Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trần Khánh Nga với đề tài "Nghiên cứu tình hình đái tháo đường thai kỳ và mối liên quan của bệnh với adiponectin, leptin huyết thanh" thuộc chuyên ngành Sản Phụ khoa (mã số 9 72 01 05), được thực hiện tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Cao Ngọc Thành và GS. Phạm Văn Lình, bảo vệ năm 2023.
Tình trạng đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) có xu hướng gia tăng trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Giai đoạn 2001–2004, tỷ lệ mắc tại Việt Nam dao động khoảng 3–4%, nhưng từ sau năm 2012 đã tăng lên trên dưới 20%. Năm 2018, Bộ Y tế Việt Nam chính thức ban hành hướng dẫn quốc gia khuyến cáo áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán một bước bằng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g–2 giờ theo Hiệp hội quốc tế các nhóm nghiên cứu đái tháo đường và thai kỳ (IADPSG). Dù một số tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã có các nghiên cứu dịch tễ riêng lẻ, việc áp dụng các tiêu chuẩn sàng lọc và chẩn đoán trước đây chưa có sự đồng thuận và nhất quán. Về mặt sinh bệnh học, đái tháo đường thai kỳ khởi phát do rối loạn chức năng tế bào beta tuyến tụy trên nền tảng đề kháng insulin mạn tính. Các adipokine do mô mỡ và bánh nhau tiết ra như adiponectin và leptin được xác định tham gia vào quá trình điều hòa chuyển hóa glucose và cân bằng năng lượng. Tuy nhiên, tại Việt Nam trước thời điểm nghiên cứu, số liệu khảo sát nồng độ adiponectin và leptin huyết thanh nhằm đánh giá nguy cơ ĐTĐTK còn hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm 2 nội dung:
- Xác định tỷ lệ và một số yếu tố liên quan với đái tháo đường thai kỳ tại Đồng bằng sông Cửu Long.
- Xác định nồng độ và đánh giá mối liên quan của adiponectin, leptin huyết thanh với đái tháo đường thai kỳ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Phụ nữ mang thai đơn thai ở tuổi thai từ 24 đến 28 tuần đến khám thai tại khoa Khám bệnh của 4 bệnh viện chuyên khoa sản nhi khu vực ĐBSCL gồm Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Sản Nhi An Giang, Bệnh viện Chuyên khoa Sản Nhi Sóc Trăng và Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thu thập dữ liệu trong giai đoạn từ tháng 06/2017 đến tháng 06/2022.
- Phạm vi không gian: Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc phát triển về định nghĩa, tiêu chuẩn chẩn đoán, dịch tễ học và cơ chế sinh bệnh học phân tử của ĐTĐTK gắn liền với hai adipokine chính là adiponectin và leptin.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK, tác giả điểm lại tiến trình lịch sử từ tiêu chuẩn O'Sullivan (1964) sử dụng nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) 100g 3 giờ, được Nhóm dữ liệu đái tháo đường quốc gia Hoa Kỳ (NDDG, 1979) và Carpenter - Coustan (1982) hiệu chỉnh; tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1999) sử dụng OGTT 75g; nghiên cứu đoàn hệ đa trung tâm quốc tế HAPO (2008) trên 25.505 thai phụ; các khuyến nghị đồng thuận của IADPSG (2010), Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2011, 2012), WHO (2013, 2014) và Hướng dẫn quốc gia của Bộ Y tế Việt Nam (2018).
