MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Gạo là một thực phẩm chủ yếu quan trong cho 3,5 tỷ người trên thế giới. Theo Tổ chức Nông Luong của Liên hợp quốc (FAO), sản lượng lúa năm 2015 đạt 749.1 triệu tan và nó sẽ có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo. Theo thong kê trau, một sản phẩm phụ từ quá trình xay xát, chiếm khoảng 20% trọng lượng của lúa. Như vậy, hàng năm trên thế giới tao ra một lượng RH khoảng 150 triệu tan.
Ở Việt Nam, thải ra khoảng 8.94 triệu tan trau trên năm, tương đương 5,96% của thế giới. Hiện nay, lượng trâu vẫn chưa được tận dụng một cách hợp lý đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Nó ít có tính kinh tế vi ham lượng SiO, cao trong RH không có nhiều lợi ích cho vật nuôi cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe của con người [1]. Do đó mà nguồn nguyên liệu này có giá rất thấp khoảng 3000 đồng/kg.
Hau hết RH được đốt hoặc đồ trực tiếp ra kênh rạch gây 6 nhiễm môi trường. Vì lý do này, việc chuyển đổi các chất thải sinh khối giá rẻ để sản xuất AC giúp gia tăng trong chuỗi giá trị trong nông nghiệp. Điều đó không chỉ mở ra một con đường cho sản xuất AC với chi phí thấp mà còn cung cấp một cách hiệu quả dé giảm thiểu ô nhiễm môi trường gây ra bang cách xử lý chất thải nông nghiệp và công nghiệp [2]. Chính vì vậy, việc triển khai đề tài Nghiên cứu điều chế, biến tính than hoạt tính từ vỏ trầuứng dụng trong xử ly kim loại nặng và nước thải dệt nhuộm nhằm mục đích tận dụng nguồn liệu rẻ tiền, dé tìm và bảo vệ môi trường.
Đồng thời nâng cao giá tri kinh tế của trâu (RH) là hết sức cần thiết. Đây là nghiên cứu hứa hẹn sẽ tận dung từ nông nghiệp dé sản xuất sản phẩm than hoạt tính (AC) sử dụng cho xử lý môi trường một cách hiệu quả nhất.2 Mục tiêu nghiên cứu Xác địnhđiều kiện thích hợp của nhiệt độ và thời gian của quá trình than hóa và hoạt hóa dé sản xuất AC từ RH với xử lý RH băng kiềm. Xác định các điều kiện và phương pháp biến tính thích hợp và đánh giá hiệu quả của chúng đối với một số tác nhân gây ô nhiễm cụ thể như nước thải dệt nhuộm, Ni”” và Cd””. Xác định một số điều kiện ứng dụng RHAC đã sản xuất cho xử lý Ni”, Cd** và methylene blue (MB) trong nước thải dệt nhuộm.3 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tiễn hành trong phạm vi phòng thí nghiệm.
Nguồn RH được lấy tai nhà máy xay xát của huyện Cầu Ngang — Tỉnh Tra Vinh.4 Nội dung nghiền cứu Nội dung 1: Khao sat điều kiện than hóa. Nội dung 2: Khảo sát điều kiện hoạt hóa. Nội dung 3: Khảo sát điều kiện biến tính. Nội dung 4: Đánh giá ảnh hưởng của các phương pháp biến tính đến khả năng hấp phụMB, Ni” và Cd””.
Nội dung 5: Khảo sát các điều kiện xử lý MB bằng RHAC được biến tính theo phương pháp được chọn ở thí nghiệm 4. Nội dung 6: Khảo sát các điều kiện xử lý Ni bằng RHAC được biến tính theo phương pháp được chọn ở thí nghiệm 4. Nội dung 7: Khảo sát các điều kiện xử lý Cd** băng RHAC được biến tính theo phương pháp được chọn ở thí nghiệm 4. CHUONG 2: TONG QUAN 2.1 Tổng quan về AC AC với kha năng hấp phụ lớn là vật liệu rất cần thiết cho ứng dụng dé thanh lọc trong các ngành công nghiệp khác nhau và trong xử ly nước thai [3].
