Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Thơ và đặc điểm của ngôn ngữ thơ 1. Thơ là gì? Trước khi đi vào tìm hiểu về ngôn ngữ thơ, chúng ta cần phải biết “tho là gì? ”.Theo tác giả Hữu Đạt viết trong cuốn “Wgôn ngữ thơ ca Việt Nam” thì từ trước tới nay, trong giới nghiên cứu và phê bình đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ. Theo ông, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào đầy đủ, hoàn hảo, phản ánh về thơ một cách bản chất nhất, đặc trưng nhất.
Mỗi định nghĩa mới chỉ đúng từ một góc độ, một phương tiện trên những quan niệm khác nhau về thơ ca. Nhìn một cách khái quát, ông đã nêu ra may khuynh hướng sau đây: a. Khuynh hướng thần thánh hoá thơ ca. Khuynh hướng này cho thơ là một cái gì đó thuộc về thần linh tối cao, do thượng dé sang tao rồi nhập vào con người.
Ở Việt Nam, một số nhà thơ của phong trào Thơ Mới chịu ảnh hưởng của quan niệm này luôn coi thơ là những hình thức nguyện cau dé trở về với Thượng dé.Séng trong xã hội đương thời, bé tắc, thi sĩ làm thơ coi thơ chỉ là những lời than vãn, những tiếng kêu than xót xa khẩn cầu lên đắng tối cao những nguyện ước của người sống trong cõi trần ai bất hạnh. Khuynh hướng thứ hai là khuynh hướng hình thức chủ nghĩa khi định nghĩa thơ ca. Khuynh hướng này tuy không duy tâm siêu hình nhưng lại lý tưởng hoá thơ ca. Từ chỗ dé cao quá mức tới chỗ coi thơ ca là cdi vô biên tuyệt đối, là cái nơi mà con người không thể vươn tới được.
Ở Việt Nam, Thanh Tâm Tuyền, một nhà thơ lãng mạn cũng đã từng nêu ra quan điểm ấy. Thơ sẽ còn lại mãi mãi để nhắc nhở cho thời đại, cho lịch sử, cho những người đang sống và những người kế tiếp rằng hành động của họ chưa đạt tới đích do thơ ca phóng ra. Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng quan tâm tới mặt phản ánh của thơ, tới sự sáng tạo — hay là tính chất nghệ thuật độc đáo của thơ. Ví dụ, 6 nhà thơ Tố Hữu cho rằng “Thơ là biểu hiện tính chất của cuộc sống”.
Xuân Diệu thì quan niệm “7ø Ia lọc lấy tỉnh chất, là sự phản ánh vào trong tâm tình”.17] Những quan niệm trên đây tuy đã dé cập tới mặt ban chat của thơ ca và đã nêu được phần nào vai trò quan trọng của con người trong sự sáng tạo nghệ thuật. Song về cơ bản vẫn chưa nêu được những đặc trưng riêng biệt của thơ ca với các thé loại khác. Hai phương thức cơ bản của ngôn ngữ thơ Nhà văn Gooc-ki đã từng khang định “Ngôn ngữ là yếu to thứ nhất của văn học”. Thơ là một thê loại của văn học, vậy không thể có thơ nếu không có ngôn ngữ.
Nói cách khác, trong thơ ngôn ngữ là yếu tố quan trọng nhất mà nếu như thiếu nó thi thơ không còn ly do dé tồn tại nữa. Nhưng so với các thé loại khác như văn xuôi, kịch, thơ lại có những đặc điểm ngôn ngữ riêng. Một trong những phương thức làm nên những đặc điểm ấy là Phương thức tạo hình và phương thức biểu hiện. Phương thức tạo hình của ngôn ngữ thơ Bat cứ một tác phẩm nghệ thuật nào khi tồn tại cũng phải có hai mặt: Mặt phản ánh (nói về đối tượng) và mặt biểu hiện (thé hiện sự sáng tạo của con người).
Hai mặt này bao giờ cũng gan bó chặt chẽ với nhau và tồn tại không tách rời với nhau. Tuy nhiên, do đặc trưng của từng thé loại, loại hình nghệ thuật, do đặc điểm phong cách của từng nghệ sĩ, có khi mặt này hoặc mặt kia được nỗi lên vị trí hàng đầu, còn mặt còn lại thì bị đây xuống hàng thứ yếu. Ví dụ, người ta thường gọi các ngành như hội hoạ, điêu khắc là các ngành nghệ thuật tạo hình. Còn các ngành như nhảy múa, âm nhạc, văn học.là các ngành nghệ thuật biểu hiện.
Tất nhiên, chúng ta cần phải hiểu rằng, ngay trong nghệ thuật vẫn có tính chất biểu hiện và ngược lại, trong ngành nghệ thuật cũng có tính chất tạo hình. Có điều là, ở mỗi ngành nghệ thuật, chất liệu xây dựng nên phương thức tạo hình là hoàn toàn khác nhau. Chăng hạn, dé làm nên phương thức tạo hình thì các nhà nghệ sĩ ở ngành hội hoạ phải dung màu sắc, ở ngành điêu khắc phải dùng ngôn ngữ. Cho nên, ngôn ngữ chính là cái chất liệu mà các nhà thơ sử dụng để làm nên tính chất tạo hình trong thơ.
Một đặc điểm nỗi bật của phương thức tạo hình là phản ánh trực tiếp đối tượng, nghĩa là miêu tả đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan. Một tác phẩm thơ ca có tính chất tạo hình là một tác phâm đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống, hiện thực và thực tế khiến người ta có thể cảm nhận được. Muốn như vậy, nhà nghệ sĩ phải sử dụng hai thao tác cơ bản là thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp. Thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ như là các bức tranh riêng lẻ về hiện thực.