Về mặt dịch tễ học quốc tế, tác giả trích dẫn số liệu từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF 2021) với ước tính tỷ lệ ĐTĐTK tại Đông Nam Á là 25,9%, Bắc Mỹ là 20,7%, Tây Thái Bình Dương là 14,0%. Tổng quan hệ thống của Wang H. và cộng sự (2021) trên 57 nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐTĐTK toàn cầu theo tiêu chuẩn IADPSG là 14,0% (KTC95%: 13,97–14,04), trong đó khu vực Trung Đông - Bắc Phi đạt 27,6% và Đông Nam Á đạt 20,8%. Phân tích gộp của Lee K.W. và cộng sự (2018) trên 84 nghiên cứu tại 20 quốc gia châu Á ghi nhận tỷ lệ trung bình là 11,5% (Đài Loan 38,6%, Hồng Kông 32,5%, Nhật Bản 2,8%, Nepal 1,5%); đồng thời xác định các yếu tố nguy cơ chính gồm tiền sử ĐTĐTK (OR=8,42), tiền sử sinh con dị tật (OR=4,25), tiền sử sinh con to (OR=4,41), chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 25 kg/m² (OR=3,27), tăng huyết áp thai kỳ (OR=3,20), tiền sử gia đình mắc ĐTĐ (OR=2,77), tiền sử sẩy thai (OR=2,25), tuổi mẹ ≥ 25 (OR=2,17). Các nghiên cứu đơn lẻ khác của Bardenheier (2013), Sweeting (2017), Groof (2019), Fang Li (2020), MacNeil (2001), England (2009), Lavery (2012), Yaping (2022), Celik (2013), Sivan (1997), Yogev (2004) cũng được tổng hợp để làm rõ các yếu tố nhân khẩu, tiền sử sản khoa và bệnh lý đi kèm.
Tại Việt Nam, các công trình được điểm lại gồm: Vũ Bích Nga (2008 tại Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ 7,9% theo ADA 2010), Tô Thị Minh Nguyệt (2009 tại Bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ 10,7%), Nguyễn Thị Hoa Ngần (2010 tại Thái Nguyên, tỷ lệ 9,4%), Nguyễn Khoa Diệu Vân (2011 tại Bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ 11,7% theo ADA 2010 và 39,0% theo ADA 2011), Nguyễn Thị Mai Phương (2016 tại Hải Phòng, tỷ lệ 37,4%), Lê Thị Thanh Tâm (2017 tại Nghệ An, tỷ lệ 20,5%), Trương Thị Quỳnh Hoa (2017 tại Bình Định, tỷ lệ 20,9%), Trần Đình Vinh (2017 tại Đà Nẵng, tỷ lệ 15,2%), Lại Thị Ngọc Điệp (2014 tại Kiên Giang, tỷ lệ 20,5%), Võ Thị Ánh Nhàn (2016 tại TP.HCM, tỷ lệ 8,9%), Trương Thị Ái Hòa (2017 tại TP.HCM, tỷ lệ 18,9%), Châu Hoàng Sinh (2018 tại TP.HCM, tỷ lệ 30,3%), Nguyễn Thị Phương Yến (2018 tại Cần Thơ, tỷ lệ 7,4%) và Huỳnh Ngọc Duyên (2018 tại Cà Mau, tỷ lệ 21,2%).
Về phương diện adipokine:
- Adiponectin: Được phát hiện năm 1995, mã hóa bởi gen adipoQ trên nhiễm sắc thể 3q27, gồm 3 dạng đồng phân (LMW 60 kDa, MMW 150 kDa, HMW 420 kDa). Các nghiên cứu của Catalano (2006), Kajantie (2004), Aramesh (2010), Saini (2015), Pala (2015), Bhograj (2016), Mohammadi (2017), Hedderson (2013), Williams (2004), Madhu (2019) và Nguyễn Thị Thanh Hương (2014) chỉ ra rằng nồng độ adiponectin trong máu thai phụ ĐTĐTK có xu hướng giảm rõ rệt so với nhóm thai phụ bình thường.
- Leptin: Được Friedman phát hiện năm 1994, mã hóa bởi gen trên nhiễm sắc thể 7q31.3. Các công trình của Masuzaki (1997), Yura (1998), Denroche (2012), Kautzky-Willer (2001), Fatima (2016), Bozkurt (2018), Boyadzhieva (2013), Ebert (2020), Saucedo (2011), McLachlan (2006) cho thấy leptin nhau thai tăng cao trong thai kỳ ĐTĐTK, liên quan đến phản ứng viêm mạn tính và đề kháng insulin.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Cung cấp bức tranh dịch tễ học ĐTĐTK có quy mô mẫu lớn tại 4 tỉnh đại diện vùng ĐBSCL dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất của Bộ Y tế (2018), đồng thời định lượng và thiết lập mô hình đánh giá mối liên quan giữa sự biến thiên nồng độ adiponectin, leptin huyết thanh với nguy cơ mắc ĐTĐTK tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án vận dụng lý thuyết sinh lý bệnh nội tiết chuyển hóa thai kỳ:
- Cơ chế cân bằng glucose trong thai kỳ bình thường: Tình trạng giảm nhạy cảm insulin ngoại vi xuất hiện từ giữa thai kỳ do tác động của hormon nhau thai (hPL, progesterone, estrogen, prolactin, cortisol) và mô mỡ, kèm theo sự tăng tiết insulin bù trừ từ tế bào beta tụy và hiện tượng giảm nồng độ glucose máu lúc đói do thai nhi tăng cường thu nhận glucose qua kênh vận chuyển GLUT 1 và GLUT 4.
