Chương 1: Tai biến địa chất và nguyên nhân, cơ chế hình thành tai biến nứt sụt đất. Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu tai biến nứt sụt đất. Chương 3: Đặc điểm nứt sụt đất ở huyện Thanh Ba trên cơ sở giải đoán địa vật lý và các giải pháp phòng tránh. Luận văn đƣợc hoàn thành trong chƣơng trình thực hiện khóa cao học 2009- 2011 của học viên tại khoa Địa chất - trƣờng Đại Học Khoa Học Tự Nhiên – Đại Học Quốc Gia Hà Nội dƣới sự hƣớng dẫn của TS-NCVCC Đoàn Văn Tuyến (Phòng Địa Vật lý – Viện Địa chất – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Tác giả xin chân thành cảm ơn khoa Địa chất - trƣờng Đại Học Khoa Học Tự Nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phòng Địa Vật lý – Viện Địa chất – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Liên đoàn Quy hoạch và điều tra tài nguyên nƣớc Miền Bắc đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện để học viên hoàn thành luận văn này. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 9 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy CHƢƠNG 1 TAI BIẾN ĐỊA CHẤT VÀ NGUYÊN NHÂN, CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TAI BIẾN NỨT SỤT ĐẤT Nứt sụt đất là một dạng của tai biến địa chất hiện nay đang xảy ra khá phổ biến trên thế giới và nhiều vùng lãnh thổ của nƣớc ta. Quá trình hình thành và xuất hiện tai biến này gắn liền với các vận động địa chất, kiến tạo trong lòng đất (yếu tố nội sinh), sự thay đổi điều kiện khí hậu, khí tƣợng, thảm thực vật,…và trong nhiều trƣờng hợp do tác động của các hoạt động sản xuất (yếu tố ngoại sinh). Để xác định đƣợc nguyên nhân, cơ chế xuất hiện, đặc biệt là phát hiện dự báo các vùng tiềm ẩn nguy cơ của hiện tƣợng nứt sụt đất là một nhiệm vụ khó khăn đòi hỏi phải có sự hiểu biết và kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học cũng nhƣ tiến hành các khảo sát bằng công cụ và thiết bị chuyên dụng.
Tai biến địa chất liên quan đến vận động lớn của Trái đất [Nguồn:Cục địa chất Hoa Kỳ] Các tai biến địa chất có cƣờng độ phá hủy lớn và phạm vi ảnh hƣởng rộng thƣờng liên quan đến các cấu trúc địa chất và vận động kiến tạo sâu trong vỏ Trái đất: động đất, sóng thần, núi lửa. Phầ n lớn đô ̣ng đấ t có quan hê ̣ nguồ n gố c với các ranh giới mảng (dọc đới hút chìm, các sống núi đại dƣơng , các đứt gãy chuyển dạng ) và dọc các đứt gãy sâu phân chia nô ̣i mảng. Núi lửa tập trung chủ yếu ở rìa các mảng thạch quyển, ở chỗ các mảng đang tách ra dọc sống núi giữa đại dƣơng, ở chỗ các mảng đang hội tụ. Sóng thần sinh ra do một số nguyên nhân sau: do động đất với cƣờng độ lớn (thông thƣờng >7,5 độ richter); do hoạt động của núi lửa; do trƣợt lở đất với khối lƣợng lớn dƣới đáy biển.
