CHƯƠNG 1: SỰ ĐỒNG BIẾN THIÊN CỦA HAI ĐẠI LƯỢNG TRONG LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM HÀM SỐ Mục tiêu của chương này là tìm các câu trả lời cho câu hỏi Q1 sau: Sự đồng biến thiên của hai đại lượng hiện diện và tiến triển như thế nào trong lịch sử hình thành khái niệm hàm số? Để đạt được mục tiêu ở trên, chúng tôi sẽ tiến hành tóm tắt lại phần lịch sử hình thành khái niệm hàm số thông qua một số công trình nghiên cứu đã có, rồi từ đó chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích phần trọng tâm mà luận văn đang hướng đến. Sự hình thành và phát triển khái niệm hàm số Trong lịch sử, thuật ngữ “hàm số” ra đời từ việc nghiên cứu các bài toán liên quan đến đo đạc, vận tốc, thời gian,…Lý thuyết hàm số thực sự được hình thành và phát triển trong khoảng 4 thế kỉ, trong đó mầm móng của lý thuyết hàm số đã có từ những năm 2000 trước công nguyên với những bài toán vật lý. Chúng tôi sẽ tổng kết lại những giai đoạn chủ yếu của sự hình thành và phát triển lý thuyết hàm số thông qua công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (2003) về “Dạy học hàm số ở trường phổ thông”.1 Tóm tắt sự hình thành và phát triển khái niệm hàm số qua các thời kì. GIAI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM HÀM SỐ ĐOẠN Từ nhu cầu thực tế cuộc sống là nhằm giải quyết những bài toán liên quan đến đo đạc hình học, nghiên cứu các đường cong…, toán học Babylon và Hy Lạp đã hình thành nên các bảng số mà bản thân nó đã ẩn chứa những quan niệm về hàm số: bảng bình phương của Cổ đại các số tự nhiên, bảng căn bậc hai, bảng lập phương hay bảng căn bậc ba trong hệ thập lục phân, bảng liên hệ giữa dây và cung của đường tròn (tiền thân của bảng sin ngày nay).
Tuy nhiên thuật ngữ hàm số chưa một lần xuất hiện trong thời kì này. Các nhà toán học quan tâm đến sự phụ thuộc giữa hai đại lượng Trung đại không những trên các bảng số mà còn thể hiện ở các hình hình học, chủ yếu là trong lĩnh vực vật lí. Họ được xem như là đã đến gần với 13 khái niệm hàm số thế nhưng thuật ngữ hàm số vẫn chưa xuất hiện. Một trong số đó là Oresme.
Trong lý thuyết của ông, một số ý tưởng chung về khái niệm biến độc lập và phụ thuộc dường như có mặt. “Ông đã biểu diễn cường độ của chất điểm chuyển động (vận tốc) theo thời gian bằng một hình hình học mà ta có thể mô tả như sau: Vận tốc …… Thời gian [Nguyễn Thị Nga, 2003] Tiếp sau Oresme ở giai đoạn trung đại là Galileo Galilei (1564- 1642) với các công trình nghiên cứu các đại lượng bên vật lí như vận tốc, gia tốc và khoảng cách. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai đại lượng biến thiên chính thức Thế kỉ được xuất hiện: “Bằng cách lấy lần lượt và vô hạn các đại lượng 16 - 17 khác nhau đối với đường y (line y) ta cũng có vô hạn các đại lượng khác nhau đối với đường x, và như vậy ta có vô hạn các điểm khác nhau, như là điểm được đánh dấu C, nhờ vào đó ta mô tả được đường cong mong muốn.” [René Descartes (1596-1650)] Đây là giai đoạn mà hàm số xuất hiện dưới dạng biểu thức giải tích và lần đầu tiên xuất hiện ngầm ẩn trong định nghĩa của J.Bernoulli công bố năm 1718: “Ta gọi hàm số của một đại lượng biến, một đại lượng tạo thành một cách nào đó từ đại lượng biến Thế kỉ 18 này và từ các hằng số”. Khái niệm hàm số được hoàn thiện dần thông qua các công trình nghiên cứu khác như D’Alembert, Condorcer (1743-1794), Lagrange (1736-1813).
14 Mãi đến cuối thế kỉ 18 thì sự đồng biến thiên của hai đại lượng mới được nhấn mạnh và nó xuất hiện tường minh trong định nghĩa của Euler (1755) khi đề cập đến hàm nhiều biến: “Khi một đại lượng phụ thuộc vào các đại lượng khác sao cho sự thay đổi của các đại lượng thứ hai kéo theo sự thay đổi của đại lượng thứ nhất thì đại lượng thứ nhất gọi là hàm số của các đại lượng thứ hai” Đến đầu thế kỉ 19, các nhà toán học bắt đầu định nghĩa lại khái niệm hàm số bằng sự tương ứng giữa hai đại lượng biến thiên. Tư tưởng đó xuất hiện lần đầu tiên trong định nghĩa của Dirichlet (1805-1859): “y là hàm số của x nếu với mỗi giá trị của x thì tương ứng với một giá trị hoàn toàn xác định của y còn sự tương ứng đó được thiết lập bằng cách nào thì điều này hoàn toàn không quan Nửa đầu trọng”. thế kỉ 19 Tuy nhiên, sự biến thiên của hai đại lượng vẫn xuất hiện ngầm ẩn trong các mô tả khác. Cụ thể, theo Lobachevsky (1792-1856): “…hàm số của x là một số được cho với mỗi x và biến thiên dần dần cùng với x.
