Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng dị hình tàn tật ở người mắc bệnh phong và hiệu quả một số biện pháp phục hồi chức năng tại 3 tỉnh bắc trung bộ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong và hiệu quả biện pháp phục hồi chức năng tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ.

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

189
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH PHONG

1.2. Đặc điểm dịch tễ học bệnh phong

1.3. Chẩn đoán và phân loại bệnh phong

1.4. Đa hóa trị liệu trong điều trị, quản lý NMBP

1.5. Khái niệm “Loại trừ bệnh phong” và “Thanh toán bệnh phong”

1.6. DỊ HÌNH TÀN TẬT Ở NGƯỜI BỆNH PHONG

1.7. Đặc điểm dị hình tàn tật ở NMBP. Phân loại tàn tật ở NMBP

1.8. Thực trạng tàn tật của NMBP

1.9. PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI BỆNH PHONG

1.10. Đại cương về phục hồi chức năng. Phục hồi chức năng cho NMBP

1.11. Hiệu quả của một số giải pháp phục hồi chức năng cho NMBP đã được áp dụng tại Việt Nam

1.12. MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.6. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.7. Sơ đồ nghiên cứu và các biến số nghiên cứu

2.8. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.9. Các bước tiến hành: Xử lý và phân tích số liệu

2.10. Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục

2.11. Đạo đức nghiên cứu

2.12. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. THỰC TRẠNG DỊ HÌNH TÀN TẬT VÀ NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA NMBP TẠI 3 TỈNH NGHỆ AN, THANH HOÁ VÀ HÀ TĨNH, NĂM 2015

3.2. Một số thông tin chung về NMBP trong nghiên cứu

3.3. Thực trạng tàn tật ở NMBP tham gia nghiên cứu

3.4. Thực trạng tự kỳ thị và sự kỳ thị tiếp thu của NMBP. Thực trạng nhu cầu PHCN cho NMBP có dị hình, tàn tật

3.5. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành và sự kỳ thị, sự xa cách của người dân và NVYT đối với NMBP

3.6. HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỤC HỒI THỂ CHẤT VÀ TÂM LÝ- XÃ HỘI CHO NMBP TẠI TỈNH NGHỆ AN

3.7. Một số thông tin về NMBP tỉnh Nghệ An trước và sau can thiệp

3.8. Hiệu quả một số biện pháp phục hồi thể chất ở NMBP. Hiệu quả một số biện pháp phục hồi tâm lý xã hội

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. VỀ THỰC TRẠNG DỊ HÌNH TÀN TẬT VÀ NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA NMBP TẠI 3 TỈNH BẮC TRUNG BỘ, NĂM 2015

4.2. Về một số thông tin chung về NMBP trong nghiên cứu

4.3. Về thực trạng tàn tật ở NMBP tham gia nghiên cứu

4.4. Về thực trạng tự kỳ thị và sự kỳ thị tiếp thu của NMBP

4.5. Về thực trạng nhu cầu PHCN cho NMBP có dị hình, tàn tật

4.6. Về thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh phong và sự kỳ thị, sự xa cách với NMBP của người dân và NVYT

4.7. VỀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỤC HỒI THỂ CHẤT VÀ TÂM LÝ - XÃ HỘI CHO NMBP TẠI TỈNH NGHỆ AN

4.8. Về một số thông tin về NMBP tỉnh Nghệ An trước và sau can thiệp

4.9. Về hiệu quả một số biện pháp phục hồi thể chất cho NMBP

4.10. Về hiệu quả một số biện pháp phục hồi tâm lý xã hội cho NMBP

4.11. VỀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu điều tra thông tin của người mắc bệnh phong

Phụ lục 2: Phiếu điều tra thực trạng dị hình, tàn tật của người mắc bệnh phong

Phụ lục 3: Phiếu điều tra Kiến thức - Thái độ - Thực hành của nhân viên y tế về bệnh phong

Phụ lục 4: Phiếu điều tra Kiến thức - Thái độ - Thực hành của cộng đồng về bệnh phong

Phụ lục 5: Tiêu chuẩn đánh giá khả năng phục hồi chức năng cho người mắc bệnh phong bằng vật lý trị liệu và phẫu thuật chỉnh hình

Phụ lục 6: Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu

Phụ lục 7: Một số hình ảnh hoạt động của nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh phong và dị hình tàn tật