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 10 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy Sóng thần chứa năng lƣợng cực lớn, lan truyền với tốc độ cao và có thể vƣợt khoảng cách lớn qua đại dƣơng mà chỉ mất rất ít năng lƣợng.Phá hủy do động đất xảy ra tại Ảnh 4.Núi lửa Merapi phun trào ngày Haiti năm 2010.vn) (Nguồn: Vietnamplus.vn) Trận sóng thần ngày 26/12/2004 tại các quốc gia Đông nam á và Nam á giết hại khoảng 230.000 ngƣời (gồm 168.000 ngƣời tại riêng Indonesia). Sóng thần xảy ra tại phía đông bắc Nhật Bản năm 2011.vn) Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 11 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy 1. Tai biến địa chất liên quan với các tai biến khí hậu và môi trƣờng [Nguồn: Cục địa chất Hoa Kỳ] Lũ lụt là một dạng tai biến do các hiện tƣợng khí hậu gây ra, nhƣng quá trình vận động và tác hại của nó trên mặt đất lại dẫn đến những biến đổi lớn về môi trƣờng địa chất ở gần bề mặt nên có thể coi nhƣ một tai biến địa chất. Lũ là hiện tƣợng dòng chảy với tốc độ lớn, mặt dòng chảy nâng cao nhanh thƣờng xảy ra ở miền núi: do thung lũng hẹp, địa hình dốc, lƣợng nƣớc tập trung lớn.
Lụt là quá trình mặt dòng chảy nâng cao từ từ, diện tích bị ngập nƣớc rất lớn (xảy ra ở hạ lƣu, vùng đất trũng). Lũ lụt xảy ra tại Miền trung Việt Nam (Nguồn: Vietnamnet 12/10/2010) Lũ quét xảy ra ở vùng miền núi, có địa hình dốc, thung lũng hẹp. Lƣợng nƣớc tập trung tạo thành dòng lớn trong thời gian ngắn, chảy với tốc độ lớn cuốn theo các vật liệu cứng với kích thƣớc khác nhau (từ mảnh cho đến tảng). Lũ quét có động năng lớn.
Lƣợng vật chất cứng trong dòng chảy chiếm 40 – 60%. Lũ bùn đá: bản chất nhƣ lũ quét nhƣng chỉ khác là các vật liệu cứng trong dòng chảy chiếm 80%, có sức tàn phá rất ghê gớm. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 12 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy Hoạt động của các dạng lũ lụt trên dẫn đến những biến động địa hình, chế độ địa chất thủy văn và tính chất cơ lý các tầng đất đá khác nhau là những yếu tố tác động hoặc kích thích các tai biến địa chất. Tai biến địa chất có tính cục bộ, địa phƣơng [Nguồn: Cục địa chất Hoa Kỳ] Các tai biến địa chất có tính cục bộ địa phƣơng thƣờng xuất hiện trong phạm vi hẹp, độ sâu hoạt động không lớn liên quan đến các vận động và điều kiện địa chất gần mặt đất, điển hình là các hiện tƣợng: trƣợt đất, xói ngầm, lún, nứt, sụt đất,… Trƣợt đất là sự di chuyển đất đá xảy ra trên bề mặt địa hình ở những chỗ sƣờn dốc, thung lũng sông, vách bờ các hồ và biển liên quan với vận động trọng lực.
Trƣợt đất bao gồm các hiện tƣợng: trƣợt, chảy và đổ lở. Trƣợt đất có thể xảy ra ở khắp nơi và ở các vùng khí hậu khác nhau. Trƣợt đất xảy ra khi lực gây trƣợt của trọng lực vƣợt quá độ bền của đất đá nói chung hoặc vƣợt quá ở các bề mặt hoặc trong các đới yếu đang tồn tại. Xói ngầm là quá trình moi chuyển những hạt nhỏ ra khỏi đất đá, ra khỏi chất nhét ở khe nứt và hốc karst, là một dạng của quá trình rửa xói ngầm đất đá.
Sự phát triển xói đặc trƣng cho tác dụng phá hoại do thấm. Xói ngầm là một dạng phá hoại đất hòn mảnh hoặc chất nhét trong khe nứt và hốc karst và đá nửa cứng do dòng thấm gây ra. Xói ngầm thƣờng là nguyên nhân của nhiều loại biến dạng mặt đất và thành tạo các trũng, phễu lún, hố sụt, khe nứt,. phá hoại các công trình xây dựng, ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt động kinh tế xã hội của con ngƣời.
