Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá mức độ hoạt động tổn thương mô bệnh học và tính đa hình thái gen stat4 irf5 cdkn1a trong viêm thận lupus

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mức độ tổn thương mô bệnh học và đa hình thái gen STAT4, IRF5, CDKN1A trong viêm thận lupus, cung cấp hiểu biết sâu về cơ chế bệnh.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổn thương mô bệnh học trong viêm thận lupus

Tổn thương mô bệnh học là một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu viêm thận lupus. Các tổn thương này được phân loại theo hệ thống ISN/RPS 2003, bao gồm các dạng hoạt động và mạn tính. Mô bệnh học viêm thận lupus thường biểu hiện qua sự lắng đọng phức hợp miễn dịch tại cầu thận, ống thận, và mô kẽ. Các tổn thương này có mối liên hệ chặt chẽ với biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng, đặc biệt là thang điểm SLEDAI.

1.1. Phân loại tổn thương mô bệnh học

Phân loại tổn thương mô bệnh học theo ISN/RPS 2003 chia viêm thận lupus thành 6 lớp (class I đến VI), mỗi lớp có đặc điểm riêng về tổn thương cầu thận, ống thận, và mô kẽ. Class III và IV là phổ biến nhất, liên quan đến tổn thương hoạt động và mạn tính. Đánh giá tổn thương này giúp xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh và hướng điều trị phù hợp.

1.2. Mối liên hệ giữa tổn thương mô bệnh học và lâm sàng

Các tổn thương mô bệnh học có mối liên hệ chặt chẽ với biểu hiện lâm sàng như protein niệu, tăng huyết áp, và suy giảm chức năng thận. Đánh giá mô bệnh học cũng cho thấy sự tương quan giữa mức độ tổn thương và điểm SLEDAI, giúp tiên lượng và theo dõi tiến triển bệnh.

II. Đa hình thái gen STAT4 IRF5 CDKN1A trong viêm thận lupus

Đa hình thái gen đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của viêm thận lupus. Các gen STAT4, IRF5, và CDKN1A được nghiên cứu rộng rãi do liên quan đến quá trình miễn dịch và viêm. Gen STAT4 tham gia vào quá trình sản xuất interferon, trong khi gen IRF5 liên quan đến điều hòa miễn dịch bẩm sinh. Gen CDKN1A ảnh hưởng đến chu kỳ tế bào và quá trình apoptosis.

2.1. Vai trò của gen STAT4

Gen STAT4 có liên quan đến sự tăng sản xuất interferon type 1, một yếu tố quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh lupus. Các đa hình thái của gen STAT4 được chứng minh có liên quan đến mức độ nghiêm trọng của viêm thận lupus và khả năng đáp ứng điều trị.

2.2. Vai trò của gen IRF5

Gen IRF5 điều hòa miễn dịch bẩm sinh và tham gia vào quá trình sản xuất cytokine. Các biến thể của gen IRF5 có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh lupus và mức độ tổn thương thận. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của gen IRF5 trong tiên lượng bệnh.

2.3. Vai trò của gen CDKN1A

Gen CDKN1A mã hóa protein ức chế chu kỳ tế bào, ảnh hưởng đến quá trình apoptosis và tăng sinh tế bào. Các đa hình thái của gen CDKN1A có liên quan đến mức độ tổn thương thận và tiến triển của bệnh thận lupus.

III. Đánh giá mức độ hoạt động của viêm thận lupus

Đánh giá mức độ hoạt động của viêm thận lupus được thực hiện thông qua thang điểm SLEDAI. Thang điểm này đo lường các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng, giúp xác định mức độ nghiêm trọng của bệnh. Đánh giá tổn thương thận và mối liên hệ với điểm SLEDAI là yếu tố quan trọng trong quản lý bệnh.

3.1. Ứng dụng thang điểm SLEDAI

Thang điểm SLEDAI là công cụ hữu ích trong đánh giá mức độ hoạt động của bệnh lupus. Nó bao gồm các tiêu chí như protein niệu, thiếu máu, và tổn thương thần kinh. Đánh giá tổn thương thận thông qua SLEDAI giúp theo dõi tiến triển bệnh và hiệu quả điều trị.