Bệnh phong là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium leprae gây ra. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến da và các dây thần kinh ngoại biên, dẫn đến dị hình tàn tật nếu không được điều trị kịp thời. Dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong bao gồm các biểu hiện như bộ mặt xù xì, mắt thỏ, bàn tay và chân co quắp. Những dị hình này không chỉ ảnh hưởng đến thể chất mà còn gây ra sự kỳ thị và xa lánh từ cộng đồng. Nghiên cứu này tập trung vào 3 tỉnh Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh), nơi có tỷ lệ cao bệnh nhân phong bị dị hình tàn tật.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh phong

Bệnh phong xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt độ tuổi, giới tính hay dân tộc. Tại Việt Nam, bệnh phong đã được kiểm soát phần nào nhờ vào phác đồ đa hóa trị liệu được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo. Tuy nhiên, tỷ lệ dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong vẫn còn cao, đặc biệt tại các tỉnh miền núi và vùng sâu vùng xa. 3 tỉnh Bắc Trung Bộ là khu vực có tỷ lệ bệnh nhân phong bị dị hình tàn tật cao, chiếm 93.1% trong tổng số bệnh nhân được quản lý.

1.2. Phân loại và thực trạng dị hình tàn tật

Dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong được phân loại dựa trên mức độ tổn thương và vị trí bị ảnh hưởng. Các dị hình phổ biến bao gồm tổn thương ở mặt, bàn tay và bàn chân. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ bệnh nhân phong bị tàn tật độ II tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ dao động từ 10.7% đến 14.86%. Điều này cho thấy sự cần thiết của các biện pháp phục hồi chức năng để cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

II. Phục hồi chức năng cho bệnh nhân phong

Phục hồi chức năng là một phần quan trọng trong việc chăm sóc bệnh nhân phong, đặc biệt là những người bị dị hình tàn tật. Các biện pháp phục hồi bao gồm vật lý trị liệu, phẫu thuật chỉnh hình và hỗ trợ tâm lý xã hội. Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả phục hồi của các biện pháp này tại tỉnh Nghệ An, một trong 3 tỉnh Bắc Trung Bộ có tỷ lệ cao bệnh nhân phong bị tàn tật.

2.1. Các biện pháp phục hồi thể chất

Các biện pháp phục hồi thể chất bao gồm vật lý trị liệu và phẫu thuật chỉnh hình. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân phong được phục hồi chức năng ở mặt, bàn tay và bàn chân đã tăng đáng kể sau khi áp dụng các biện pháp này. Ví dụ, tỷ lệ phục hồi ở bàn tay tăng từ 45% lên 65% sau can thiệp. Điều này chứng minh hiệu quả phục hồi của các biện pháp thể chất trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

2.2. Các biện pháp phục hồi tâm lý xã hội

Bên cạnh phục hồi thể chất, phục hồi tâm lý xã hội cũng đóng vai trò quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các chương trình giáo dục cộng đồng và hỗ trợ tâm lý đã giảm đáng kể mức độ kỳ thị và xa cách đối với bệnh nhân phong. Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy tự kỳ thị giảm từ 60% xuống còn 40% sau can thiệp. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc kết hợp các biện pháp tâm lý xã hội trong phục hồi chức năng.

III. Kết quả và đánh giá hiệu quả phục hồi

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả phục hồi của các biện pháp thể chất và tâm lý xã hội tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ. Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân phong được phục hồi chức năng tăng đáng kể, đặc biệt là ở tỉnh Nghệ An. Các biện pháp can thiệp không chỉ cải thiện thể chất mà còn giảm thiểu sự kỳ thị và xa cách từ cộng đồng.

3.1. Hiệu quả phục hồi thể chất

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân phong được phục hồi chức năng ở mặt, bàn tay và bàn chân tăng đáng kể sau can thiệp. Ví dụ, tỷ lệ phục hồi ở bàn chân tăng từ 50% lên 70%. Điều này chứng minh hiệu quả phục hồi của các biện pháp thể chất trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.2. Hiệu quả phục hồi tâm lý xã hội

Các biện pháp phục hồi tâm lý xã hội cũng đạt được kết quả tích cực. Tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy tự kỳ thị giảm từ 60% xuống còn 40% sau can thiệp. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc kết hợp các biện pháp tâm lý xã hội trong phục hồi chức năng để giúp bệnh nhân hòa nhập cộng đồng.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng dị hình tàn tật ở người mắc bệnh phong và hiệu quả một số biện pháp phục hồi chức năng tại 3 tỉnh bắc trung bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh phong là một bệnh nhiễm khuẩn mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium leprae gây nên. Trực khuẩn này do nhà bác học Armauer Hansen tìm ra năm 1873, nên còn đƣợc gọi là trực khuẩn Hansen, và bệnh phong còn đƣợc gọi là bệnh Hansen. Bệnh phong ít lây, chậm và khó lây; chủ yếu gây thƣơng tổn ở da, các dây thần kinh ngoại biên và có thể để lại những dị hình, tàn tật vĩnh viễn ở cơ thể nếu không đƣợc phát hiện và điều trị kịp thời. Bệnh phong xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thời giới, không phân biệt độ tuổi, giới tính, dân tộc.

