đặt vấn đề di dân với sự ổn định và phát triển xã hội. Các nghiên cứu về di dân không dừng lại ở việc mô tả, giải thích mà đều hướng tới công tác quản lý xã hội, khuyến nghị các giải pháp quản lý xã hội về di dân, góp phần ổn định và phát triển xã hội. Thứ ba: Các công trình nghiên cứu đã xác lập phương pháp chủ yếu nghiên cứu về di dân, đó là phương pháp định lượng, phương pháp so sánh, 15 phương pháp nhân quả. Trong các nghiên cứu về di dân, số liệu về di dân là bằng chứng “không thể chối cãi” để mô tả, phân tích hiện tượng di dân, mà nếu thiếu nó, những nghiên cứu về di dân không thuyết phục.
Từ những số liệu, tư liệu thu được tiến hành so sánh, phân tích theo mô thức nhân - quả để làm rõ nguyên nhân của di dân, xu hướng cũng như hệ lụy xã hội của di dân đối với người dân di cư, đối với cộng đồng và đối với xã hội. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu về di dân củng cố thêm cơ sở khoa học - thực tiễn về các phương pháp nghiên cứu của xã hội học. NGHIÊN CỨU VỀ DI DÂN Ở VIỆT NAM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Những nghiên cứu về di dân ở Việt Nam Ở nước ta, thời kỳ trước năm 1986, để thực hiện cho mục tiêu phân bố lại dân cư và lao động trong cả nước, nhiều công trình nghiên cứu về di dân được triển khai.
Song, cũng như một số nước ở châu Á, nghiên cứu về di dân chỉ thực sự được triển khai nhiều trong những năm gần đây, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, khi mà vấn đề di cư đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết nhằm đảm bảo an sinh xã hội ở các đô thị. Mục tiêu của các nghiên cứu đó là tìm lời giải cho việc hoạch định các chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ tình hình di dân nông thôn - đô thị và thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ an sinh xã hội đối với cư dân đô thị, cư dân nông thôn. Nhiều nhà nghiên cứu các chuyên ngành dân số học, xã hội học, quản lý kinh tế như: Tương Lai, Đặng Cảnh Khanh, Trịnh Duy Luân, Đặng Nguyên Anh, Hoàng Văn Chức, Trần Hữu Quang, Nghiêm Xuân Đạt, Đồng Bá Hướng, Lê Bạch Dương, Thân Văn Liên, Lê Đăng Giang, v.v… đã có các công trình nghiên cứu, bài luận khoa học về di dân, tác động của di dân đến các vấn đề thuộc về an sinh xã hội, kiến nghị thiết lập các chính sách để quản lý quá trình di dân. Một số công trình nghiên cứu trong số đó: Đề tài Di dân theo mùa vụ nông thôn - đô thị và các giải pháp do Lê Đăng Giảng chủ nhiệm [36] đã làm rõ: di dân theo mùa vụ gần sát nghĩa với 16 di dân “con lắc” và di dân tạm thời; di dân theo mùa vụ diễn ra vào thời kỳ nông dân không “bận việc”, những ngày người nông dân “không có việc làm”, thời điểm “nông nhàn”; nguyên nhân chủ yếu của di dân theo mùa vụ là tìm kiếm việc làm, tăng thu nhập, bảo đảm cuộc sống.
Đề tài có những nghiên cứu sâu về hiện trạng di dân theo mùa vụ vào thành phố, chỉ ra mặt tích cực, tiêu cực và kiến nghị các giải pháp hạn chế, quản lý di cư theo mùa vụ nông thôn - đô thị. Về các tác động tiêu cực, đề tài chỉ ra, di dân theo mùa vụ nông thôn - đô thị gây ra sự lộn xộn về trật tự xã hội, gây ách tắc giao thông,… “tạo sức ép về mặt xã hội, an ninh của thành phố”. Với một vài số liệu, đề tài đã cho thấy mức độ, loại hình tệ nạn xã hội, tội phạm của những người nông dân vào thành phố, lang thang kiếm sống. Đề tài đưa ra dẫn chứng, phân tích 4958 người lang thang thu gom được trong các năm ở Hà Nội trong các năm 1989, 1990, 1991, cho con số: trộm cắp 357 người, mại dâm 435 người, lừa đảo 190 người, buôn bán vé, chèo kéo khách đi ô tô 49 người,.
Con số đó cho thấy, mại dâm và trộm cắp là hai hiện tượng nổi trội trong nhóm người từ nông thôn vào thành phố Hà Nội kiếm sống. Số liệu và một vài nhận định về tác động tiêu cực của di dân theo mùa vụ từ nông thôn vào thành phố là những tài liệu tham khảo cho nghiên cứu của đề tài luận án. Đề tài Nghiên cứu các yếu tố thúc đẩy làn sóng di dân tự do từ các khu vực nông thôn ra đô thị trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở nước ta hiện nay và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển kinh tế - xã hội các vùng đô thị, của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường [11] tập trung đánh giá tình trạng di cư tự do theo mùa vụ từ nông thôn đến đô thị ở thành phố Hà Nội, thành phố Huế, đề xuất một số kiến nghị giải quyết tình trạng này. Đề án “Kiểm soát dòng di dân nông thôn - đô thị trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam” được thực hiện bởi Viện quy hoạch đô thị và nông thôn [117].