- Sinh bệnh học ĐTĐTK: Xảy ra khi tế bào beta tụy suy giảm chức năng, không đủ khả năng tăng tiết insulin bù trừ trên nền đề kháng insulin mạn tính và khiếm khuyết tín hiệu chuyển vị GLUT 4.
- Vai trò phân tử của Adiponectin: Tác động qua thụ thể adipoR1 (cơ xương) và adipoR2 (gan), kích hoạt protein kinase AMP (AMPK) và thụ thể PPARα, làm tăng nhạy cảm insulin, kích thích oxy hóa acid béo và ức chế tân tạo đường tại gan. Sự gia tăng các cytokine viêm như TNF-α và IL-6 ở thai phụ ĐTĐTK ức chế phiên mã gen adiponectin, làm giảm nồng độ chất này trong huyết thanh.
- Vai trò phân tử của Leptin: Tiết chủ yếu từ hợp bào lá nuôi và tế bào nuôi của nhau thai vào tuần hoàn mẹ, truyền tín hiệu qua thụ thể ObRb và con đường JAK2/STAT. Trong ĐTĐTK, nồng độ leptin tăng cao do kích thích từ tình trạng viêm mạn tính và tăng đường huyết, dẫn đến hiện tượng đề kháng leptin và gia tăng các yếu tố gây viêm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án sử dụng phương pháp dịch tễ học lâm sàng định lượng với 2 thiết kế nghiên cứu:
| Hạng mục phương pháp |
Mục tiêu 1 |
Mục tiêu 2 |
| Thiết kế nghiên cứu |
Nghiên cứu mô tả cắt ngang |
Nghiên cứu bệnh – chứng (Case - Control) |
| Quần thể nghiên cứu |
Thai phụ tuổi thai 24–28 tuần tại 4 bệnh viện chuyên khoa (Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Cà Mau) |
Thai phụ tuổi thai 24–28 tuần tại Bệnh viện Phụ Sản TP. Cần Thơ |
| Quy mô mẫu |
Tính toán $n=1.712$ (hiệu lực thiết kế 1,5; $\alpha=0,01$; $d=0,02$; $p=7,4%$). Thực tế thu thập $n=1.727$ thai phụ. |
Tính toán theo công thức so sánh 2 số trung bình ($n \ge 56$/nhóm). Thực tế thu thập $n=68$ nhóm bệnh và $n=68$ nhóm chứng. |
| Tiêu chuẩn chẩn đoán |
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) 75g–2 giờ theo IADPSG / Bộ Y tế 2018 |
Nhóm bệnh: xác định mắc ĐTĐTK bằng OGTT 75g; Nhóm chứng: kết quả OGTT bình thường. |
| Kỹ thuật xét nghiệm |
Đo nồng độ glucose huyết tương lúc đói ($G_0$), sau 1 giờ ($G_1$) và sau 2 giờ ($G_2$) bằng phương pháp enzym Hexokinase / Glucose Oxidase |
Định lượng nồng độ adiponectin và leptin huyết thanh của thai phụ tại thời điểm làm OGTT |
| Xử lý số liệu |
Phân tích thống kê mô tả, kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$), hồi quy logistic đơn biến và đa biến (tính OR, KTC95%) |
So sánh trung bình (t-test / Mann-Whitney U), phân tích hồi quy logistic, xây dựng đường cong ROC, xác định diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt (cut-off), độ nhạy ($Se$), độ đặc hiệu ($Sp$) |
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập trực tiếp qua phiếu phỏng vấn chuẩn hóa (đặc điểm nhân khẩu, tiền sử gia đình, tiền sử sản khoa, cân nặng trước mang thai, mức tăng cân thai kỳ), hồ sơ bệnh án và kết quả xét nghiệm sinh hóa máu của 1.727 thai phụ tại 4 bệnh viện địa phương.
- Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm kỹ thuật chuyên môn của Bộ Y tế Việt Nam, báo cáo thống kê của IDF và các công bố khoa học trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm về ĐTĐTK, cấu trúc - chức năng sinh học của adiponectin và leptin, cùng lược sử các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
Nội dung chương làm rõ:
- Khái niệm và sự chuyển dịch tiêu chuẩn chẩn đoán: Phân biệt rõ giữa đái tháo đường phát hiện trong 3 tháng đầu thai kỳ (ĐTĐ chưa được chẩn đoán trước đó) và ĐTĐTK thực thụ xuất hiện trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối thai kỳ. Tiêu chuẩn IADPSG/Bộ Y tế 2018 quy định ngưỡng chẩn đoán bằng OGTT 75g là: $G_0 \ge 92\text{ mg/dl}$ ($5,1\text{ mmol/l}$), $G_1 \ge 180\text{ mg/dl}$ ($10,0\text{ mmol/l}$), $G_2 \ge 153\text{ mg/dl}$ ($8,5\text{ mmol/l}$); chỉ cần $\ge 1$ giá trị vượt ngưỡng là xác định mắc bệnh.
- Hậu quả lâm sàng: Đối với mẹ gồm tăng huyết áp thai kỳ (tới 10%), sinh non (26%), đa ối (18%), sẩy thai, thai lưu và tiến triển thành ĐTĐ típ 2 trong tương lai (tỷ lệ 17–63% sau 5–16 năm, nguy cơ tăng 3% mỗi năm). Đối với con gồm thai to (20–30%), hội chứng suy hô hấp cấp chu sinh, hạ đường huyết sơ sinh, tử vong chu sinh tăng gấp đôi và tăng nguy cơ mắc ĐTĐ típ 2 khi trưởng thành lên gấp 8 lần.
- Cấu trúc và thụ thể: Mô tả chi tiết cấu trúc phân tử của adiponectin (244 acid amin, 28 kDa) và leptin (167 acid amin, 16 kDa); các thụ thể tương ứng gồm adipoR1, adipoR2, T-cadherin và hệ thống thụ thể leptin ObRa–ObRe.
- Cơ chế tác động chuyển hóa: Tổng hợp sơ đồ điều hòa ngược giữa tình trạng viêm mạn tính, đề kháng insulin và nồng độ adipokine trong huyết thanh thai phụ.
Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK theo khuyến cáo Bộ Y tế Việt Nam (2018) / IADPSG:
+ Đường huyết lúc đói (G0): ≥ 92 mg/dl (5,1 mmol/l)
+ Đường huyết sau uống 75g glucose 1 giờ (G1): ≥ 180 mg/dl (10,0 mmol/l)
+ Đường huyết sau uống 75g glucose 2 giờ (G2): ≥ 153 mg/dl (8,5 mmol/l)
(Chẩn đoán xác định khi có từ 1 giá trị đường huyết trở lên đạt hoặc vượt ngưỡng)
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu, tiêu chuẩn đưa vào, tiêu chuẩn loại trừ, quy trình kỹ thuật xét nghiệm và các bước phân tích thống kê.
Tiêu chuẩn loại trừ được thiết lập nghiêm ngặt: loại khỏi mẫu các trường hợp thụ thai do kích thích buồng trứng, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), đã mắc ĐTĐ trước mang thai hoặc chuyển từ nơi khác đến, mắc các bệnh lý ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose (cường giáp, suy giáp, hội chứng Cushing, buồng trứng đa nang PCOS, suy gan, suy thận), bệnh lý ác tính, tim mạch, tâm thần hoặc đang sử dụng các thuốc ảnh hưởng đường huyết (corticoid, salbutamol, chẹn beta, lợi tiểu thiazide, acetaminophen, phenytoin...).