Ở Việt Nam, bệnh phong đã không những ảnh hƣởng đến ngƣời bệnh mà còn tới cả cộng đồng. Quan niệm cũ trƣớc đây, bệnh phong đƣợc ngƣời miền Nam gọi là bệnh Cùi, miền Bắc gọi là bệnh Hủi, là một trong “tứ chứng nan y” với tỷ lệ ngƣời bệnh bị dị hình, tàn tật rất cao [26]. Những dị hình, tàn tật của ngƣời mắc bệnh phong biểu hiện rất đa dạng: bộ mặt xù xì, mắt thỏ, bàn tay, chân co quắp, cùi cụt. làm cho những ngƣời mắc bệnh phong bị kì thị, xa lánh gây ảnh hƣởng nặng nề về tinh thần đối với ngƣời bệnh [25], [50].

Từ năm 1982 đến nay, với sự ra đời của phác đồ đa hóa trị liệu đƣợc Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, khiến tỷ lệ lƣu hành và phát hiện mới bệnh phong giảm đáng kể. Từ đó, cộng đồng có quan niệm mới về bệnh phong: bệnh lây ít, có thể kiểm soát đƣợc sự lây lan, bệnh chữa khỏi đƣợc nếu đƣợc phát hiện và điều trị kịp thời, đúng, đủ liều và thời gian quy định, ngƣời bệnh có thể điều trị tại nhà, không cần cách ly và cộng đồng đã đối xử nhân đạo hơn với họ. Năm 2000, Việt Nam đã đƣợc công nhận loại trừ bệnh phong theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (tỷ lệ lƣu hành bệnh phong dƣới 1 trƣờng hợp/10. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện và tỷ lệ dị hình, tàn tật ở ngƣời mắc bệnh phong mới vẫn còn cao ở một số tỉnh.

Theo báo cáo của Bệnh viện 2 Da liễu Trung ƣơng, tỷ lệ phát hiện bệnh ở 63 tỉnh, thành phố năm 2011 là 0,43/100.000 dân, giảm dần và giữ mức ổn định 0,2/100. Tỷ lệ tàn tật độ II trên tổng số NMBP mới vào năm 2011 là 21,39% nhƣng từ năm 2012 đến 2015 vẫn dao động từ 10,7% đến 14,86%. Đến tháng 6/2015, toàn quốc có 9.251 NMBP đƣợc quản lý và điều trị đúng, đủ phác đồ. Tại khu vực Bắc Trung Bộ, năm 2014 có tổng số 748 ngƣời mắc bệnh phong dị hình, tàn tật đƣợc chăm sóc, chiếm 93,1% trong tổng số 803 ngƣời đƣợc quản lý [41], [56].

Công tác quản lý, chăm sóc ngƣời mắc bệnh phong dị hình, tàn tật tại khu vực này còn gặp nhiều khó khăn do địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cƣ đa dạng về thành phần dân tộc, tôn giáo… Nguồn nhân lực và kinh phí cho chƣơng trình phòng chống Phong còn hạn chế cũng đã gây ảnh hƣởng đến công tác chăm sóc ngƣời bệnh và loại trừ bệnh phong. Tuy vậy, với sự cố gắng của đội ngũ nhân viên y tế các Bệnh viện, Trung tâm Da liễu, Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội các tỉnh trong khu vực, công tác chăm sóc ngƣời bệnh và loại trừ bệnh phong những năm gần đây đã đạt đƣợc những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt trong việc phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng cho ngƣời mắc bệnh phong. Nhằm góp phần vào công tác phòng chống dị hình, tàn tật, phục hồi chức năng chongƣời mắc bệnh phong trong khu vực Bắc Trung Bộ, “Nghiên cứu thực trạng dị hình tàn tật ở người mắc bệnh phong và hiệu quả một số biện pháp phục hồi chức năng tại ba tỉnh Bắc Trung Bộ (2015 – 2017)” đƣợc tiến hành với 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng dị hình tàn tật và nhu cầu phục hồi chức năng của người mắc bệnh phong tại ba tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa và Hà Tĩnh, năm 2015.

Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phục hồi thể chất và tâm lý xã hội cho người mắc bệnh phong tại tỉnh Nghệ An (2015-2017). 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ BỆNH PHONG 1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh phong 1.

Sơ lược lịch sử bệnh phong Bệnh phong đƣợc nhân loại biết đến từ cách đây hơn 4000 năm, đƣợc tìm thấy ở các cộng đồng dân cƣ cổ đại Trung Quốc, Ai Cập, Ấn Độ. Vào những năm cuối thế kỷ 17, bệnh đƣợc nhận diện ở các nƣớc Tây Âu nhƣ Anh, Na Uy, Ailen. Trong suốt thế kỷ 18 số ngƣời mắc bệnh phong (NMBP) tăng nhanh ở các quốc gia và trở thành vấn đề y tế đƣợc đặc biệt lƣu ý. Na Uy là nƣớc đầu tiên thực hiện việc điều trị và quản lý NMBP năm 1856 [17], [111].

Trực khuẩn Mycobacterium leprae, tác nhân gây bệnh đƣợc G.H Armauer Hansen phát hiện năm 1873 tại Na Uy, nên còn đƣợc gọi là trực khuẩn Hansen, và bệnh phong còn đƣợc gọi là bệnh Hansen [83], [119]. Định nghĩa về bệnh phong Bệnh phong (Leprosy) hay bệnh Hansen là một bệnh nhiễm trùng mạn tính do trực khuẩn Mycobacterium leprae gây nên. Bệnh chủ yếu gây ra các thƣơng tổn u hạt mạn tính, tấn công vào các mô bề mặt nhƣ da, thần kinh ngoại biên. Những biểu hiện miễn dịch học và lâm sàng của bệnh tạo thành một liên thể kéo dài liên tục từ phong củ tới phong u.

Nếu không đƣợc điều trị bệnh sẽ tiến triển và làm tổn thƣơng da, thần kinh, các chi, mắt [17], [33]. Phân bố bệnh phong * Trên thế giới: Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới có khoảng 2-3 triệu ngƣời mắc bệnh và bị dị hình tàn tật do bệnh phong. Ấn Độ là nƣớc có số ca mắc lớn nhất tiếp đến là Brazil và Myanmar. Năm 1999, số ca mắc mới bệnh phong trên toàn thế giới ƣớc tính 640.

Năm 2000, số ngƣời mới mắc là hơn 730.000, tập trung tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh 4 thổ, trong đó Ấn Độ, Bunmar, Nepal chiếm 70%. Năm 2002 số ngƣời mới mắc đƣợc phát hiện là hơn 760. Từ năm 2003 – 2004, số ngƣời mới mắc trên toàn thế giới là 107. Tính đến cuối quý I/2013, theo số liệu từ 115 quốc gia và vùng lãnh thổ thống kê đƣợc WHO tổng hợp cho thấy đã phát hiện thêm 189.018 trƣờng hợp mắc bệnh phong.

Trong khi đó, số NMBP mới phát hiện trong năm 2012 là 232. Theo đánh giá của WHO, sự phân bố NMBP mới đƣợc phát hiện ở các nƣớc và vùng lãnh thổ năm 2012 tƣơng tự với những năm trƣớc. Trong tổng số NMBP mới đƣợc phát hiện năm 2012 trên toàn thế giới, tỷ lệ NMBP mới đƣợc phát hiện tại các nƣớc khu vực Đông Nam Á chiếm tỷ lệ nhiều nhất (71%); tiếp đến là khu vực Châu Mỹ (16%); khu vực Châu Phi (9%), cuối cùng là khu vực Đông Địa Trung Hải và Tây Thái Bình Dƣơng (2%) [128]. Tại các nƣớc có báo cáo phát hiện mới từ 100 NMBP trở lên, tỷ lệ nữ dao động từ 20,8% đến 47,0%.

Ở khu vực châu Phi, tỷ lệ nữ trong tổng số NMBP đƣợc phát hiện mới dao động từ từ 20,8% (Madagascar) đến 49,6% (Sierra Leone). Tại Châu Mỹ, nƣớc Mỹ có tỷ lệ này là 25%; trong khi đó ở nƣớc Cộng hoà Dominicana, tỷ lệ này là 46,8%. Tại các nƣớc Đông Nam Á, tỷ lệ này cao nhất ở Sri Lanka (43,2%) và thấp nhất ở Myanmar (32,0%). Tỷ lệ trẻ em mới đƣợc phát hiện mắc bệnh phong tại các nƣớc có từ 100 NMBP mới đƣợc phát hiện trong năm 2012 trên toàn thế giới dao động từ 0,6% đến 41,3% và khác nhau giữa các quốc gia ở các khu vực.

