Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khai thác sử dụng đất đai theo tiếp cận địa lý học cho quy hoạch và sử dụng đất bền vững Chương 2. Đặc điểm điều kiện địa lý phát sinh - thoái hóa đất và tài nguyên đất thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận Chương 3. Đánh giá, phân hạng đất đai và thoái hóa đất tổng hợp thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận Chương 4.
Đề xuất định hướng không gian và giải pháp sử dụng đất bền vững thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHAI THÁC SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI THEO TIẾP CẬN ĐỊA LÝ HỌC CHO QUY HOẠCH VÀ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm đƣợc sử dụng 1. Đất, đất đai, tài nguyên và môi trường đất 1.
Đây được coi là một khái niệm đầy đủ và khoa học về đất, đã phát triển thành học thuyết phát sinh học đất trong thế kỷ XX. Dưới góc độ toán học có thể coi đất là một hàm số theo thời gian của các biến số là tất cả các yếu tố địa lý tác động tương hỗ hình thành đất [24, 25]: Đất = f[(Đá mẹ, Địa hình)(Khí hậu, Thủy văn)(Sinh vật, Con người)thời gian] Như vậy, theo học thuyết phát sinh học đất, từ các loại đá khác nhau trong một hoàn cảnh địa lý sẽ hình thành nên các loại đất khác nhau, do đó đất được xem như tấm gương của môi trường địa lý. Độ phì đất (soil fertility): Được coi là thuộc tính cơ bản của đất để phân biệt với “đá mẹ”. Williams: “Độ phì là khả năng của đất cung cấp cho cây nước, các nguyên tố dinh dưỡng khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ,.) để cho cây sinh trưởng và phát triển” (dẫn theo Trần Kông Tấu, 2005) [25].
Nhưng các chất dinh dưỡng trong đất không phải luôn ở dạng dễ tiêu để cung cấp cho cây trồng, vì vậy khi nói đất giàu dinh dưỡng thì không hẳn là đất có độ phì cao. Độ phì của đất phải hiểu là số lượng chất dễ tiêu chứa trong đất, nó chỉ là một phần sự giàu có dinh dưỡng của đất mà thôi. Theo đó, độ phì nhiêu của đất được chia thành các dạng sau: Độ phì tự nhiên được quy định bởi thành phần hóa học của đá mẹ, gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của đất và độc lập với ý chí của con người. Độ phì thực tế được hiểu là “trong điều kiện một độ phì tự nhiên có tính đến những quá trình thổ nhưỡng đang xảy ra, mối quan hệ tương hỗ với các yếu tố địa lý khác và với tác động của con người vào đất trong quá trình sử dụng”.
Như vậy, trong đất bao giờ cũng tiềm ẩn một độ phì tự nhiên nhưng cơ sở của tiềm năng sản xuất và quyết định năng suất cây trồng lại phụ thuộc vào độ phì thực tế (Nguyễn Vy, 1998; Đỗ Ánh, 2003) [26, 27]. Đất đai Theo quan điểm sinh thái, đất đai (land) được coi là vật mang của hệ sinh thái và được định nghĩa: “Là một vùng đất được xác định về mặt địa lý của bề mặt trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như: Không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và cả những hoạt động trước đây của con người ảnh hưởng đến việc sử dụng của vùng đất đó của con người trong hiện tại và tương lai” (Brinkman R. Theo FAO (1976) đất đai bao gồm tất cả các yếu tố của môi trường tự nhiên, những yếu tố này ảnh hưởng đến tiềm năng sử dụng đất, bao gồm khí hậu, địa hình, đất (soil), thủy văn, sinh vật và các kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại. Do đó đất đai (land) là một khái niệm rộng hơn đất (soil) [29].
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên (đất, khí hậu, địa hình, địa chất, thủy văn, sinh vật) và kinh tế -xã hội (dân cư, hoạt động sản xuất). Tài nguyên và môi trường đất - Tài nguyên đất (land resources): Được hiểu là toàn bộ lớp vỏ trái đất mà ở đó con người và sinh vật có thể sinh sống được. Nguồn tài nguyên đất là hữu hạn với một tầng mỏng trên bề mặt trái đất, có khả năng phục hồi song rất chậm chạp, để hình thành một phẫu diện đất hoàn chỉnh phải cần đến hàng trăm thậm chí hàng nghìn năm. Tài nguyên đất được đặc trưng bởi hai yếu tố cơ bản là số lượng đất, được xác định theo diện tích và chất lượng đất, được xác định theo độ phì (Trần Kông Tấu, 2005) [25].
- Môi trường đất (soil environment): Đất là một hệ sinh thái phức tạp, được hình thành qua các quá trình vật lý, hóa học và sinh học. Bản thân đất là một môi trường hoàn chỉnh, mặt khác lại là một “môi trường thành phần” của môi trường tự nhiên bao quanh nó. Trong môi trường đất tồn tại các thành phần vô sinh như: sỏi, hạt đất, dung dịch đất, không khí, nước, nhiệt độ, năng lượng, đá mẹ,. và các thành phần hữu sinh là thực vật, động vật và vi sinh vật đất (Lê Huy Bá, 2000) [30].
