CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LƯỢNG DỊCH VỤ VA MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ CHAT LƯỢNG DICH VỤ BAN LẺ 1. Chất lượng dịch vụ Không giống như chất lượng của sản phẩm hữu hình, chất lượng dịch vụ là một phạm trù khá trừu tượng. Sự trừu tượng này do chính đặc tính vô hình của dịch vụ tạo ra. Hiện nay có khá nhiều cách tiếp cận về chất lượng dịch vụ.
Theo ISO 8402, chất lượng dịch vụ là “tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm an”. Thec cách tiếp cận này, chất lượng dịch vụ khá trừu tượng và khó hiểu. (2008) đã chi rõ những đặc điểm khác biệt của dịch vụ như sau: "Tính vô hình: Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng. Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ.
Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Với lý do là vô hình nên công ty cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ (Robinson, 1999). " Tính không đồng nhất: Đặc tính này cũng gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục.
vụ, nhà cung cấp dich vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt, 1997). Lý do là những gì công ty dự định phục vụ thì có thê hoàn toàn khác với những gì mà người tiêu dùng nhận được.
= Tính không thể tách rời: Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra và sử dụng đồng thời. Điều này không đúng đối với hàng hoá vật chất được sản xuất ra nhập kho, phân phối thông qua nhiều nắc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hoá, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyên giao dịch vụ thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ (Svensson, 2002). Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến của người tiêu dùng như dịch vụ hớt tóc, khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ ít thực hiện việc kiểm soát, quản lý về chất lượng vì người tiêu dùng ảnh hưởng đến quá trình này. Trong những trường hợp như vậy, ý kiến của khách hàng như mô tả kiểu tóc của mình muốn hoặc bệnh nhân mô tả các triệu chứng cho các bác sĩ, sự tham gia ý kiến của khách hàng trở nên quan trọng đối với chất lượng của hoạt động dịch vụ. = Tính không lưu giữ được: Dich vụ không thé cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hang hoá khác.
Tính không lưu giữ được của dich vụ sẽ không thành van đề khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. Vi dụ như các công ty vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện hơn gấp bội so với số lượng cần thiết theo nhu cầu bình thường trong suốt cả ngày dé đảm bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm. Chính vì vậy, dịch vụ là sản pham được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hang (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996). Edvardsson, Thomsson & Ovretveit (1994) cho rằng chất lượng dich vụ là dịch vu đáp ứng được sự mong đợi của khách hang va làm thoả mãn nhu cầu ngầm định của họ. Dưới quan điểm của Phillip Kotler, chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó (Kotler & ctg, 2005). Kỳ vọng của khách hàng và nhận thức về dịch vụ trở nên quan trọng khi nó là căn cứ để khách hàng nghĩ lại xem nhận thức có vượt quá sự mong đợi (Siu & Cheung năm 2001; Kang & James, 2004).
Cronin & Taylor (1992) lập luận rằng chất lượng dịch vụ nên được xem như thái độ của khách hàng đối với dịch vụ. Quan điêm này hỗ trợ việc đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên nhận thức (hiệu suất) về chất lượng dịch vụ. Các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý quan tâm tới lĩnh vực chất lượng dịch vụ bởi vì nó được biết đến để giảm chỉ phí, tăng sự hài lòng của khách hàng (Chen, 2008 ; Howat, Crilley & McGrath, 2008), duy trì và tăng lòng trung thành của khách hàng (Sureshchandar, Rajendran & Aanatharaman, 2002; Wong & Sohal, 2003; Bontis & Booker, 2007 ; Prayag , 2007; Howat, Crilley & McGrath, 2008), tăng ý định mua lại (Perez & ctg, 2007; Chen, 2008) và mang lại lợi ích cho tô chức (Asubonteng, McCleary & Swan, 1996; Buttle, 1996; Sivadas & Prewitt, 2000; McAdam, McLean & Henderson, 2003; Seth, Deshmukh & Vrat, 2005; Edvardsson, 2005). Hon nữa, nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của công ty, thu hút khách hàng mới, và nâng cao hình ảnh của tổ chức (Seth, Deshmukh & Vrat năm 2005; Akbaba, 2006) Tiếp cận theo một góc nhìn khác, Parasuraman & ctg (1985, 1988) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”.
