Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI QUẬN HẢI AN 1. Điều kiện tự nhiên quận Hải An 1. Vị trí địa lý Quận Hải An là quận nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng hướng ra biển, cách trung tâm thành phố khoảng 7 km và là một trong 4 quận trung tâm của thành phố Hải Phòng. Quận được thành lập vào năm 2002 trên cơ sở tách 5 xã thuộc huyện An Hải (cũ) và phường Cát Bi thuộc quận Ngô Quyền với diện tích tự nhiên 10.492 ha, dân số khoảng 77.600 người (năm 2002) và sau 10 năm đã tăng lên 106.
Khi mới thành lập quận Hải An gồm 6 phường: Cát Bi, Đằng Hải, Đằng Lâm, Đông Hải, Nam Hải và Tràng Cát. Đến năm 2007 do việc điều chỉnh địa giới hành chính nên quận Hải An ngày nay gồm 8 phường: Cát Bi, Đằng Hải, Đằng Lâm, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải, Thành Tô và Tràng Cát.1 Sơ đồ khu vực nghiên cứu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quận Hải An có vị trí giáp ranh như sau: phía Bắc giáp với quận Ngô Quyền và huyện Thủy Nguyên, phía Nam giáp quận Dương Kinh, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp với quận Ngô Quyền. Địa hình, địa mạo Quận Hải An nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng tiếp giáp với biển, độ cao trung bình quận từ + 3,5m đến + 4,5m [30] so với mực nước biển chủ yếu được hình thành do phù sa bồi đắp. Khí hậu, thủy văn Quận Hải An có khí hậu đặc trưng của khu vực ven biển và đồng bằng châu thổ sông Hồng là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,6 oC; nóng nhất từ tháng 6 đến tháng 8 (nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 29,4 oC), lạnh nhất từ tháng 11 đến tháng 2 (nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất là 16,8 o C). Độ ẩm bình quân trong năm khoảng 83%. Hướng gió thay đổi trong năm: từ tháng 11 đến tháng 3 là gió Bắc và Đông Bắc, từ tháng 4 đến tháng 10 là gió Nam và Đông Nam, tốc độ gió lúc lớn nhất là 40m/s. Lượng mưa bình quân hàng năm khoảng 1.494,7mm, tổng số ngày mưa trong năm là 117 ngày, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Khu vực nghiên cứu được bao quanh bởi các hệ thống sông: sông Bạch Đằng, sông Cấm, sông Lạch Tray, sông Ruột Lợn và biển ở phía Đông. Các sông đều bắt nguồn từ phía Tây – Tây Bắc, chảy theo hướng Nam – Đông Nam rồi đổ ra biển. Do gần biển nên các sông có độ dốc nhỏ, dòng chảy quanh co uốn khúc, chế độ thủy văn sông chịu ảnh hưởng rất lớn của chế độ thủy văn biển: nhật triều, biến động trong ngày từ 2,5m đến 3,5m. Chế độ nước thể hiện ở 2 mùa rõ rệt: mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau.
Chế độ nhiệt và độ mặn nước biển thay đổi theo mùa. Chế độ nhiệt của nước biển tầng mặt tuân theo quy luật bức xạ của mặt trời trong ngày. Nhiệt độ nước bề mặt và nhiệt độ không khí thường chênh lệch nhau 1 – 2 oC. Độ mặn của nước biển phụ thuộc vào độ sâu, ở gần bờ ít ổn định và thập hơn ở ngoài khơi.
Điều kiện kinh tế - xã hội quận Hải An 1. Kinh tế 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quận Hải An là quận tương đối trẻ của thành phố Hải Phòng nhưng với quỹ đất nông nghiệp dồi dào, để đẩy mạnh phát triển kinh tế đảng bộ và chính quyền quận đã có những chủ trương, chính sách cụ thể để hộ trợ các thành phần kinh tế phát triển. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển cả về số lượng và quy mô, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế dịch vụ - công nghiệp phù hợp với tiềm năng và lợi thế của quận. Hoạt động thương mại – dịch vụ phát triển nhanh đã hình thành thêm nhiều cơ sở, các ngành dịch vụ mới đáp ứng với tình hình hiện nay.
Sản xuất nông nghiệp được chỉ đạo tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cấp các công trình thủy lợi.Kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng trọng dịch vụ công nghiệp. Quan hệ sản xuất và môi trường sản xuất kinh doanh từng bước được kiện toàn thu hút được nhiều dự án đầu tư công nghiệp, dịch vụ, đô thị vào địa bàn đáng chú ý là việc đầu tư, xây dựng khu công nghiệp Đình Vũ tại bán đảo Đình Vũ với diện tích xây dựng khoảng 945 ha. Các chỉ số kinh tế thể hiện qua các giai đoạn như sau: Trong giai đoạn 2006 – 2012, tăng trưởng kinh tế trên địa bàn theo giá trị sản xuất đạt mức 30,1%/năm trong đó ngành công nghiệp – xây dựng tăng 37,2%/năm, ngành dịch vụ tăng 23,39%/năm, ngành nông lâm thủy sản giảm 3,5%/năm. Tỷ trọng các ngành kinh tế trong năm 2012 như sau: ngành công nghiệp – xây dựng: 64,2%; ngành dịch vụ và du lịch: 34,9%; ngành nông nghiệp 0,9% Chuyển dịch cơ cấu: năm 2006 ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 46,8%, năm 2010 chiếm 63,89% và đến năm 2012 tăng lên 64,2%; nhóm ngành thương mại – dịch vụ chiếm 48% năm 2006, năm 2010 giảm xuống 34,8% và đến năm 2012 chiếm 34,9% [30].