3.2. Mối liên hệ giữa SLEDAI và tổn thương thận

Có sự tương quan chặt chẽ giữa điểm SLEDAI và tổn thương thận trong viêm thận lupus. Các bệnh nhân có điểm SLEDAI cao thường có tổn thương thận nghiêm trọng hơn. Đánh giá mô bệnh học và SLEDAI kết hợp giúp tiên lượng chính xác hơn.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lupus ban đỏ hệ thống và viêm thận lupus Lịch sử bệnh - Thuật ngữ lupus lần đầu tiên được sử dụng trong thời trung đại (cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX) để miêu tả các tổn thương ăn mòn da vùng má khiến người ta liên tưởng đến ‘vết cắn của sói’ [17]. - Năm 1846, Bác sĩ Ferdinand von Hebra (1816–1880) hình tượng hóa cánh bươm bướm để mô tả tổn thương phát ban trên má của người bệnh. Ông cũng sử dụng thuật ngữ ‘lupus erythematosus’ – lupus ban đỏ và công bố những hình ảnh minh họa đầu tiên trong cuốn Atlas về bệnh ngoài da - năm 1856 [17].

- Khái niệm bệnh lupus lần đầu được công bố như là một căn bệnh có hệ thống với các biểu hiện nhiều cơ quan: thần kinh, khớp, máu và các phủ tạng khác thần kinh, khớp, máu và các phủ tạng khác được Moriz Kaposi (1837-1902) đưa ra tương đối đầy đủ. Ông cũng nhấn mạnh rằng bệnh diễn biến có những đợt tiến triển cấp tính, xen kẽ với những đợt lui [17]. - Với các nghiên cứu của mình và lập luận có hệ thống, Osler ở Baltimore và Jadassohn tại Áo đã mô tả tổn thương các nội tạng của bệnh lupus ban đỏ đặc biệt là tổn thương mạch máu, khái niệm lupus ban đỏ hệ thống thay thế cho khái niệm cũ lupus ban đỏ [17]. - Một cột mốc quan trọng khác bao gồm mô tả về các xét nghiệm dương tính giả với giang mai trong LBĐHT mô tả bởi Reinhart và Hauck người Đức (1909); mô tả về thay đổi cầu thận bởi Baehr (1935) tổn thương mô bệnh học đặc trưng cho viêm thận lupus – Wire loop [17].

- Sự khởi đầu của kỷ nguyên hiện đại trong LBĐHT là phát hiện của tế bào 'LE' bởi Hargraves, Richmond và Morton tại Mayo Clinic năm 1948. 4 - Năm 1957, với sự phát hiện được kháng thể kháng DNA bệnh LBĐHT đã được khẳng định là một bệnh tự miễn. Từ năm 1957 đến 1964, Pollack và Pirani đã sử dụng kỹ thuật sinh thiết thận sử dụng kính hiển vi quang học, nhuộm miễn dịch huỳnh quang, hiển vi điện tử đối chiếu với lâm sàng để mô tả các tổn thương thận trong LBĐHT [17]. - Năm 1971 hội khớp học Mỹ (ARA) đã đưa ra được một bảng tiêu chuẩn chẩn đoán gồm 14 tiêu chuẩn sau đó chỉnh sửa lại vào năm 1982 với 11 tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh và đang được áp dụng hiện nay.

Dịch tễ học Tỷ lệ mắc bệnh VTL khác nhau giữa các châu lục và chủng tộc người. Tỷ lệ tích lũy của VTL cao ở người châu Á (55%), châu Phi (51%), người Mỹ gốc Tây Ban Nha (43%) so với người Caucasians (14%) [18]. Theo báo cáo mới nhất về tình hình mắc bệnh LBĐHT tại Hoa Kỳ là 128,7/100.000, tỷ lệ mắc mới hàng năm chung là 5,5/100.000 người, riêng với phụ nữ tỷ lệ này là 9,3/100. Một cuộc khảo sát cộng đồng ở Birmingham (Anh) trên nhóm bệnh nhân nữ tuổi 18-64 được khám lâm sàng và làm xét nghiệm kháng thể kháng nhân cho tỷ lệ mắc bệnh là 54 ca/100.000 dân, với việc bổ sung con số phát hiện bệnh qua sàng lọc ngẫu nhiên thì con số mắc bệnh thực sự tại Anh dự báo khoảng 200 ca/ 100.

Tại châu Á, theo báo cáo chung từ một số quốc gia (Nhật Bản, Ấn Độ, Ả- Rập Saudi, Trung Quốc) về bệnh lý này thì tỷ lệ mắc từ 30-50/100.000 người, riêng tại Thượng Hải tỷ lệ này cao hơn các nơi khác (70/100. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh LBĐHT đặc trưng bởi tổn thương nhiều cơ quan, lâm sàng tổn thương đa dạng phụ thuộc vào từng giai đoạn của bệnh (ổn định hay đang hoạt động). Đặc điểm tổn thương da và niêm mạc Tổn thương da là loại tổn thương phổ biến và đặc hiệu trong LBĐHT, có thể chia tổn thương da thành 3 loại: cấp tính, bán cấp và mạn tính. - Tổn thương da cấp tính: ban đỏ cánh bướm cấp tính là tổn thương dạng sẩn đỏ, sưng tấy có thể kèm đau và ngứa dọc hai bên gò má thường tăng lên khi người bệnh tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