Giá trị của hàm số có thể được cho bằng một biểu thức giải tích, hoặc bằng một điều kiện làm phương tiện để thử tất cả các số và chọn một trong chúng, hoặc cuối cùng, sự phụ thuộc có thể tồn tại nhưng còn chưa được biết.” Định nghĩa hàm số ở thời kì này cũng tương tự như nửa đầu thế kỉ 19, tuy nhiên có một sự khác biệt rõ ràng đó là sự ra đời của Lý thuyết tập hợp của Cantor (1845-1918). Các nhà toán học đã bổ sung và hoàn thiện dần định nghĩa khái niệm hàm số. Đồng thời mở rộng Cuối thế thêm tập xác định của hàm số: kỉ 19 – thế “Tập xác định của hàm số được mở rộng từ một tập hợp con của R kỉ 20 thành một tập hợp con của Cn. Giải tích phức và giải tích lồi còn xét hàm số đa trị.
Sự đồng biến thiên của hai đại lượng – quan niệm động của khái niệm hàm số. Sự đồng biến thiên của hai đại lượng trong các giai đoạn phát triển khái niệm hàm số 1.1 Thời cổ đại Quan niệm về hàm số bước đầu được hình thành và phát triển thông qua các bảng số. Những đặc tính đầu tiên về sự đồng biến thiên của hai đại lượng dần dần được thể hiện thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau của hai đại lượng lấy giá trị trong các tập hợp hữu hạn và rời rạc. Dựa vào các bảng số, có thể nhận ra được sự thay đổi của một phần tử trong tập hợp số dẫn đến sự thay đổi của những phần tử trong tập hợp khác, đó là những hình ảnh về sự đồng biến thiên của hai đại lượng.
Tuy nhiên tất cả những điều đó đều xuất hiện ngầm ẩn, chứ không được trình bày một cách tường minh.2 Thời trung đại Các nhà toán học quan tâm đến sự phụ thuộc giữa hai đại lượng không những trên các bảng số mà còn thể hiện ở các hình hình học. Có thể nói, hình hình học đã mô tả được chiều biến thiên hay nói một cách khác chúng thể hiện rõ nét về sự đồng biến thiên của hai đại lượng: khi đại lượng này thay đổi (tăng hoặc giảm) sẽ dẫn đến sự thay đổi của đại lượng khác.3 Thế kỉ 16 - 17 Nếu như ở thời cổ đại và trung đại, sự đồng biến thiên của hai đại lượng đều xuất hiện ngầm ẩn thông qua các bảng số và các hình hình học thì ở thời kì này nó được chính thức xuất hiện dưới dạng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai đại lượng biến thiên. Hình ảnh về biến độc lập và biến phụ thuộc được xuất hiện lần đầu tiên với các “đường x”, “đường y” trong nhận xét của Descartes. Như vậy, ở thời kì này sự đồng biến thiên giữa hai đại lượng cũng như từ “hàm số” chính thức được xuất hiện.
Hơn thế nữa khi mà đặc trưng biến thiên của hàm số càng được nhấn mạnh thì sự đồng biến thiên giữa hai đại lượng ngày càng thể hiện rõ nét.4 Thế kỉ 18 Nhiều nhà toán học thời kì này đã đồng nhất hàm số với một biểu thức giải tích. Với cách định nghĩa như vậy thì sự đồng biến thiên của hai đại lượng hoàn toàn vắng bóng, tức là tính 16 động của khái niệm hàm số bị che mờ. Tuy nhiên, vào cuối thời kì, Euler đã đưa ra khái niệm thể hiện tính động của hàm số, thể hiện rất rõ sự thay đổi giữa các đại lượng.5 Nửa đầu thế kỉ 19 Khái niệm hàm số được định nghĩa bằng sự tương ứng giữa hai đại lượng biến thiên trong đó sự đồng biến thiên của hai đại lượng không được nhấn mạnh.6 Cuối thế kỉ 19 và thế kỉ 20 Định nghĩa khái niệm hàm số từ đầu thế kỉ 19 đến nay hoàn toàn dựa trên sự tương ứng. Sự đồng biến thiên của hai đại lượng chỉ hiện diện ngầm ẩn.
Qua sự phát triển khái niệm hàm số, chúng tôi nhận thấy rằng hàm số thực của một biến số thực có thể biểu đạt bằng các ngôn ngữ có liên quan đến sự đồng biến thiên thuận lợi hơn hàm thực nhiều biến, hàm phức, hàm đa trị và phân phối. Vì vậy mà chúng tôi giới hạn nghiên cứu của mình ở hàm số thực một biến số thực để thấy rõ được sự đồng biến thiên của hai đại lượng xuất hiện trong định nghĩa này. Quan niệm động và quan niệm tĩnh của khái niệm hàm số Xem xét lịch sử xuất hiện khái niệm hàm số, chúng ta thấy rằng có hai quan niệm cơ bản gắn với khái niệm hàm số tiếp nối nhau trong lịch sử: - Quan niệm động: Quan niệm này dựa trên sự đồng biến thiên của hai đại lượng, cần thiết việc mô hình hóa theo những thuật ngữ biến phụ thuộc và/hoặc biến độc lập. Euler đã viết năm 1755 như sau: “Nếu một số đại lượng phụ thuộc vào các đại lượng khác sao cho nếu các đại lượng khác thay đổi, các đại lượng này cũng thay đổi theo, lúc đó chúng ta gọi các đại lượng này là hàm số của các đại lượng khác”.
- Quan niệm tĩnh: Quan niệm này nhấn mạnh trên sự tương ứng: một hàm số liên kết một số duy nhất với một số cho trước. Hankel (1870) định nghĩa hàm số như sau: “Ta nói y là hàm số của x nếu với mỗi giá trị của x thuộc một khoảng nào đó tương ứng một giá trị xác định của y mà không vì thế mà đòi hỏi y xác định với mọi khoảng bởi cùng một quy luật theo x, cũng không cần thiết y được xác định bởi một biểu thức toán học tường minh của x.