Xói ngầm liên quan chặt chẽ với tai biến nứt sụt đất. Tai biến lún, nứt sụt đất [Nguồn: Cục địa chất Hoa Kỳ] Nƣ́t su ̣t đấ t là hiê ̣n tƣơ ̣ng phá vỡ bề mă ̣t điạ hin ̀ h hiê ̣n ta ị bằ ng nhƣ̃ng đƣờng nƣ́t, hố su ̣t với quy mô, kích thƣớc khác nhau. Nứt sụt đất là một dạng tai biến địa chất đang xảy ra khá phổ biến ở Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến lún, nứt sụt đất + Nứt sụt đất do phá hủy kiến tạo.
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 13 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy + Nứt sụt đất do phá hủy tại chỗ (phi kiến tạo). + Nứt sụt đất do ngoại sinh. Nứt sụt đất do phá hủy kiến tạo: đối với nứt sụt đất có nguồn gốc kiến tạo thƣờng phát triển thành đới và kéo dài theo tuyến, dọc theo các đứt gãy tái hoạt động. Sự vận động tƣơng đối của các cánh đứt gãy theo phƣơng thẳng đứng và ngang là nguyên nhân sinh ra các đƣờng nứt, hố sụt.
Nứt sụt đất có nguồn gốc kiến tạo không bị các yếu tố tự nhiên (địa hình, tính cơ lý của đất đá…) khống chế, chúng ổn định, hoạt động mạnh, phát triển đƣờng nứt, hố sụt có hệ thống, quy mô lớn, gây nguy hại lớn. Tại các vùng động đất mạnh thƣờng xuất hiện nứt sụt đất. Nứt sụt đất do phá hủy tại chỗ: Nứt sụt đất có nguồn gốc tại chỗ thƣờng phân bố có tính địa phƣơng, gắn liền với các vị trí có tiềm năng trƣợt, sụt lún mặt đất và sập mặt đất. Nứt sụt đất có nguồn gốc tại chỗ do một số nguyên nhân nhƣ: - Tạo lỗ hổng trong đá cacbonat (karst).
- Tạo hố sụt trên mặt đất trong đá trầm tích gắn kết kém (giả karst). - Quá trình kết hợp hai dạng trên. Nứt sụt đất do lỗ hổng trong đá cacbonat (karst): Đá vôi và đá cacbonat đƣợc hình thành trong môi trƣờng biển nông. Thành phần chủ yếu là calxi cacbonat dễ hòa tan trong nƣớc, đặc biệt là nƣớc có chứa axit, trong các lớp đá vôi không đồng nhất sẽ xảy ra quá trình phá hủy đá vôi không đều do vận động của nƣớc.
Đó chính là quá trình hoạt động karst. Có hai nguyên nhân chính làm cho karst hoạt động là: Nguyên nhân do nguồn gốc và điều kiện hình thành: do nguồn gốc và điều kiện hình thành của môi trƣờng biển cổ mà từng vỉa hay lớp có thành phần khác nhau trong khối đá vôi không đồng nhất. Có những vỉa hay lớp có hoạt tính hóa học cao hơn nên bị phá hủy bởi vận động dòng nƣớc tạo ra các dạng karst mạnh hơn trong vỉa hay lớp liền khối. Trường ĐH Khoa học Tự nhiên 14 Khoa Địa Chất z Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Ngọc Thùy Nguyên nhân do các hoạt động địa chất - kiến tạo: các hoạt động địa chất, kiến tạo gây ra các phá hủy, khe nứt trong đá vôi tạo ra đới dập vỡ, thay đổi bề mặt địa hình tạo điều kiện chứa nƣớc và chuyển động của nƣớc.
Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm thay đổi làm quá trình phong hóa đá vôi tích cực hơn trong các vỉa không đồng nhất cũng tạo các điều kiện xuất hiện karst. Dựa vào điều kiện phân bố, các đối tƣợng karst đƣợc chia thành 2 dạng chính là karst lộ và karst ngầm.