Các tổn thương ban cấp tính của lupus trên da có thể chữa khỏi hoàn toàn không để lại sẹo [22]. - Ban đỏ bán cấp: tổn thương da bán cấp trong LBĐHT không phải lúc nào cũng đi kèm với bệnh, chỉ xuất hiện trong khoảng 10% số bệnh nhân. Tổn thương da bán cấp có thể kích ứng dạng vòng hoặc dạng vảy nến, và kích ứng này luôn đi kèm với các kháng thể anti-Ro (SS-A) và anti-La (SS-B). Tổn thương ban bán cấp bắt đầu như một nốt ban đỏ nhỏ, hơi giống vảy cá và phát triển thành vảy nến (dạng vảy) hoặc dạng vòng.

Các vùng thường bị ảnh hưởng là vai, cẳng tay, cổ, và thân trên, mặt thường không bị [22]. - Ban mạn tính (ban dạng đĩa): tổn thương lupus ban đỏ dạng đĩa phát hiện trong khoảng 25% số bệnh nhân LBĐHT, có liên quan đến chủng tộc. Bệnh nhân có tổn thương ban dạng đĩa có nguy cơ mắc LBĐHT từ 5-10%, thường nhẹ [22]. - Da nhạy cảm với ánh sáng: nhạy cảm cảm ánh sáng được định nghĩa là sự phát triển của ban đỏ sau khi người bệnh tiếp xúc với tia cực tím (UV) tia B trong ánh sáng mặt trời hoặc từ đèn huỳnh quang.

Nó xảy ra 60- 100% ở người bệnh [22]. - Rụng lông, tóc: chứng rụng lông – tóc được định nghĩa là hiện tượng rụng lông, tóc xuất hiện đột ngột. Nó có thể xảy ra ở đầu, lông mi, lông mày, râu, và các vùng lông khác trên cơ thể [22]. - Tổn thương niêm mạc: tổn thương niêm mạc xuất hiện khoảng 45% ở bệnh nhân LBĐHT.

Loét thường xuất hiện vùng miệng, họng, lưỡi và 6 niêm mạc bộ phận sinh dục. Loét miệng trong LBĐHT thường không đau và không phải lúc nào bệnh cũng đi kèm với sốt, đây cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên của LBĐHT [22]. - Sinh thiết của vùng da bị tổn thương của bệnh nhân LBĐHT thấy chứa phức hợp tấn công màng (C5b tới C9), PHMD lắng đọng ở màng giữa trung bì và thượng bì, ngoài ra còn đi kèm với tổn thương viêm mạch [22]. Tổn thương hệ cơ xương khớp Triệu chứng hệ cơ xương khớp gặp tỷ lệ 53-95% tổng số bệnh nhân LBĐHT.

- Viêm khớp: tổn thương khớp được miêu tả là viêm khớp không có hình bào mòn xương, không có biến dạng khớp, chỉ sưng đau khớp đơn thuần. Vị trí khớp bị tổn thương là các khớp nhỏ và nhỡ: khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp gối [22]. - Viêm cơ: đau cơ là biểu hiện thường gặp, ít gặp bệnh nhân có viêm cơ, tỷ lệ 5-11%. Qua sinh thiết thấy có xâm nhập bạch cầu và xét nghiệm có tăng các enzym cơ, tuy nhiên giá trị của men CK là thấp do vậy men CK bình thường cũng không loại trừ được chẩn đoán.

- Hoại tử vô mạch xương: là nguyên nhân chính gây tàn tật ở LBĐHT, thường tổn thương xương vai, hông và đầu gối. Các yếu tố có thể gây ra thiếu máu cục bộ ở xương và hoại tử bao gồm hiện tượng Raynaud, viêm mạch, tắc mạch do xơ vữa mạch, biến chứng corticosteroid, và hội chứng kháng phospholipid. Hoại tử xương thường phát triển ngay sau khi bắt đầu điều trị bằng corticosteroid liều cao [22]. Tổn thương thận Tổn thương thận chiếm tỷ lệ 40-70% tổng số bệnh nhân LBĐHT, đây là nguyên nhân khiến bệnh nhân thường xuyên phải nhập viện.

Sự hình thành và lắng đọng PHMD tại thận là nguyên nhân chính của tổn thương dẫn đến hàng loạt các biểu hiện trên lâm sàng: tiểu máu, protein niệu các mức độ khác nhau, suy thận cấp, suy thận mạn. Sinh thiết thận và phân loại tổn thương theo 7 mô bệnh học là cách tốt nhất để đánh giá tổn thương thận ở bệnh nhân VTL: đánh giá tại thời điểm sinh thiết, tiên lượng bệnh và theo dõi tác dụng của điều trị. Tổn thương hệ thần kinh Bệnh lupus ban đỏ ảnh hưởng đến cả hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống thần kinh ngoại vi. Tổn thương hệ thống thần kinh trong bệnh LBĐHT vẫn là một nguyên nhân chính gây tử vong cho bệnh nhân và thường xảy ra trong các đợt kịch phát của bệnh, nó được cho là biểu hiện nặng của bệnh.