Quy trình xét nghiệm OGTT 75g được kiểm soát chặt chẽ: thai phụ nhịn đói từ 8–12 giờ trước khi lấy máu $G_0$, uống 75g glucose hòa trong 250–300 ml nước trong vòng 5 phút, sau đó lấy máu tại thời điểm 1 giờ ($G_1$) và 2 giờ ($G_2$). Quy trình thu thập và bảo quản mẫu huyết thanh ở nhiệt độ –80°C phục vụ định lượng adiponectin và leptin được thực hiện chuẩn hóa theo quy chuẩn phòng xét nghiệm.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các phát hiện thống kê định lượng về tỷ lệ hiện mắc, các yếu tố nguy cơ và giá trị chẩn đoán của adiponectin, leptin huyết thanh:
- Dịch tễ học và các yếu tố liên quan:
- Tỷ lệ hiện mắc ĐTĐTK trên toàn bộ mẫu nghiên cứu ($n=1.727$) tại 4 tỉnh ĐBSCL và tỷ lệ phân bố theo từng bệnh viện tỉnh được xác định cụ thể.
- Phân tích cơ cấu bất thường đường huyết: Tỷ lệ thai phụ có 1 giá trị, 2 giá trị hoặc cả 3 giá trị đường huyết vượt ngưỡng chẩn đoán; thời điểm ghi nhận bất thường phổ biến nhất trong nghiệm pháp OGTT ($G_0$, $G_1$ hay $G_2$).
- Phân tích đơn biến và đa biến (Binary Logistic Regression): Xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa ĐTĐTK với các biến số: nhóm tuổi mẹ (đặc biệt nhóm $\ge 35$ tuổi), chỉ số BMI trước mang thai (thừa cân/béo phì), mức độ tăng cân quá mức trong thai kỳ, tiền sử gia đình thế hệ 1 mắc ĐTĐ hoặc tăng huyết áp, tiền sử sản khoa bất thường (tiền sử sẩy thai, thai lưu, sinh non, sinh con to $\ge 4.000\text{ g}$, tiền sử ĐTĐTK lần mang thai trước).
- Nồng độ và mối liên quan của Adiponectin, Leptin huyết thanh ($n=68$ bệnh, $n=68$ chứng):
- Nồng độ adiponectin huyết thanh ở nhóm thai phụ ĐTĐTK giảm có ý nghĩa so với nhóm thai phụ chứng; nồng độ có xu hướng giảm sâu ở nhóm thai phụ có BMI cao trước mang thai, nhóm có tiền sử gia đình ĐTĐ hoặc tiền sử ĐTĐTK.
- Tỷ lệ giảm nồng độ adiponectin huyết thanh và phân tích nguy cơ mắc ĐTĐTK theo từng mức phân vị adiponectin kết hợp với phân nhóm chỉ số BMI.
- Nồng độ leptin huyết thanh ở nhóm thai phụ ĐTĐTK tăng cao có ý nghĩa so với nhóm chứng; phân bố nồng độ leptin biến thiên theo mức độ tăng của chỉ số khối cơ thể (BMI).
- Giá trị chẩn đoán/tiên lượng qua đường cong ROC: Diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt tối ưu (cut-off), độ nhạy ($Se$) và độ đặc hiệu ($Sp$) của adiponectin và leptin huyết thanh trong việc xác định nguy cơ ĐTĐTK.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, lý giải kết quả và đối chiếu với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:
- Bàn luận về tỷ lệ ĐTĐTK: So sánh sự dao động tỷ lệ tại ĐBSCL với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam (nhóm nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ trên dưới 20% như Lại Thị Ngọc Điệp, Huỳnh Ngọc Duyên, Trương Thị Quỳnh Hoa, Lê Thị Thanh Tâm so với nhóm ghi nhận dưới 10% như Nguyễn Thị Phương Yến, Võ Thị Ánh Nhàn). Tác giả làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt bắt nguồn từ việc thống nhất sử dụng tiêu chuẩn IADPSG 2018 (tiếp cận 1 bước 75g) thay cho các tiêu chuẩn sàng lọc 2 bước cũ.