Mục đích của đề án là tìm ra một số giải pháp kiểm soát dòng người từ nông thôn tới các đô thị hiện nay ở Việt Nam. Một số nghiên cứu như, Dự án 17 VIE/95/004 “Tăng cường năng lực cho chính sách di dân nội địa ở Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện [12].“Di dân và sức khỏe ở Việt Nam”, được thực hiện với sự giúp đỡ của Quỹ dân số Liên Hợp quốc và Trường đại học Tổng hợp Brown [74]. Mục tiêu của các nghiên cứu này là tập trung làm rõ một số vấn đề như: Đánh giá nguyên nhân, hậu quả của quá trình di dân và ảnh hưởng của di dân đối với sức khỏe, sức khỏe sinh sản trong quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường ở Việt Nam; đưa ra một số giải pháp quản lý di dân ở Việt Nam. Đáng chú ý là:“Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp quốc thực hiện [95].
Cuộc điều tra đã được tiến hành ở 11 tỉnh, thành phố, theo 5 khu vực: Khu vực 1, Hà Nội; khu vực 2, khu kinh tế Đông Bắc; khu vực 3, Tây Nguyên; khu vực 4, Thành phố Hồ Chí Minh; khu vực 5, khu công nghiệp Đông Nam bộ. Mẫu của cuộc điều tra gồm 10.000 cuộc phỏng vấn, gồm 5.000 phỏng vấn người di cư và 5.000 phỏng vấn người không di cư, được chia đều cho các khu vực. Mục đích của cuộc điều tra là góp phần hiểu biết về các lĩnh vực: Quá trình di cư; các yếu tố kinh tế - xã hội, nhân khẩu học và các yếu tố thuận lợi đối với di cư; kết quả di chuyển đối với người di cư và gia đình; so sánh tình trạng người di cư và không di cư tại nơi chuyển đến. Thông tin thu được từ cuộc điều tra cũng sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị về chính sách phát triển nông thôn để giảm bớt xuất cư, về kế hoạch phát triển vùng có thể ảnh hưởng đến quá trình di cư, và về việc làm thế nào để cải thiện điều kiện sống của người di cư ở nơi đến.
Kết quả điều tra cho thấy, người di cư có độ tuổi trẻ, khoảng 60% người di cư là nam, 66% người di cư là nữ trong độ tuổi từ 15-29; hầu hết người di cư không có nhà ở phải đi thuê và đăng ký hộ khẩu tạm trú (ở khu vực Hà Nội chủ yếu KT3 và không đăng ký tạm trú); người di cư đến Hà Nội và khu công nghiệp Đông Bắc chủ yếu đến từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, người 18 di cư đến thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Nguyên không thuộc vùng nào nổi trội; nhân tố chủ yếu thúc đẩy di cư là kinh tế, tìm kiếm việc làm; nhìn chung, người di cư gặp những bất lợi về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội. Những số liệu, nhận định trong “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004” do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp quốc thực hiện là tài liệu tham khảo tốt trong quá trình thực hiện luận án. Nhận định: người di cư đến Hà Nội và khu công nghiệp Đông Bắc chủ yếu đến từ các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng là cứ liệu củng cố thêm tính xác thực cho nghiên cứu về tác động của di dân nông thôn - đô thị đến trật tự, an toàn xã hội của thành phố Hà Nội trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Năm 2009, nước ta tiến hành Tổng Điều tra dân số.
Kết quả Tổng Điều tra dân số, nhà ở Việt Nam năm 2009 [99] đã cho bức tranh khá chi tiết về di cư. Nhìn chung, dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng tăng, từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và tăng lên 3,4 triệu người năm 2009. Số liệu Tổng Điều tra dân số cho bằng chứng về các vấn đề xã hội: hiện tượng “nữ hóa di cư”, dân số nữ di cư chiếm khoảng một nửa tổng số dân di cư và tỷ lệ dân số nữ di cư trên tổng số dân di cư liên tục tăng trong hai thập kỷ qua; đa số dân di cư, đặc biệt di cư liên tỉnh, là những người trẻ, tập trung trong nhóm 15-29 tuổi. Tổng điều tra dân số cũng cho thấy, có sự khác biệt về luồng di cư giữa các vùng và các tỉnh.
Đông Nam bộ là vùng nhập cư chủ yếu trong giai đoạn 1994-1999 và tốc độ nhập cư đến vùng này tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004-2009. Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long là nơi xuất cư chủ yếu trong giai đoạn 1994-1999 và tốc độ xuất cư khỏi các vùng này cũng tăng nhanh hơn trong giai đoạn 2004-2009. Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương là hai địa phương có số dân nhập cư nhiều, Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng một triệu người, tỉnh Bình Dương có khoảng nửa triệu người đến nhập cư. Di cư đã góp phần thúc đẩy quá trình đô 19 thị hóa.
Sự tăng trưởng dân số đô thị chủ yếu diễn ra ở các khu vực đô thị lớn, với 200.000 dân trở lên. Trong thập niên qua, tỷ lệ dân số đô thị tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (10 năm tăng 5,9%). Điều đó có nghĩa là dân cư đô thị chiếm 25,4 triệu người trong tổng số 85,8 triệu dân toàn quốc, thời điểm năm 2009.