 lao động và nữ công nhân chiếm trên 80%, làm việc theo dây chuyền trong môi trường khép kín, do đó có rất nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động. Người lao động may công nghiệp đa số có trình độ học vấn không cao, thiếu hiểu biết về các qui định an toàn - vệ sinh lao động. Đồng thời đa số doanh nghiệp chưa quan tâm và nắm rõ ý nghĩa, mục đích cũng như hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, chỉ chú trọng lợi nhuận trước mắt, không quan tâm đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động, đặc biệt công tác huấn luyện an toàn - vệ sinh lao động cho người lao động ở doanh nghiệp còn mang tính chất đối phó, đây là nguyên nhân góp phần gia tăng bệnh tật, tai nạn lao động ở người lao động. Chính vì vậy, tăng cường công tác an toàn - vệ sinh lao động là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa nhân đạo sâu sắc [63].
Qua điều tra về kiến thức/thực hành của người lao động ở một số công ty may công nghiệp tại Thái Nguyên về hiểu biết bệnh và phòng ngừa bệnh hô hấp thì tỷ lệ người lao động không đạt yêu cầu chiếm tới khoảng 40% [31]. Các nhóm nguyên nhân gây bệnh tật, tai nạn lao động cho người lao động là nhóm nguyên nhân kỹ thuật, tổ chức lao động và vệ sinh lao động, vì vậy người lao động cần phải được trang bị đầy đủ các 2 kiến thức/thực hành về an toàn - vệ sinh lao động khi vào nghề cũng như định kỳ huấn luyện lại hàng năm [65]. Đây là biện pháp rất quan trọng giúp NLĐ nhận biết được đầy đủ các yếu tố nguy hiểm và có hại, nắm rõ được các biện pháp tự chăm sóc sức khỏe, phòng tránh các bệnh tật, tai nạn lao động do nghề nghiệp gây ra. Khi thiếu kiến thức/thực hành an toàn - vệ sinh lao động ở người lao động chưa đầy đủ là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ tai nạn lao động, bệnh tật mắc phải trong quá trình lao động sản xuất.
Trong thời gian qua cũng có rất nhiều các nghiên cứu đưa ra những giải pháp nhằm giúp bảo vệ sức khỏe công nhân may công nghiệp, các giải pháp như giải pháp kỹ thuật cải thiện, giảm thiểu các yếu tố có hại phát sinh trong môi trường, thiết kế ghế ngồi chống đau - mỏi lưng, khẩu trang chống bụi, tập thể dục giữa giờ để nâng cao sức khỏe phòng ngừa bệnh xương khớp… Tuy nhiên, công tác huấn luyện an toàn-vệ sinh lao động cho người lao động tại doanh nghiệp may chưa thực sự được quan tâm đúng mức về tài liệu, phương pháp và thời lượng huấn luyện, đặc biệt là thiếu tài liệu huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động riêng, đặc thù cho công nhân may. Nhằm giảm ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tiến hành biện pháp huấn luyện kết hợp tuyên truyền, vận động giúp nâng cao hiểu biết và ý thức, trách nhiệm tham gia công tác an toàn - vệ sinh lao động tại cơ sở cho người lao động may công nghiệp, để người lao động có kiến thức, thực hành đúng các qui định về an toàn - vệ sinh lao động trong sản xuất, giúp sản xuất an toàn, phòng ngừa bệnh tật, tai nạn lao động do nghề nghiệp gây ra cũng như chăm sóc sức khỏe cho bản thân là rất cần thiết. Để có cơ sở biên soạn bộ công cụ huấn luyện, tuyên truyền phù hợp cho công nhân may công nghiệp và đánh giá hiệu quả biện pháp này, chúng tôi thực hiện đề tài với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng điều kiện lao động, sức khỏe của nữ công nhân may công nghiệp tại Hưng Yên, năm 2013.
Đánh giá hiệu quả biện pháp huấn luyện an toàn - vệ sinh lao động cho nữ công nhân may công nghiệp tại Công ty may Minh Anh năm 2014-2015. ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, TÌNH HÌNH SỨC KHỎE VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE CÔNG NHÂN MAY CÔNG NGHIỆP. Khái niệm và đặc điểm về điều kiện lao động, sức khỏe và yếu tố ảnh hưởng sức khỏe: Điều kiện lao động (ĐKLĐ) được hiểu là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động (NLĐ) tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động, [6],[7]. Khi đánh giá ĐKLĐ cần phải đi sâu phân tích các yếu tố biểu hiện của ĐKLĐ, xem nó có ảnh hưởng và tác động như thế nào đối với NLĐ; nói đến công cụ và phương tiện lao động nó bao gồm từ các công cụ đơn giản đến các máy móc, thiết bị tinh vi hiện đại, từ một chỗ làm việc đơn sơ, thậm chí không có mái che đến những nơi làm việc trong nhà xưởng với đầy đủ tiện nghi; và để xác định những nguy cơ gây ra ảnh hưởng xấu, nguy hiểm đối với tính mạng, sức khoẻ của NLĐ hay không thì cần phải đánh giá tình trạng của các công cụ thiết bị máy móc, nhà xưởng, do đó, đánh giá ĐKLĐ của bất kỳ một cơ sở, một ngành nào là phải nhìn tổng thể và đánh giá đúng thực trạng ĐKLĐ và thường xuyên chăm lo cải thiện nó là nội dung quan trọng nhất trong công tác bảo hộ lao động [65].