Văn hóa - xã hội Tính đến năm 2012 dân số trung bình quận Hải An khoảng 106. mật độ dân số trung bình 1.019 người/km2, song phân bố không đều. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân quân 0,8% đến 0,83%. Trong tổng số dân số trên thì có khoảng 70.210 người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 65,7% dân số [30].
Về chất lượng lao động: trong những năm gần đây chất lượng lao động của quận đã cải thiện nhiều, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo đã giảm dần, số lao động 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng nhanh trong các ngành kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ - thương mại. Tuy nhiên chất lượng lao động hiện nay vẫn chưa cao, phần lớn là lao động phổ thông. Về y tế và giáo dục. Ngành giáo dục – đào tạo đã có bước phát triển nhanh, vững chắc hiện đang đứng trong top dẫn đầu của thành phố Hải Phòng.
Quâ ̣n Hải An đã và đang cải tạo, nâng cấp các trường học và trạm y tế. Tính đến nay đã có 5/8 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia và 8/20 trường học đạt chuẩn. Về cơ sở hạ tầng : Giao thông: mạng lưới giao thông trong khu vực nghiên cứu tương đối thuận lợi gồm cả đường bộ, đường sông, biển và đường hàng không. Hiện nay trong khu vực quận Hải An có các tuyến quốc lộ và giao thông chính chạy qua gồm quốc lộ 5 đi qua quận với chiều dài 2,27 km; đoạn phố Trần Hưng Đạo (gã 3 chùa Vẽ - ngã 3 Đoạn Xá) dài 1,02 km; ngã 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm đến đập Đình Vũ dài 2,85 km; đường liên phường dài 3,6 km; đường xuyên đảo Đình Vũ dài 8km; đường Lê Hồng phong dài 3 km; đoạn phố Văn Cao dài 0,5 km; đoạn phố Cát Bi dài 1,8 km; phố Ngô Gia Tự dài 3,18 km; đường từ cổng sân bay cũ đến bãi rác Tràng Cát dài 2,16 km.
Ngoài ra quận Hải An còn có tổng số 14 km tuyến đường giao thông nội thị dẫn đến các phường, chất lượng khá tốt, đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Quận Hải An còn có một tuyến đường sắt chạy qua đến cảng chùa Vẽ, chủ yếu phục vụ vận chuyển hàng hóa đi và đến cảng chùa Vẽ. Mặt khác với vị trí của mình Hải An là quận còn có nhiều cảng nhất thành phố Hải Phòng. Hệ thống đường thủy với các cảng sông như: chùa Vẽ, cảng Cấm, cảng Đình Vũ, cảng quân sự và một số cảng chuyên dùng.với tổng chiều dài khoảng 3 km cầu cảng, chiếm 1/3 tổng chiều đài các cầu cảng toàn thành phố.
Và một điểm nữa về giao thông làm cho quận Hải An có ưu thế hơn hẳn so với các quận huyện khác của thành phố Hải Phòng đó là có một cảng hàng không: sân bay Cát Bi, với khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách hàng năm khá lớn (khoảng 300.000 hành khách/năm và gần 2.000 tấn hàng hóa) 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hệ thống điện của Hải An hiện nay có trên 170 km đường dây cáp điện các loại, trong đó có 17,3 km đường dây cao thế còn lại tập trung hủ yếu vào các tuyến đường dây trung thế 35 KV và hạ thế. Hiện nay 100% số hộ dân trong quận được sử dụng điện sinh hoạt. Nhìn chung hệ thống điện đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân. Hệ thống cấp thoát nước, thủy lợi: Nguồn nước sạch cung cấp cho quận hiện nay là từ nhà máy nước An Dương.
Nguồn nước ngầm trên địa bàn quận có trữ lượng khá, nhưng chất lượng không còn tốt do ảnh hưởng của sự nhiễm mặn và các chất thải công nghiệp trên địa bàn quận. Hệ thống thoát nước gián tiếp thông qua hệ thống kênh, mương, hồ và cống ngăn triều. Đến nay trên địa bàn chưa có hệ thống thoát nước hoàn chỉnh, nước mưa chủ yếu tràn tự nhiên trên bề mặt, tập trung chảy vào hệ thống mương thủy lợi và kênh An Kim Hải rồi thoát ra sông Cấm, sông Bạch Đằng và thoát ra biển. Hiện nay ở các khu dân cư, nước sinh hoạt vẫn thoát cùng với nước mưa, chưa có hệ thống thoát nước độc lập.
Hệ thống thủy lợi có tuyến đê biển Tràng Cát dài 15,42km nằm trải dài từ Đông Hải 1 qua Nam Hải, Tràng Cát đến Cát Bi với cao trình từ + 4,5m đến +5m. Ngoài ra còn có tuyến đê bao Tân Vũ mới với chiều dài 6,64km. Dưới đê có 19 cống thoát nước thải và ngăn triều. Toàn bộ hệ thống kênh mương tưới tiêu và thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp là chung nhau.
Do đó nước tưới cho cây trồng hiện nay bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt là đối với việc trồng hoa ở Đằng Hải và các vùng trồng rau và cây thực phẩm. Hệ thống mạng lưới thông tin, bưu điện: Trên địa bàn quận có 01 tổng đài kỹ thuật số với dung lượng trên 12. Hệ thống cáp treo chuyên dụng với 28 tuyến truyền dẫn có tổng chiều dài truyền dẫn là 189,5km.