Thao tác kết hợp cho phép nhà nghệ sĩ xây dựng những bức tranh chung rộng lớn hơn bằng việc kết hợp những bức tranh riêng lẻ này lại với nhau theo những quy luật nhất định. Tài năng của nhà nghệ sĩ được đánh giá ở chỗ, với một sỐ lượng hữu hạn các don vi ngôn ngữ, anh ta phải làm như thế nào đó để tạo được những bức tranh vô hạn về thế giới khách quan cũng như về thế giới nội tâm của con người. Khi hoạt động với tư cách là chất liệu của ngành nghệ thuật tạo hình thì chức năng định danh của ngôn ngữ sẽ nổi lên hàng đầu. Trong trường hợp này, tính đa dạng về ngữ nghĩa, tính giàu có về mặt biểu tượng sẽ bị khử bỏ.18] Phương thức biểu hiên trong ngôn ngữ thơ Phương thức biểu hiện chính là việc khai thác các khả năng biểu hiện của các đơn vị ngôn ngữ thông qua thao tác lựa chọn và thao tác kết hợp trong quá trình tô chức văn ban.
Thao tác lựa chọn cho phép nhà nghệ sĩ lựa chọn một đơn vitrong một loạt các đơn vị có giá trị tương đương với nhau, có thé thay thế nhau trên trục dọc. Thao tác kết hợp nhà nghệ sĩ, sau khi đã lựa chọn, có thể tạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất mà ngôn ngữ dan tộc cho phép. Ngôn ngữ và cau tạo hình tượng thơ Trong bộ môn lý luận văn học, hiện nay thuật ngữ “hinh fượng” va “tinh hình tượng” vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Ngay cả trong các công trình nổi tiếng, nhưng khái niệm này cũng không được bàn đến một cách thấu đáo.
Vậy “hình tượng” là gì và “tính hình tượng” là gi? Theo tác giả Hữu Dat [17,r. 32] thì “hình tượng” được hiểu theo hai nghĩa rộng va hẹp. Theo nghĩa hẹp, “hinh tuwong” là cách biểu hiện làm cho lời nói thêm cụ thê và có nhiều màu sắc. Các định nghĩa cô truyền thường xác định “hinh tượng” là “su phản ánh hiện thực một cách khái quát dưới hình thức đơn lẻ”.
Nói như Goocki, “Hình tượng nghệ thuật.hầu như bao giờ cũng rộng hơn và sâu hơn tư tưởng, nó hản ánh cuộc sống con người với cuộc sống tinh than nhiễu hình nhiều vẻ cùng với tat cả những mâu thuẫn về tình cảm và ý chí của nó. Tác phẩm nghệ thuật đối với cuộc sống thực tế và sinh động hơn. ” Khi phân tích thơ, việc đầu tiên chúng ta cần phân biệt rõ giữa cái gọi là hình tượng nghệ thuật chung và hình tượng văn học nói chung. Vì rõ ràng là không phải chỉ có văn học mới có hình tượng và mới phản ánh cuộc sống băng hình tượng.
Điêu khắc, hội họa, âm nhạc đều có những hình tượng riêng của nó, tức là phản ánh cuộc sống theo cách riêng mang tính chất đặc thù của mình. Ta có thê định nghĩa hình tượng văn học như sau: “Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sinh động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cach danh giá của nhà nghệ si”. “Tính hình tượng là cái ton tại phụ thuộc vào văn cảnh, nó ton tại ở bề mặt văn bản, trên những mỗi quan hệ cụ thé, còn hình tượng là cái thuộc về cấu trúc chiều sâu của văn bản. Nó là sự tổng hòa hay là sự đồng hiện của tất cả những cái hình tượng của văn cảnh ấy.
Nói một cách khác, hình tượng là cái nằm ở phía trong của những mỗi quan hệ. Khái niệm về an dụ 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu an dụ Ấn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cô đại (khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên) ở nhiều cấp độ khác nhau. An dụ không chi được nghiên cứu trong các lĩnh vực thuộc về ngữ văn học, mà còn được nghiên cứu ở nhiều các lĩnh vực khác như: triết học, tâm lý học, phong cách học, từ vựng học và gan day nhat 1a dung học va ngôn ngữ hoc tri nhận.
Lý thuyết về ấn dụ bắt đầu hình thành từ thời triết học Hy Lap. An du theo tiếng Hy Lạp lúc bấy giờ là (metaphor) có nghĩa là chuyển từ chỗ này sang một chỗ khác, tức có nghĩa là chuyển đổi. Sau này khái niệm chuyên đôi ay được van dụng vào việc xác định nghĩa của từ theo phương thức ấn dụ là hiện tượng chuyển nghĩa. Trong ấn dụ một sự vật được miêu ta hay được định nghĩa bằng những từ biéu thị một sự vật khác, có sự tương đồng hay sự giống nhau với sự vật trước.
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cô đại thì an dụ được thé hiện qua cách chi sự vi von, bóng bay và thường ân chứa trong lời khởi đầu của các bài ca đao dân ca sau này và được ghi lại rất nhiều trong các tác phâm Kinh Thi nổi tiếng. Đến thời hiện đại cũng xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về ấn dụ. Có thé ké ra như: R.Cohen, va sau này là George Lakoff và Mark Johnson.Nếu như quan niệm truyền thống chỉ xem ân dụ như là một phương tiện sáng tác của thơ ca hay nghệ thuật hùng biện.