Đánh giá đất đai và thoái hóa đất 1. Đánh giá đất đai Đánh giá đất đai (land evaluation) được định nghĩa là: “Đánh giá hiệu quả đất đai khi được sử dụng cho một mục đích cụ thể, liên quan đến việc thực hiện các nghiên cứu về đất (soil), khí hậu, thảm thực vật và các khía cạnh khác của đất đai để xác định và so sánh giữa yêu cầu của các loại sử dụng đất cụ thể với điều kiện đất đai cho mục tiêu đánh giá” (FAO, 1976, 2007) [29, 31]. 9 Đơn vị cơ sở để đánh giá là đơn vị đất đai (land units), được định nghĩa: Là một diện tích đất đai, có đặc tính và chất lượng riêng, có thể phân định ranh giới trên bản đồ. Đặc tính đất đai (land characteristic) là thuộc tính có thể đo hay ước tính (lượng mưa, độ dốc, kết cấu đất, khả năng chứa nước,.), có thể dùng làm phương tiện để mô tả chất lượng đất đai hoặc xác định khả năng thích hợp khác nhau của các đơn vị đất đai trong việc sử dụng.
Chất lượng đất đai (land quality) là một thuộc tính tổng hợp của đất đai (khả năng chống xói mòn, nguy cơ ngập lụt, khả năng giữ các chất dinh dưỡng,.) phản ánh mối quan hệ nội tại của các đặc tính đất, ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đối với một loại hình sử dụng đất đai cụ thể (FAO 1976, 1985, 2007) [29, 31, 32]. Đối tượng để đánh giá đất đai, được phân chia theo mức độ chi tiết, gồm: Kiểu sử dụng đất đai chính (major kind of land use) dùng trong đánh giá đất đai khái quát (đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm,…) và loại sử dụng đất đai (land utilization type) là một loại hoặc một nhóm cây trồng được phân chia chi tiết từ kiểu sử dụng đất đai chính trong điều kiện kỹ thuật, kinh tế - xã hội nhất định (FAO, 1976) [29]. Thoái hóa đất Đã có rất nhiều khái niệm về thoái hóa đất (soil/land degradation) được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu và các tổ chức trên thế giới (Oldeman, 1988; UNEP, 1992; FAO, 2002; Holm, 2003; Kniivila, 2004) [33-37]. Tuy nhiên, có một sự đồng thuận gần như phổ quát rằng “Thoái hóa đất là sự suy giảm năng suất của đất mà nguyên nhân chính là do hoạt động của con người” (Gibbs & Salmon, 2015).
Trong đó, khái niệm thoái hóa đất (land degradation) được mở rộng hơn theo cách tiếp cận hệ sinh thái, bao gồm cả đất (soil) và thảm thực vật. Trên quan điểm địa lý tự nhiên tổng hợp, Nguyễn Đình Kỳ (1987, 1990) đã cho rằng: “Trong giai đoạn phát sinh, phát triển, thoái hóa đất bị chi phối bởi các quá trình tự nhiên vốn có gọi là thoái hóa tiềm năng. Thoái hóa từng yếu tố tính chất đất hoặc toàn diện trong mỗi thời điểm khai thác sử dụng đất gọi là thoái hóa hiện tại” [40, 41]. Từ những khái niệm trên cho thấy, bản chất của thoái hoá đất là các quá trình thay đổi các tính chất lý - hóa - sinh học của đất dẫn đến suy giảm (hoặc mất) khả năng thực hiện các chức năng của đất.
Sử dụng đất bền vững và quy hoạch sử dụng đất và tổ chức không gian 1. Sử dụng đất bền vững Tính “bền vững” (sustainability) đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. 10 Theo báo cáo Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc (2002): “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường [42]. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (sustainable land use) không chỉ bao gồm sử dụng đất cho mục đích nông nghiệp và lâm nghiệp mà còn bao gồm cả các khu dân cư, khu công nghiệp, đường giao thông và các hoạt động khác của con người.
Sử dụng đất theo nghĩa này, có thể được gọi là bền vững khi nó đạt được sự phân bố không gian hoặc cơ cấu sử dụng đất đai cho các mục đích khác nhau đảm bảo đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái của toàn bộ hệ thống (van Lier H. Dưới cách nhìn nhận như trên, FAO (1993) đã xây dựng định nghĩa về tính bền vững cụ thể trong nông nghiệp: “Sử dụng đất nông nghiệp bền vững là loại sử dụng đất có thể sản xuất đủ đáp ứng các nhu cầu cho các cư dân hiện tại và tương lai trong khi vẫn giữ gìn và nâng cao được tài nguyên đất đảm bảo sản xuất”. Và nêu ra 5 nguyên tắc cho việc xác định loại sử dụng đất nông nghiệp bền vững, gồm: (1) Duy trì và nâng cao sản lượng; (2) Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất; (3) Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn thoái hóa đất; (4) Có thể tồn tại về mặt kinh tế lâu bền; (5) Có thể được chấp nhận về mặt xã hội.