Dựa trên cơ sở hình thành ĐKLĐ và những ảnh hưởng của chúng tới cơ thể con người, có thể chia ĐKLĐ theo các nhóm sau [58]: (1)C c y u t c a quá trình lao động (gồm máy, thiết bị, công cụ; nhà xưởng, kho, bến bãi…; nguyên vật liệu, nhiên liệu.; đối tượng lao động; NLĐ; (2) C c y u t liên quan đ n quá trình lao động (+) Các yếu tố tự nhiên và môi trường có liên quan đến nơi làm việc (gồm yếu tố vi khí hậu; nồng độ các hóa chất trong không khí; nồng độ bụi; yếu tố sinh học gây hại; bức xạ ion hóa, bức xạ trường điện từ; tiếng ồn, rung động); (+) Các yếu tố kinh tế, xã hội bao gồm điều kiện cơ sở vật chất về nhà xưởng (các kiến trúc, không gian, cách bố trí máy móc, thiết bị công cụ 4 làm việc, là yếu tố tạo cho NLĐ có cảm xúc hứng thú, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến sức khỏe NLĐ); trình độ chuyên môn, tay nghề, tuổi nghề của NLĐ; tình hình sản xuất, kinh doanh; tổ chức lao động; lương thưởng và chế độ chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm xã hội); (3) C c y u t tâm, sinh lý bao gồm mức chịu tải, nhịp điệu lao động của cơ bắp khi làm việc, thao tác; mức tiêu hao năng lượng cơ sở; biến đổi hệ thống tim mạch, hô hấp; mức độ đơn điệu của các thao tác; mức căng thẳng thị giác trong lao động; mệt mỏi thần kinh, căng thẳng thần kinh tâm lý xúc cảm khi làm việc; chế độ ca và thời gian lao động, tư thế lao động, phân công lao động. Môi trư ng lao động là một thành tố của ĐKLĐ, là môi trường trong đó diễn ra quá trình lao động bao gồm: các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, tâm lý xã hội, rủi ro nguy hiểm phát sinh bởi các yếu tố công nghệ, máy móc thiết bị; nguyên, nhiên liệu; nhà xưởng, tổ chức sản xuất, điều kiện tự nhiên, khí hậu, yếu tố kinh tế- xã hội…[59]. Môi trường lao động là nơi mà ở đó con người trực tiếp làm việc; tại đây thường xuất hiện rất nhiều yếu tố, có thể rất tiện nghi, thuận lợi cho NLĐ, song cũng có thể rất xấu, khắc nhiệt đối với con người (ví dụ như nhiệt độ cao hoặc quá thấp, độ ẩm lớn, nồng độ bụi và hơi khí độc cao, độ ồn lớn, ánh sáng thiếu.); các yếu tố xuất hiện trong môi trường lao động là do quá trình hoạt động của máy móc, thiết bị, do tác động và sự thay đổi của đối tượng lao động do tác động của con người khi thực hiện quá trình công nghệ gây ra, đồng thời cũng còn do các yếu tố của điều kiện khí hậu, thiên nhiên gây nên [52],[53]. i kh h u trong môi trư ng lao động là tổng hợp các yếu tố vật lý của không gian nơi làm việc bao gồm nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và bức xạ nhiệt [28],[36].
An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [54]. ệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [54]. C c y u t vệ sinh lao động bao gồm yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió); vật lý (bức xạ nhiệt, ánh sáng, tiếng ồn, rung, phóng xạ, điện từ trường), 5 bụi; hóa học; vi sinh vật gây bệnh; tâm sinh lý lao động và egônômi; và các yếu tố khác trong môi trường lao động [4]. Trên cơ sở đó khoa học vệ sinh lao động xây dựng và đề xuất các giới hạn, tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) các yếu tố độc hại trong môi trường lao động, đề xuất chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý cũng như các giải pháp y sinh học nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ của NLĐ, trực tiếp góp phần bảo vệ và phát triển lực lượng sản xuất và tăng năng suất lao động.