- Bàn luận về các yếu tố liên quan: Phân tích cơ chế tác động của tuổi mẹ cao, béo phì trước mang thai, tăng cân vượt khuyến cáo và tiền sử sản khoa nặng nề đối với khả năng bù trừ của tế bào beta tụy.
- Bàn luận về biến thiên Adiponectin và Leptin: Làm sáng tỏ mối liên hệ giữa giảm nồng độ adiponectin và tăng nồng độ leptin với mức độ đề kháng insulin; đối chiếu các điểm cắt và giá trị AUC của nghiên cứu với các công bố quốc tế của Saini (2015), Fatima (2016), Bozkurt (2018), Hedderson (2013).
- Bàn luận về hạn chế của đề tài: Đánh giá các khía cạnh nghiên cứu chưa bao phủ hết và điều kiện kỹ thuật trong quá trình triển khai thực địa.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Cung cấp dữ liệu dịch tễ học ĐTĐTK trên quy mô mẫu lớn ($n=1.727$) đại diện cho 4 tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long áp dụng thống nhất theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Bộ Y tế Việt Nam (2018) và IADPSG.
- Bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm về nồng độ adiponectin và leptin huyết thanh ở thai phụ Việt Nam mang thai từ 24 đến 28 tuần; chứng minh sự suy giảm adiponectin và gia tăng leptin có mối liên quan độc lập và kết hợp với chỉ số khối cơ thể (BMI) đối với nguy cơ mắc ĐTĐTK.
- Xác lập các thông số đường cong ROC, diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt tối ưu cùng độ nhạy và độ đặc hiệu của adiponectin và leptin huyết thanh trong hỗ trợ nhận diện ĐTĐTK.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Khẳng định tính khả thi và cần thiết của việc triển khai sàng lọc đại trà ĐTĐTK bằng nghiệm pháp OGTT 75g–2 giờ cho tất cả thai phụ ở tuần thứ 24–28 tại các cơ sở y tế chuyên khoa sản nhi khu vực phía Nam.
- Đề xuất mô hình nhận diện nhóm thai phụ nguy cơ cao dựa trên các yếu tố: tuổi mẹ $\ge 35$, thừa cân/béo phì trước mang thai, tăng cân quá mức trong thai kỳ, có tiền sử gia đình ĐTĐ/tăng huyết áp và tiền sử sản khoa bất thường.
- Kiến nghị nghiên cứu ứng dụng định lượng adiponectin và leptin huyết thanh như những dấu ấn sinh học bổ trợ trong việc đánh giá rối loạn chuyển hóa sớm ở thai phụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nghiên cứu chỉ khảo sát các đối tượng thai phụ đến khám tại các bệnh viện chuyên khoa phụ sản tuyến tỉnh/thành phố, chưa mở rộng thu thập tại tuyến y tế cơ sở và cộng đồng dân cư nông thôn sâu.
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang và bệnh - chứng tại thời điểm thai 24–28 tuần chưa theo dõi dọc liên tục nồng độ adiponectin và leptin từ tam cá nguyệt thứ nhất đến giai đoạn hậu sản để đánh giá biến thiên động học kéo dài.
- Cỡ mẫu thực hiện xét nghiệm dấu ấn sinh học ($n=68$ cho mỗi nhóm) chỉ tập trung tại Bệnh viện Phụ Sản TP. Cần Thơ do hạn chế về nguồn lực và chi phí xét nghiệm miễn dịch.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng các nghiên cứu thuần tập tiến cứu theo dõi dọc nồng độ adipokine từ 3 tháng đầu thai kỳ nhằm đánh giá giá trị dự báo sớm ĐTĐTK trước tuần 24.
- Đánh giá kết cục thai kỳ (cho cả mẹ và trẻ sơ sinh sau sinh) gắn liền với nồng độ adiponectin và leptin trong máu mẹ và máu cuống rốn.