Nó đã được chứng minh là có hiệu quả cho việc xử lý các ion và các chất ô nhiễm hữ cơ [4] [5] [6]. Nhu cầu về AC đang gia tăng nhanh chóng với nhận thức nâng cao về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, giá của các loại AC là rất dat tiền do thực tế rang hầu hết các sản phẩm AC thương mại có nguồn gốc chung từ các nguyên liệu tự nhiên tốn kém như g6 hoặc than. việc thăm dò cho một tiền giá rẻ dễ dàng thu nhận với số lượng lớn để sản xuất AC có tầm quan trọng rất lớn.
Có một sự quan tâm ngảy càng tăng trong sản xuất các loại AC sử dụng chất thải nông nghiệp va công nghiệp giá rẻ [7] bao gồm vỏ cà phê, RH, vỏ quả óc chó, cuống bông, vỏ dừa, và bắp ngô đã được điều tra là các tiền chất để sản xuất AC và van đang nhận được sự chú ý mới vi giá rẻ và nguồn tài nguyên phong phú. Nhiều loại AC từ các rác thải nông nghiệp cũng có hiệu năng tương đương hoặc thậm chí tốt hơn so với các loại AC thương mại trong nhiều ứng dụng. RH lại có nhiều ứng dụng trong đời sống hằng ngày như làm chất đốt, làm phân bón, chất độn, sản xuất điện năng, làm vật liệu xây dựng, sản xuất SiO. — chất được sử dùng nhiều trong lĩnh vực xây dựng, luyện thủy tinh, lọc nước.
Trong những năm gần đây, không chỉ RH mà than của nó cũng được dùng làm vật liệu hap phụ dé tách các chất hữu cơ và vô cơ như tách các chất mau hay kim loại nặng gây ô nhiễm trong nước mang lại hiệu quả rất khả quan. Khi đốt RH tạo ra khoảng 14-20% tro, trong đó có 80-95 % silica và lượng nhỏ các nguyên tố kim loại [8]. RH ít cógiá trị thương mai và không hữu ích dé làm thức ăn cho động vật vì nó có chứa hàm lượng silic dioxit [9], hop chất này hòa tan được trong nước nóng với độ kiềm cao [10]. Sự hoạt hóa của AC bao gồm các phương pháp vật lý và hóa học.
AC được sản xuất bang phương pháp vật lý bao gồm hai bước: dau tiên là quá trình than hóa: là nhiệt phân của vật liệu carbon ở nhiệt độ cao (500-1000 °C) trong điều kiện không khí tro dé loại bỏ tối đa các yếu tố oxy và hydro. Thứ hai là kích hoạt nhiệt độ thích hợp cho tác nhân hoạt hóa (như hơi nước) [11]. Phương pháp hoạt hóa hóa học liên quan đến việc ngâm tâm nguyên liệu với hóa chất như H3PO,4, KOH, NaOH, hoặc ZnCh. Những hóa chất này là tác nhân khử nước, yếu tô có thé ảnh hưởng đến sự phân hủy nhiệt phân va làm chậm sự hình thành của hắc ín trong quá trình than hóa, do đó làm tăng năng suất của AC [1].
Nhìn chung, AC được thường được sản xuất bởi sự than hóa các nguyên liệu trước khi hoạt hóa hơi nước. Quá trình than hóa tác động hiệu quả đến chất lượng sản phẩm AC nhờ xúc tiễn gia tăng độ xốp từ đó tạo cau trúc độ xốp cao như sản phẩm cuối cùng [12]. Việc xử lý kiềm đối với nguyên liệu ban đầu có thé làm tăng đáng kế diện tích bề mặt BET và tổng số lỗ xốp trong sản phẩm AC. Nó rat cần thiết dé thúc day các công nghệ xử lý kiềm cho AC hoặc dé phát triển một công nghệ cho việc sử dụng chat thải phát sinh [13] [14].
