mở đầu, nội dung và kết luận. Phần nội dung gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lí NN Chƣơng 2: Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự phát triển và phân bố NN huyện Quảng Xƣơng. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển và phân bố NN huyện Quảng Xƣơng Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp PTNN huyện Quảng Xƣơng đến năm 2025, tầm nhìn 2030. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ NÔNG NGHIỆP 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣa có một ngành kinh tế nào đƣợc nghiên cứu, quan tâm nhiều nhƣ NN bởi NN là ngành có lịch sử lâu đời và có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển KTXH của các quốc gia, đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới. Các nhà khoa học, các chuyên gia, các tổ chức, cơ quan các cấp đã tập trung nghiên cứu NN dƣới nhiều góc độ khác nhau: chính sách, kinh tế, xã hội, chính trị, sinh học, địa lí học,… 1. Trên thế giới Trong cuốn “học thuyết kinh tế” nhấn mạnh: Sự phát triển NN giữ vai trò rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài ngƣời bởi vì con ngƣời trƣớc hết phải có ăn rồi sau đó mới đến các hoạt động khác. Vai trò của nông nghiệp sau này đƣợc kế thừa, phát huy bởi nghen và nhiều nhà khoa học khác trên thế giới [16].
Johnston và Mellor đƣa ra 05 vai trò của NN đối với phát triển kinh tế, đó là gia tăng nguồn cung cấp lƣơng thực - thực phẩm (LT-TP) cho tiêu dùng trong nƣớc, chuyển giao lao động từ khu vực NN sang khu vực phi NN, mở rộng quy mô của thị trƣờng đối với sản phẩm NN, tăng nguồn cung cấp tiết kiệm nội địa và mở rộng xuất khẩu nông sản thu ngoại tệ [58]. Nghiên cứu NN dƣới góc độ Địa lí học trên thế giới có nhiều công trình, tiêu biểu là Grigg D và Singh J.S trong ấn phẩm An introduction to Agricultural Geography: Second edition,Published by Routledge và Agricultural Geography: Third edition; trong đó những cơ sở lí luận của Địa lí NN nhƣ: khái niệm, hƣớng tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu, các nhân tố KTXH ảnh hƣởng tới PTNN, tác động của NN đến môi trƣờng, thực trạng phát triển và sự phân hóa SXNN theo không gian đã đƣợc đề cập chi tiết [56], [59]. 7 Những nghiên cứu nhiều nhất về NN là FAO, WB, UNDP… qua nhiều ấn phẩm. FAO với cuốn “Xây dựng chính sách cho NN bền vững và phát triển nông thôn” [55] khẳng định: PTNN bền vững trên cơ sở quản lý, bảo tồn TNTN và thay đổi thể chế công nghệ nhằm đảm bảo thỏa mãn và duy trì nhu cầu của con ngƣời cả thế hệ hiện tại và tƣơng lai.
Sự bền vững này (gồm N, L, TS) đảm bảo không tổn hại đến môi trƣờng với công nghệ phù hợp, có hiệu quả về kinh tế và đƣợc xã hội chấp nhận. Từ đó, FAO đƣa ra các chính sách hƣớng dẫn, giúp đỡ ngƣời nông dân tăng GTSX NN, thúc đẩy nông thôn phát triển. WB và Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế trong ấn phẩm Tạo thuận lợi thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh: Gợi ý chính sách cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam (Tài liệu dịch Tiếng Việt), cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của NN là góp phần thúc đẩy thƣơng mại, hội nhập kinh tế quốc tế thông qua hàng hóa xuất khẩu. Nghiên cứu này cũng gợi ý ba trụ cột thúc đẩy tăng trƣởng thƣơng mại; ở trụ cột thứ ba, cuốn sách nhấn mạnh những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm gạo, cao su, cà phê và thủy sản [25].
Hiện nay, NN đƣợc nghiên cứu nhiều nhất gắn với các khái niệm “NN bền vững”. Có thể tìm thấy nội dung này trong nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, các tổ chức với những sắc thái và góc độ khác nhau [55] [57]. PTNN bền vững không thể tách rời PTNN, đó là thông điệp chung của các nghiên cứu. Ở Việt Nam Dƣới góc độ địa lí học, các công trình nghiên cứu về địa lí NN đƣợc nghiên cứu nhiều nhất trong các nghiên cứu của Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Văn Phan [27], [40], [42], [49], [50].
Những công trình tiêu biểu nhƣ: Địa lí KTXH Việt Nam, Địa lí KTXH đại cƣơng, Địa lí Nông Lâm Thủy sản, Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam, Tổ chức lãnh thổ NN,… Các ấn phẩm đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về lí luận và thực tiễn của địa lí KTXH nói chung và địa lí NN nói 8 riêng. Trong đó, những nội dung cần thiết để vận dụng vào nghiên cứu địa lí NN của một lãnh thổ cụ thể bao gồm: vai trò, đặc điểm của ngành NN, các nhân tố ảnh hƣởng cũng nhƣ thành tựu và hạn chế của ngành NN Việt Nam; đặc biệt vấn đề tổ chức lãnh thổ NN đƣợc đề cập đến ở hầu hết các công trình nghiên cứu dƣới góc độ địa lí học. Dƣới góc độ kinh tế NN, chủ yếu là các công trình của các nhà kinh tế học thuộc trƣờng ĐH kinh tế quốc dân nhƣ Vũ Đình Thắng, Phạm Đình Vân, Đỗ Thị Kim Chƣơng, Đinh Phi Hổ,… [17], [22], [38]. Các ấn phẩm này đề cập chủ yếu vấn đề PTNN dƣới góc độ kinh tế học, trong đó tập trung vào các lí thuyết kinh tế trong NN, quy luật cung cầu, đầu vào, đầu ra, thị trƣờng, vấn đề phát triển bền vững trong sản xuất NN.