Định nghĩa trên của Parasuraman được đa số các nhà khoa học và kinh doanh chấp nhận và sử dụng rộng rãi vào nghiên cứu cũng như kinh doanh thực tế. Theo cách tiếp cận này, chất lượng chính là do khách hàng cảm nhận và khách hàng đánh giá, mức độ hài lòng của khách hàng chính là hiệu số giữa cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ của khách hàng và mong đợi của họ trước khi tiêu dùng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ bán lẻ 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ bán lẻ Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự lựa chọn cửa hàng của người tiêu dùng là chất lượng dịch vụ (Swoboda & ctg, 2007).
Vì lý do này, điều quan trọng là phải hiểu được chất lượng dich vụ bán lẻ. Theo Zeithaml, Bitner & Gremler (2009), trong trường hợp các dịch vụ hoặc dịch vụ khách hàng được cung. cấp kết hợp với một sản phẩm vật lý, chất lượng dịch vụ cũng có thê rất quan trọng trong việc xác định sự hài lòng của khách hàng. Các thành phần chất lượng dịch vụ bán lẻ Dabholka & ctg (1996) dựa vào nghiên cứu định tính, lý thuyết dịch vụ, và thang đo SERVQUAL, đưa ra năm thành phần cơ bản của chất lượng dịch vụ bán lẻ theo mô hình RSQS (Retail Service Quality Scale): (1) phương tiện hữu hình, (2) độ tin cậy, (3) nhân viên phục vụ, (4) giải quyết khiếu nại, và (5) chính sách của cửa hàng.1: Khái niệm các thành phần chất lượng dịch vụ bán lẻ STT Thành phần 1 | Phương tiện hữu hình Diện mạo và cách trưng bày tại cửa hing (Physical Aspects) 2 _ | Độ tin cậy (Reliability) Cửa hàng luôn giữ lời hứa va làm đúng mọi việc 3 _ | Tương tác cá nhân Nhân viên cửa hàng lịch sự, hữu ích và làm khách hàng cảm.
(Personal Interaction) thay tin tưởng 4 | Giải quyết khiếu nại Nhân viên cửa hàng có khả năng xử lý các van dé đôi trả (Problem solving) hàng va các phan nàn của khách hàng 5 | Chính sách Chính sách của cửa hàng về chất lượng hàng hóa, diém đỗ (Policy) xe, thời gian phục vụ và thẻ tin dụng. Nguôn: Dabholkar (1996) Nguyễn Thị Mai Trang (2006) cho rằng chất lượng dịch vụ siêu thị bao gồm 5 thành phần: Chủng loại hàng hóa, Khả năng phục vụ của nhân viên, Trưng bày hàng hóa, Mặt bằng siêu thị và Mức độ an toàn. Thang đo Chủng loại hàng hóa được đo lường bằng ba biến quan sát về mặt hàng mới, đầy đủ và nhiều mặt hàng để chọn lựa. Thang đo Khả năng phục vụ của nhân viên được đo lường bằng năm biến quan sát và tập trung vào thái độ phục vụ tận tình, thân thiện và lịch sự của nhân viên.
Thang đo Thanh phan trưng bày hàng hóa được đo lường bằng năm biến quan sát với nội dung như ánh sáng, bằng chỉ dẫn hàng hóa, hệ thống máy tính tiền hiện đại. Thang đo Mặt bằng siêu thị được đo lường bằng bốn biến quan sát, nội dung đề cập đến không gian rộng rãi và thoải mái trong siêu thị cũng như 10 bãi giữ xe. Thành phần cuối cùng của thang đo chất lượng dịch vụ siêu thị là an toàn tại siêu thị, đo lường bằng hai biến quan sát và đưa ra những van dé như hệ thống phòng cháy chữa cháy. Các nghiên cứu của Gutman and Alden (1985); Hummel và Savitt (1988); Mazursky và Jacoby (1985); Oliver (1981) đã gợi ý rằng Bồ trí cửa hàng và Chất lượng của hàng hóa là những thành phần quan trọng tác động tới cảm nhận của khách hàng và tới đánh giá chất lượng dịch vụ của các cửa hàng bán lẻ.
Bồ trí cửa hàng bao gồm sự thuận tiện trong việc tìm kiếm hàng hóa và trong di chuyển giữa các kệ hàng. Thành phần liên quan đến Sử dụng thẻ tín dụng và Các chính sách liên quan đến việc đổi hoặc trả lại hàng hóa cũng là những thành phan quan trọng trong chất lượng dịch vụ bán lẻ (Westbrook, 1981 và Jacoby, 1985). Ngoài ra, các thành phần như môi trường siêu thị (âm nhạc, bầu không khí, không gian thiết kế.