Ở khu vực châu Phi, tỷ lệ trẻ em trong nhóm đƣợc phát hiện mới bệnh phong chiếm từ 1,3% (ở Niger) đến 24,5% (Cameroon). Ở khu vực Châu Mỹ, tỷ lệ này dao động từ từ 0,6% (Argentina) đến 6,7% (ở Brazil). Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan có tỷ lệ trẻ em đƣợc phát hiện mới NMBP thấp nhất là 4,1%, cao nhất là ở Indonesia (11,5%). Tại khu vực Tây Thái Bình Dƣơng, dao động từ 2,4% ở Trung Quốc đến 41,3% ở Micronesia [128].

5 * Tại Việt Nam: So với thế giới và khu vực, tỷ lệ lƣu hành bệnh phong tại Việt Nam ở mức trung bình và có chiều hƣớng giảm trong những năm gần đây. Số NMBP mới đƣợc phát hiện năm 2011 là 374 ngƣời, năm 2012 là 296 ngƣời năm 2014 là 187 ngƣời. Tỷ lệ phát hiện sớm tăng nên tỷ lệ tàn tật độ 2 giảm từ 21,39% năm 2011 xuống còn 10,7% vào năm 2014. Tỷ lệ bệnh phong ở một số tỉnh miền núi cao hơn so với vùng đồng bằng.

Tính đến năm 2014, cả nƣớc còn 5 tỉnh chƣa đạt đƣợc tiêu chí loại trừ bệnh phong cấp tỉnh gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Gia Lai, Kon Tum. Tại tỉnh Gia Lai, mỗi năm trung bình vẫn còn khoảng 50 NMBP mới đƣợc phát hiện, và chủ yếu là ngƣời dân tộc thiểu số. Nếu so với từ năm 2000 trở về trƣớc thì trong khoảng 10 năm trở lại đây, tình hình bệnh cũng nhƣ tỷ lệ lƣu hành bệnh phong/10.000 dân ở tỉnh đã giảm từ 0,46 (vào năm 2005) xuống còn 0,10 (vào năm 2014). Tại khu vực Bắc Trung Bộ, đến hết năm 2014 có 803 ngƣời bệnh đang đƣợc quản lý, trong đó số đƣợc chăm sóc dị hình, tàn tật là 748 ngƣời, số ngƣời mới mắc là 8 ngƣời [41].

Trong những tháng cuối năm 2015 thì 5 tỉnh còn lại đã đƣợc kiểm tra và cả 05 tỉnh này đã đƣợc công nhận đạt tiêu chuẩn LTBP cấp tỉnh [72]. Nhƣ vậy, hết năm 2015, Chƣơng trình mục tiêu quốc gia Y tế giai đoạn 2012 – 2015 đã đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra trong phòng chống bệnh phong. Nguồn lây và đường lây truyền Bệnh phong hầu nhƣ chỉ có ở ngƣời, mặc dù một số trƣờng hợp giống nhƣ bệnh phong đƣợc tìm thấy ở những con Trúc (armadillos) và một vài loài khỉ. Vì vậy, NMBP chƣa đƣợc điều trị, trong đó NMBP thể nhiều khuẩn là nguồn lây lan chủ yếu [33], [110].

Hai đƣờng bài xuất trực khuẩn phong chính là đƣờng hô hấp và da bị lở loét, trong đó chủ yếu qua đƣờng hô hấp. Trong môi trƣờng ngoài cơ thế, trực khuẩn phong có thể sống đƣợc khoảng từ 1-2 tuần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong và hiệu quả phục hồi chức năng tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc đánh giá tình trạng dị hình tàn tật ở bệnh nhân phong và hiệu quả của các chương trình phục hồi chức năng tại khu vực Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng sức khỏe của bệnh nhân mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực để cải thiện chất lượng cuộc sống của họ. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, bác sĩ và những người quan tâm đến lĩnh vực y tế công cộng.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, một tài liệu chuyên sâu về các nghiên cứu y học. Ngoài ra, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cũng là một nguồn tham khảo giá trị để hiểu rõ hơn về các phương pháp cải thiện hiệu quả trong nghiên cứu. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học đăng lý và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã phượng cách huyện quốc oai thành phố hà nội cung cấp góc nhìn về quản lý và cải thiện hệ thống, có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề liên quan và nâng cao hiểu biết của bạn!