Đây cũng là những cơ sở cần thiết để tác giả vận dụng trong nghiên cứu này. Dƣới góc độ sinh thái NN, gắn liền với những nghiên cứu về hệ thống NN, hệ sinh thái NN, hệ thống cây trồng,… Điển hình là Bùi Huy Đáp, Nguyễn Điền, Đào Thế Tuấn,. Hầu hết đều nghiên cứu dƣới góc độ kĩ thuật, đó là các biện pháp canh tác trong SXNN, xây dựng hệ thống NN. Nghiên cứu về NN nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các tổ chức trên thế giới; điển hình nhƣ WB, OECD, FAO,… thông qua nhiều ấn phẩm có giá trị thực tiễn cao nhƣ: Chuyển đổi NN Việt Nam: tăng giá trị, giảm đầu vào, Đa dạng hóa NN ở Việt Nam, Chính sách NN Việt Nam,… [23],[25], [26].
NN là đề tài không giới hạn của Bộ kế hoạch đầu tƣ, Viện nghiên cứu Chính sách phát triển NN, Bộ NN và PT nông thôn, các viện nghiên cứu, các trƣờng đại học, các cơ quan ban ngành. Đây đều là những hƣớng nghiên cứu đƣợc tác giả vận dụng ở những góc độ phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình, trong đó chủ yếu tác giả kế thừa và sử dụng kết quả từ các công trình nghiên cứu dƣới góc độ địa lí học, có nghĩa là tập trung vào phân tích đánh giá các nhân tố địa lí phục vụ cho PTNN, thực trạng phát triển và phân bố NN. 9 Ngoài ra còn phải kể đến là hệ thống các công trình là luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực NN [8], [20], [21], [46], …. Tác giả xin đƣợc kế thừa và bổ sung những vấn đề mới về địa lí NN.
Nghiên cứu về huyện Quảng Xương 1. Các khái niệm cơ bản liên quan đến địa lí NN 1. Khái niệm về nông nghiệp Khái niệm NN đƣợc đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu dƣới nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo Spedding (1979) đƣa ra định nghĩa: NN là một loại hoạt động của con ngƣời, tiến hành trƣớc hết là để sản xuất ra lƣơng thực, sợi, củi đốt cũng nhƣ các vật liệu khác, bằng sự cân nhắc kỹ lƣỡng và sử dụng có hiệu quả cây trồng và vật nuôi [54]. Theo Từ điển Tiếng Việt: NN “là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội, có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi” [37].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “NN ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra LTTP và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản” [53]. Theo Nguyễn Đình Thắng, Hoàng Văn Định (2002): NN là “quá trình sản xuất LT-TP, tơ, sợi, nguyên liệu, … cho các ngành công nghiệp thuộc dự án, thủ công mĩ nghệ, dƣợc-mĩ phẩm và các sản phẩm khác có thể đƣợc bởi trồng trọt và chăn nuôi gia súc, gia cầm nhằm phục vụ lợi ích kinh tế, mục đích tiêu dùng và các mục đích khác tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng sản xuất của cộng đồng ngƣời sử dụng NN” [37]. Bƣớc sang thế kỉ XXI, NN đƣợc tiếp cận và nghiên cứu ở nhiều khía cạnh mới.
NN đƣợc coi là một hoạt động kinh tế, cơ sở cho sự phát triển công 10 nghiệp và CNH, ĐTH (cung cấp LT-TP, nguyên liệu, đất, lao động, thị trƣờng, vốn cho công nghiệp, .), đảm bảo an ninh lƣơng thực; là sinh kế giữ vai trò quan trọng trong giảm nghèo, là nơi nuôi dƣỡng và cung cấp các nguồn tài nguyên, dịch vụ môi trƣờng,. Khái niệm về cơ cấu NN, chuyển dịch cơ cấu NN, tái cơ cấu NN, tổ chức lãnh thổ NN + Cơ cấu NN là tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong SXNN, có mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ nhất định cả về mặt lƣợng và chất. Các bộ phận của NN tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhằm đạt hiệu quả cao về KT-XH và môi trƣờng [46]. Cơ cấu NN bao gồm ba bộ phận chủ yếu: cơ cấu NN theo ngành, cơ cấu NN theo lãnh thổ và cơ cấu NN theo thành phần kinh tế.
Các bộ phận này tác động qua lại với nhau. Trong đó Cơ cấu NN theo ngành là nội dung quan trọng nhất của cơ cấu NN. Cơ cấu ngành NN phản ánh số lƣợng, vị trí, tỉ trọng các bộ phận cấu thành ngành NN, bao gồm NN, lâm nghiệp và thủy sản. Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động xã hội trong NN nói chung và trình độ phát triển của sức sản xuất nói riêng.
Cơ cấu ngành theo nghĩa hẹp bao gồm NN (trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ NN); theo nghĩa rộng bao gồm cả thủy sản (nuôi trồng, đánh bắt và dịch vụ thủy sản), lâm nghiệp (trồng rừng, khai thác và dịch vụ lâm nghiệp) [49], [50].