Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Lý luận chung về đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn cấp tỉnh Chương 3: Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2014 Chương 4: Một số giải pháp về đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định đến năm 2020 5 CHƢƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 2. Tổng quan về đầu tƣ phát triển 2. Khái niệm Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Tùy theo từng góc độ tiếp cận với những tiêu thức khác nhau người ta có những các phân chia hoạt động đầu tư khác nhau.
Trong đó đầu tư phát triển, đầu tư tài chính là 2 loại đầu tư luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ với nhau. Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại. Ngược lại đầu tư tài chính hỗ trợ và tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển. Tuy nhiên đầu tư phát triển là loại đầu tư quan trọng nhất, nó quyết định trực tiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
Đầu tư phát triển là hoat động dùng các nguồn lực (tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên) trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sả vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…), các kết quả đó góp phần làm gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển. Hình thức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia. Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển. Đặc điểm của đầu tư phát triển Hoạt động đầu tư phát triển khác các hoạt động đầu tư khác ở những đặc điểm sau: Đầu tư phát triển đòi hỏi quy mô tiền vốn lớn và vốn này nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Chủ đầu tư phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm. Hoạt động đầu tư phát triển có thời kỳ đầu tư kéo dài, có nhiều công trình từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động kéo dài hàng chục năm. Do đó một lượng vốn nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cần phải tiến hành phân kỳ đầu tư, bố trí vốn , quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư khắc phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư phát triển có thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài.Nhiều công trình thành quả của đầu tư phát huy tác dụng lâu dài, có thể là tồn tại vĩnh viễn.
Do đó trong quá trình vận hành các thành quả đầu tư chịu sự tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế, chính trị xã hội…Vì vậy công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý tới xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học, quản lý quá trình vận hành nhanh chóng đưa công trình vao sử dụng và hoạt động tối đa công suốt để nhanh hồi vốn, đồng thời chú ý tới yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư phát triển có các thành quả thường là công trình xây dựng phát huy tác dụng ở ngay nơi nó được tạo dựng nên, do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vủa địa phương đó. Do đó công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển cần chú ý tới chủ chương đầu tư và quyết định đầu tư đúng, đồng thời phải nghiên cứu lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư phải khoa học dựa trên hệ thống các chỉ tiêu kinh tế xã hội… 7 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao. Do có quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao.
Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Vì vậy để hoạt động đầu tư có hiệu quả cần phải có các biện pháp quản lý rủi ro như nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro và đưa ra các biện pháp phòng chống rủi ro. Các nguồn vốn cho đầu tư phát triển Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế nguồn vốn đầu tư phát triển bao gồm vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước và nguồn vốn đầu tư của dân cư và tư nhân.Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư. Đây là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn này thường dành cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, cho cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là nguồn vốn nhà nước sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế.Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm hiệu quả 8 hơn.
Đây là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước là nguồn vốn được hình thành từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp nhà nước. Nguồn vốn của cư dân và tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã. Nguồn vốn này có vai trò quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương.
Nguồn vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Đối với hoạt động đầu tư phát triển chủ yếu từ các nguồn chủ yếu sau: Nguồn vốn nước ngoài bao gồm nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức(ODA), nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), nguồn huy động qua thị trường quốc tế. Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển. Nguồn vốn ODA ngoài những ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng cho vay lớn thì bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%. Căn cứ vào chính sách ưu tiên sử dụng ODA, chính phủ Việt Nam đã định hướng nguồn vốn ODA ưu tiên cho các lĩnh vực giao thông vận tải, phát triển hệ thống nguồn điện, mạng lưới chuyển tải và phân phối điện, phát triển nông nghiệp và nông thôn, cấp thoát nước và bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ, tăng cường năng lực và thể chế… Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế Điều kiện ưu đãi cho loại vốn này không dễ dàng như nguồn vốn ODA, nhưng nó không đi kèm với các ràng buộc về chính trị, xã hội.
Tuy nhiên thủ tục vay vốn tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.Nguồn vốn này chủ yếu để đáp ứng nhu 9 cầu xuất nhập khẩu và thường ngắn hạn, một bộ phận của nguồn vốn này có thể dùng để đầu tư phát triển.Việt Nam còn khá hạn chế trong việc tiếp cận nguồn vốn này. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn.Nguồn vốn này có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn. Nguồn vốn này có tác dụng lớn trọng quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư. Không chỉ là nguồn bổ sung vốn quan trọng, mà đầu tư trực tiếp nước ngoài còn đóng góp vào việc bù đắp thâm hụt vãng lai và cải thiện cán cân thương mai quốc tế.
Đóng góp cho ngân sách của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất đáng kể.