Sự hiện diện của kim loại nặng trong môi trường là một van đề lớn do độc tính của chúng. Việc xử lý các kim loại sử dụng kết tủa không phải luôn luôn có thé đáp ứng các tiêu chuân. Các công nghệ như thâm thấu ngược, có thé đáp ứng các tiêu chuẩn, nhưng rất tốn kém. Những công nghệ tiễn tiến mà có hiệu quả về chi phí và có thé làm giảm nồng độ kim loại nặng đến mức thấp là van dé quan trọng trong xu thé ngày nay [15].
Quá trình biến tinh bề mặt của AC dé thay đổi tính chat vật ly và hóa học cu thé của chúng. Quá trình này tạo điều kiện cho việc tăng cường loại bỏ các kim loại khỏi nước thải và có thể được thực hiện thông qua các phương pháp khác nhau. Dựa vào loại và tính chất của các chất gây ô nhiễm phải được loại bỏ, biến tính bề mặt trong AC đã được thực hiện nhằm tăng cường sự hấp phụ của nó đối với các chất gây 6 nhiễm như mong muốn. Phương pháp biến tính bé mặt đã được chứng minh có hiệu quả cho khả năng hấp phụ các ion kim loại và loại bỏ chúng khỏi nước.
Phương pháp xử lý acid đã được nghiên cứu để biến tính bề mặt của AC được coi như một cách đầy hứa hẹn đối với các ứng dụng của AC trong nhiều lĩnh vực [16] [17] [18].2Tinh hình nghiên cứu trong nước Gan đây việc nghiên cứu về những nguyên liệulà phế phẩm, đem lại lợi ích kinh tếcũng được quan tâm rất nhiều. Bài báo đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ lần thứ 9 của tác giả Trịnh Văn Dũng và cộng sự trường Đại học Bách Khoa, Tp.HCM về Công nghệ sản xuất AC từ trâu hoạt hóa băng hơi nước. Kết quả thu được diện tích bề mặt riêng của than là 276. Bai báo nghiên cứu kha năng hấp phụ va trao đối ion của xơ dừa va RH biến tính của tác giả Lê Thanh Hưng và cộng su, 2008 [22] kết quả cho hiệu suất khá cao khi hoạt hóa bằng acid citric, hấp phụ/trao đổi ion Ni”? và Cd** với (50 — 60% đối với xơ dừa và 40 — 45% đối với trâu).
Một số luận văn: Nghiên cứu chế tạo AC từ lõi ngô bằng phương pháp oxy hóa và biến tính để ứng dụng làm chất hấp phụ [23] và Nghiên cứu chế tạo AC từ RH băng phương pháp oxy hóa và ứng dụng làm chất hấp phụ trong xử lý nước thải .3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Năm 2014, Hassan và Youssef [1| tách kim loại chì trong dung dịch với hiệu suất cao từ 117.2 mg/g với nguyên liệu RH được xử lý bang HCI và hoạt hóa với tác nhân NaOH. Để tăng tính acid trên bề mặt AC, tác giả dùng H;Os và HNO; và năng suất hấp phụ chi tăng lên. Diện tích BET đạt 1828 m'/g, thé tích lỗ xốp 1.31905 (ml/g), đường kính lỗ 1.4432 nm ở tỷ lệ nguyên liệu: NaOH là 1 : 4. Trong cùng năm thi Santi và cộng sự dùng AC từ RH, hoạt hóa bang ZnCl, hap phụ ion Pbf” với lượng hap phụ tối đa khi cho sóng siêu âm chiếu qua mẫu là 16.8 mg/g cho mẫu không có sóng siêu âm [24].
Xiuli Han và cộng sự [25] đã tối ưu qui trình hoạt hóa than từ RH băng hơi nước với loại bỏ silicate bằng NazCO; trong quá trình than hóa; nhiệt độ và thời gian hoạt hóa là 946°C — 33 phút, tốc độ gia nhiệt là 8 °C/phut. Kết quả đạt được là dung lượng hấp phụ iod là 970.06 mg/g, thé tích tổng lỗ xốp là 0.9388 cm°/g và đường kính lỗ trung bình là 2.