- Nghiên cứu theo dõi dài hạn sự tiến triển thành đái tháo đường típ 2 và hội chứng chuyển hóa ở nhóm phụ nữ có tiền sử ĐTĐTK sau sinh từ 1 đến 5 năm tại khu vực ĐBSCL.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Sản Phụ khoa, Nội tiết - Chuyển hóa và Y học Dự phòng: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về thiết kế nghiên cứu dịch tễ học kết hợp kỹ thuật xét nghiệm hóa sinh miễn dịch; quy trình thu thập mẫu và các mô hình hồi quy đa biến phân tích yếu tố nguy cơ.
- Bác sĩ lâm sàng Sản Phụ khoa và cán bộ y tế tuyến cơ sở: Cung cấp bằng chứng thực tế để tư vấn quản lý cân nặng trước mang thai, kiểm soát tăng cân thai kỳ và thực hiện đúng quy trình nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g theo hướng dẫn Bộ Y tế.
- Các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe sinh sản: Cung cấp số liệu dịch tễ học thực chứng của vùng ĐBSCL phục vụ xây dựng kế hoạch dự phòng, tầm soát và phân bổ nguồn lực chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ được luận án áp dụng là gì?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán một bước của IADPSG được Bộ Y tế Việt Nam chính thức khuyến cáo từ năm 2018. Thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống (OGTT) 75g–2 giờ ở tuần thai 24–28. Chẩn đoán xác định khi có $\ge 1$ trong 3 giá trị đường huyết huyết tương đạt hoặc vượt ngưỡng: lúc đói ($G_0$) $\ge 92\text{ mg/dl}$ ($5,1\text{ mmol/l}$), sau 1 giờ ($G_1$) $\ge 180\text{ mg/dl}$ ($10,0\text{ mmol/l}$), sau 2 giờ ($G_2$) $\ge 153\text{ mg/dl}$ ($8,5\text{ mmol/l}$).
2. Nghiên cứu được triển khai trên quy mô mẫu và địa bàn nào?
Nghiên cứu được triển khai tại 4 bệnh viện chuyên khoa sản nhi khu vực ĐBSCL (Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Cà Mau) từ tháng 06/2017 đến tháng 06/2022. Quy mô mẫu cho Mục tiêu 1 là 1.727 thai phụ (cắt ngang); quy mô mẫu cho Mục tiêu 2 là 68 thai phụ ĐTĐTK và 68 thai phụ nhóm chứng thực hiện tại Bệnh viện Phụ Sản TP. Cần Thơ.
3. Xu hướng biến thiên của nồng độ adiponectin và leptin ở thai phụ ĐTĐTK như thế nào?
Ở thai phụ mắc ĐTĐTK, nồng độ adiponectin huyết thanh giảm rõ rệt so với thai phụ bình thường do tình trạng ức chế từ các cytokine tiền viêm (TNF-α, IL-6), làm giảm tính nhạy cảm với insulin. Ngược lại, nồng độ leptin huyết thanh ở nhóm ĐTĐTK tăng cao hơn đáng kể do tăng tiết từ mô nhau thai và mô mỡ dưới tác động của tình trạng viêm mạn tính và tăng đường huyết.
4. Những yếu tố nguy cơ chính nào của ĐTĐTK được ghi nhận trong nghiên cứu?
Các yếu tố liên quan chính gồm: tuổi mẹ cao ($\ge 35$ tuổi), thừa cân hoặc béo phì trước mang thai (BMI cao), mức tăng cân quá mức trong thai kỳ, tiền sử gia đình thế hệ thứ nhất mắc bệnh đái tháo đường hoặc tăng huyết áp, cùng tiền sử sản khoa bất thường (tiền sử ĐTĐTK, sinh con to $\ge 4.000\text{ g}$, sẩy thai liên tiếp, thai lưu).
Kết luận
Luận án của tác giả Trần Khánh Nga là công trình nghiên cứu chuyên khảo về dịch tễ học và sinh bệnh học phân tử của đái tháo đường thai kỳ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án đã xác định thực trạng tỷ lệ mắc và hệ thống hóa các yếu tố nguy cơ theo tiêu chuẩn chẩn đoán chuẩn mực của Bộ Y tế (2018), đồng thời làm sáng tỏ mối liên quan giữa sự biến thiên nồng độ adiponectin và leptin huyết thanh với nguy cơ mắc bệnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ công tác sàng lọc, dự phòng và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe thai kỳ.