ACR đã mô tả các khái niệm và tiêu chuẩn phân loại cho 19 hội chứng tổn thương thần kinh trung ương và ngoại vi ở bệnh nhân LBĐHT mà gọi chung là hội chứng tâm thần kinh LBĐHT [23]. Co giật giống động kinh toàn thể hoặc cục bộ găp 7-10% số bệnh nhân LBĐHT. Co giật cũng có liên quan đến biểu hiện của các kháng thể kháng phospholipid. Thoái hóa myelin, viêm tủy cắt ngang và múa giật là những biểu hiện hiếm khi xảy ra gặp khoảng <1% bệnh nhân [23].

Tổn thương tim mạch Viêm màng ngoài tim có thể gặp ở khoảng 25% bệnh nhân LBĐHT. Viêm màng ngoài tim kết hợp tràn dịch màng ngoài tim có thể không có triệu chứng và thông thường nhẹ, tràn dịch màng tim gây chèn ép tim ít xảy ra [22]. Tổn thương van tim cũng khá thường gặp và có liên quan đến sự xuất hiện của kháng thể hoạt hóa tiểu cầu. Tỷ lệ bệnh nhân đột quỵ, tắc mạch ngoại vi, suy tim, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng (viêm nội tâm mạc kiểu Libman-Sachs), tổn thương van tim cần thay van ở bệnh nhân LBĐHT cao gấp 3 lần so với người khỏe mạnh [22].

Tổn thương phổi và màng phổi - Viêm màng phổi: là biểu hiện thường gặp của LBĐHT với tỷ lệ gặp khoảng 45-60%, có thể đi kèm hoặc không đi kèm triệu chứng tràn dịch màng phổi. 8 - Viêm phổi kẽ: gặp tỷ lệ khoảng 3-13% số bệnh nhân LBĐHT, đây là một tổn thương khá phức tạp, tuy nhiên diễn biến không quá nguy hiểm cho người bệnh. Viêm và chảy máu phế nang là một tổn thương nặng tỷ lệ tử vong cao của LBĐHT với biểu hiện như ho, khó thở, đau ngực, giảm độ bão hòa oxy trong máu, thiếu máu và sốt xảy ra ở 1-4% [22]. - Tăng áp lực động mạch phổi: gặp tỷ lệ thấp trong LBĐHT nhưng đây là biểu hiện đe dọa cuộc sống của người bệnh, biểu hiện thường là khó thở hoặc phát hiện được qua thăm dò siêu âm tim [22].

Tổn thương gan và hệ tiêu hóa Các rối loạn hệ tiêu hóa liên quan đến LBĐHT (cả tác dụng phụ của thuốc hay biểu hiện bệnh) tỷ lệ gặp khoảng 25-40%. Chứng khó tiêu đã được ghi nhận trên 11-50% và loét cơ quan tiêu hóa (thường là dạ dày) khoảng 4-21% [22]. - Đau bụng: đau bụng đi kèm với buồn nôn và nôn xảy ra trên 30% bệnh nhân LBĐHT. - Tổn thương gan: tỷ lệ bệnh nhân có gan to khoảng 12-25%; gan nhiễm mỡ gặp khá phổ biến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đánh giá tổn thương mô bệnh học và đa hình thái gen STAT4, IRF5, CDKN1A trong viêm thận lupus là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các tổn thương mô bệnh học và đa hình thái gen liên quan đến bệnh viêm thận lupus. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về vai trò của các gen STAT4, IRF5 và CDKN1A trong cơ chế bệnh sinh, đồng thời đánh giá mối liên hệ giữa các biến thể gen này với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân và tiến triển của bệnh mà còn mở ra hướng tiếp cận mới trong chẩn đoán và điều trị.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến mô bệnh học và gen, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô bệnh học sarcom xương nguyên phát theo phân loại của tổ chức y tế thế giới who năm 2013, nghiên cứu này cung cấp thông tin chi tiết về phân loại và đặc điểm mô bệnh học của sarcom xương. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ công nghệ sinh học xác định genotype HPV ở phụ nữ cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về ứng dụng công nghệ gen trong chẩn đoán bệnh. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối liên quan giữa resistin, visfatin với nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 sẽ giúp bạn khám phá thêm về vai trò của các marker sinh học trong bệnh lý phức tạp.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết và ứng dụng trong lĩnh vực y học.